ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VŨ THANH BÌNH
VẤN ĐỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC,
CAO ĐẲNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số : 62 22 80 05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS. TS. Phạm Ngọc Anh
2. PGS. TS. Dương Văn Thịnh
HÀ NỘI - 2012 3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ
TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ
GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ 23
4
2.2.4. Mâu thuẫn giữa yêu cầu cao về ý thức tự giáo dục, tự bồi dưỡng, rèn luyện
nâng cao trình độ với sự hạn chế về ý thức tự học, tự bồi dưỡng cũng như sự
nỗ lực vươn lên của một bộ phận giảng viên lý luận chính trị 120
Chương 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ
GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
CAO ĐẲNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 125
3.1. Những quan điểm cơ bản nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị 125
3.1.1. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị phải gắn với xây
dựng môi trường kinh tế - xã hội, văn hóa lành mạnh 125
3.1.2. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị phải trên cơ sở một
chiến lược lâu dài, song có lộ trình, bước đi phù hợp và những khâu then chốt,
đột phá 129
3.1.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị phải trên cơ sở đảm
bảo sự cân đối trong cơ cấu, kết hợp hài hòa giữa năng lực chuyên môn, trình độ
được đào tạo và phẩm chất chính trị, đạo đức 131
3.1.4. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị phải gắn với khắc
phục những hạn chế trong nhận thức của các cơ quan quản lý giáo dục, các cấp ủy
Đảng và chính quyền về vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị
và của chính bản thân đội ngũ 134
3.2. Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị 137
3.2.1. Nâng cao bản lĩnh chính trị, bản lĩnh nghề nghiệp, tư tưởng, đạo đức cho đội
ngũ giảng viên lý luận chính trị 137
3.2.2. Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn giảng viên lý luận chính trị theo
hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa 142
3.2.3. Đổi mới, hoàn thiện cơ chế chính sách, tạo động lực khuyến khích đội ngũ
giảng viên lý luận chính trị không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, tu
dưỡng đạo đức nghề nghiệp 147
3.2.4. Phát huy và nâng cao tính tích cực, tính tự giác của bản thân đội ngũ giảng viên
triển kinh tế tri thức cùng với quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
đang tạo những thời cơ, những vận hội to lớn cho các quốc gia lớn, nhỏ trên thế
giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh đó, không ít những khó khăn,
thách thức cũng đang trở thành những rào cản to lớn, nếu các nước không tìm
ra cách thức nhanh chóng vượt qua. Nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức - quá
trình đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó trực tiếp là nguồn lực con người.
Nhận thức sâu sắc điều đó, trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng CSVN đã
đặt con người ở vị trí trung tâm. Trong chiến lược phát triển con người, Đảng
khẳng định: phát triển GDĐT cùng với phát triển khoa học - công nghệ là quốc
sách hàng đầu. GDĐT, đặc biệt giáo dục bậc cao (ĐH, CĐ) là chìa khoá mở
cửa tiến tới tương lai; đầu tư cho GDĐT là đầu tư cho sự phát triển.
Trên cơ sở nhận thức vai trò, tầm quan trọng của GDĐT, Hội nghị
Trung ương 2 (Khóa VIII) của Đảng đã xác định nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản
của GDĐT là phải xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý
tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có đạo đức trong sáng, có nǎng lực tiếp thu
tinh hoa vǎn hoá nhân loại, có tư duy sáng tạo, làm chủ tri thức khoa học và
công nghệ hiện đại, có kỹ nǎng thực hành giỏi, có sức khoẻ… Đó là những
con người, những thế hệ phát triển toàn diện, “vừa hồng, vừa chuyên”.
Đặt con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực trong quá trình đổi mới
đất nước, Đảng luôn xác định vấn đề mấu chốt của công cuộc đổi mới là phải
kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác-
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới không phải từ bỏ mục tiêu CNXH,
mà làm cho CNXH được nhận thức đúng đắn và được xây dựng hiệu quả. Đổi
mới không phải xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển
chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng
7
của Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng.
Kiên định những mục tiêu nói trên, vấn đề củng cố nền tảng tư tưởng
xã hội ngày càng vững vàng hơn trở nên cấp thiết, trong đó, giáo dục thế hệ
trong các trường đại học, cao đẳng ở nước ta hiện nay” làm đề tài nghiên
cứu của luận án tiến sĩ Triết học, chuyên ngành chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
2. Tình hình nghiên cứu vấn đề
Xây dựng đội ngũ giảng viên LLCT nói chung, chú trọng nâng cao chất
lượng đội ngũ nói riêng là một vấn đề được giới nghiên cứu quan tâm và tiếp
cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Những năm qua, tuy chưa có một công
trình chuyên luận nào công bố về vấn đề này, song có khá nhiều các công
trình nghiên cứu có liên quan. Có thể phân loại thành những nhóm công trình
như sau:
Các công trình nghiên cứu về lý luận chính trị
“Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa" (1991), Thái Ninh -
Hoàng Chí Bảo, Nxb Sự thật, Hà Nội; “Thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại
hội VIII của Đảng vững bước tiến vào thế kỷ XXI” (1998), Lê Khả Phiêu, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Đổi mới bước phát triển tất yếu đi lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam” (1999), Nguyễn Khánh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
“Giáo dục tư tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ Việt Nam trong tình hình mới”
(2000), Phạm Đình Nghiệp, Nxb Thanh niên; “Ổn định chính trị - xã hội
trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam” (2004), Nguyễn Văn Cư, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội; “Đổi mới sâu rộng, phát triển nhanh và bền vững ở Việt
Nam” (2006), Tập I, II, Phan Văn Khải, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
“Dân chủ trong nghiên cứu khoa học xã hội - nhân văn - Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn” (2010), GS. TS. Hoàng Chí Bảo chủ biên, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội; "Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-
Lênin" (2010), GS. TS. Hoàng Chí Bảo chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội; "Luận cứ và giải pháp phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở
nước ta thời kỳ đổi mới" (2010), GS. TS. Hoàng Chí Bảo chủ biên, Nxb
9
Chính trị quốc gia, Hà Nội; "Văn hoá và con người Việt Nam trong đổi mới và
các tác giả là sự trình bày về phát triển bản chất khoa học và cách mạng của
chủ nghĩa Mác-Lênin trong những điều kiện lịch sử mới của thế giới đương
đại; thế giới đương đại gắn liền với chủ nghĩa Mác-Lênin và CNXH khoa học.
Sách "Luận cứ và giải pháp phát triển xã hội và quản lý phát triển xã
hội ở nước ta thời kỳ đổi mới" là cuốn sách lý luận được tổng kết trên cơ sở
thực tiễn Việt Nam qua 25 năm đổi mới. Giáo sư Hoàng Chí Bảo và các tác
giả đã đưa ra những vấn đề về phương pháp luận và cơ sở lý luận của phát
triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới;
một số lý thuyết về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trên thế giới.
Các tác giả đã phân tích một số mô hình phát triển của Đức, Nhật Bản, Thuỵ
Điển; quan điểm phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của Ngân hàng
thế giới, góp phần làm sáng rõ về biến đổi xã hội và quản lý phát triển xã hội
trên một số lĩnh vực chủ yếu ở nước ta, đưa ra quan điểm định hướng về hệ
giải pháp phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam hiện nay.
Cuốn sách "Văn hoá và con người Việt Nam trong đổi mới và hội nhập
quốc tế" là một công trình khoa học công phu, được giới nghiên cứu đánh giá
cao. Trong cuốn sách, GS. Hoàng Chí Bảo không thuyết trình một cách khô
khan mang tính minh hoạ những vấn đề về văn hoá và con người Việt Nam, mà
đi vào phân tích sâu sắc những vấn đề về văn hoá Việt Nam trong đổi mới và
hội nhập quốc tế, khẳng định văn hoá dân tộc Việt Nam là cội nguồn, nền tảng,
mục tiêu của dân tộc ta trong xây dựng nền văn hoá mới, con người mới, bảo
đảm cho dân tộc Việt Nam có vị thế xứng đáng trong cộng đồng văn hoá nhân
loại. Bằng những phân tích, luận lý sắc sảo, GS. Hoàng Chí Bảo nhấn mạnh
đến yếu tố con người sáng tạo ra văn hoá với tư cách là chủ thể của hoạt động
lịch sử và đến lượt nó, văn hoá góp phần phát triển và hoàn thiện con người,
làm cho hoàn cảnh ngày càng có tính người hơn như C.Mác đã từng nói. Đặc
biệt, triết lý nhân sinh và hành động thấm nhuần tính văn hoá đạo đức trong
ứng xử, cơ sở khách quan quy định bản sắc đa dạng của các nền văn hoá; vấn
đề tiếp xúc, giao lưu, đối thoại giữa các nền văn hoá; sự thống nhất giữa mục
12
con đường cải tổ" (Tạp chí Người Cộng sản, số 16, tháng 11-1987) của nhà
nghiên cứu O.Bôgômôlốp đã cho một cái nhìn khái quát về quá trình hình,
phát triển và bước đầu cải tổ của hệ thống XHCN. Viết về dân chủ,
O.Bôgômôlốp coi sự phát triển chủ nghĩa đa nguyên chính trị như một giá trị
của sự phát triển hệ thống chính trị của cơ quan dân cử trong CNXH.
Đây là những nghiên cứu xuất bản dưới thời Liên Xô cũ và sau khi
Liên Xô sụp đổ, có những giá trị to lớn trong nghiên cứu so sánh các vấn đề
LLCT trong tiến trình hình thành, đổi mới và phát triển.
Ở Trung Quốc, một số học giả đã công bố một loạt tác phẩm nghiên
cứu LLCT như “Tổng quan lý luận về dân chủ và dân chủ hóa" (Tạp chí
Thông tin lý luận, số 12 -1990); "Cuộc đọ sức giữa hai chế độ xã hội - bàn về
chống diễn biến hòa bình" (1994) của Cốc Văn Khang, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội; "Cải cách thể chế chính trị" (1996), Tập thể tác giả (sách tham
khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, "Kiên trì và phát triển dân chủ xã hội
chủ nghĩa" (1997), Lý Lâm và Ngô Ngọc Trương (tài liệu phục vụ nghiên
cứu), Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội… Những công trình này chủ
yếu bàn tới việc xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền,
thực hiện dân chủ XHCN. Khi bàn tới dân chủ, những nhà nghiên cứu Trung
Quốc luôn khẳng định bản chất giai cấp của dân chủ, trực tiếp là dân chủ trên
lĩnh vực chính trị; khẳng định vai trò của Đảng Cộng sản trong hệ thống chính
trị XHCN. Mặt khác, các tác giả cũng chỉ rõ những thiếu sót trong tổ chức,
vận hành hệ thống chính trị đã làm ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của Đảng,
làm xuất hiện hàng loạt nguy cơ đối với thực hành dân chủ và từ đó xuất hiện
nguy cơ đối với sự tồn tại của cả hệ thống chính trị.
Sẽ là thiếu sót nếu không kể đến một số công trình nghiên cứu của các học
giả phương Tây như: “Việt Nam từ năm 1975-1995 (1997), Jacques Boudet, P.
Larousse; “Việt Nam thời kỳ mới” (2001), Ralph Smith. N.Y, Cornell
University Press; “Việt Nam: Xã hội, kinh tế, môi trường” (2003), Benedict J.
giáo dục LLCT cho cán bộ, đảng viên trong điều kiện hiện nay. Các tác giả đã
tập trung phân tích những khó khăn, thuận lợi tác động đến công tác giáo dục
14
LLCT cho cán bộ, đảng viên; thực trạng giáo dục LLCT trong thời gian qua;
trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện tốt yêu cầu giáo dục lý
luận trong tình hình mới. Các công trình này tuy không đề cập trực tiếp đến đội
ngũ giảng viên LLCT, song những kiến giải về công tác giáo dục LLCT, những
giải pháp thiết thực về đào tạo và đào tạo lại đội ngũ làm công tác LLCT là
những gợi mở tốt cho tác giả luận án.
- Các công trình nghiên cứu về nâng cao chất lượng dạy và học các
môn lý luận chính trị
Đề tài KX 10-08, “Đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học
Mác-Lênin ở Việt Nam - Những vấn đề chung”, Hà Nội, 2002, do GS.TS
Nguyễn Hữu Vui, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học
Quốc gia Hà Nội làm chủ nhiệm là một trong những đề tài đầu tư khá công
phu về đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin. Nghiên
cứu đổi mới phương pháp dưới một góc độ hẹp - “giảng dạy” (phân biệt với
“dạy và học”), đề tài trình bày một cách tổng quát về đội ngũ giảng viên Mác-
Lênin, về những phương pháp giảng dạy truyền thống thường gặp ở đội ngũ
và khẳng định: muốn đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác-
Lênin một cách hiệu quả, vấn đề phải được bắt đầu từ chính đổi mới tư duy,
nhận thức của đội ngũ giảng viên về phương pháp giảng dạy, về sự cần thiết
phải đổi mới phương pháp. Muốn vậy, cần thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao
năng lực nhận thức, năng lực chuyên môn cho đội ngũ. Đó cũng là một trong
những phương thức nâng cao chất lượng đội ngũ, từ đó, có tác động tích cực
ngược lại đối với đổi mới phương pháp giảng dạy.
- Ban Khoa giáo Trung ương, Đề tài nghiên cứu khoa học, mã số
KHBĐ-2003-20:“Rà soát và đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung một số nội dung
giáo dục đạo đức công dân, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
yếu tố quan trọng, trực tiếp tác động đến chất lượng quá trình dạy và học.
Nhóm nghiên cứu cho rằng, bên cạnh hàng loạt các ưu điểm về gia tăng học
hàm, học vị trong đội ngũ, thì hạn chế lớn nhất của một bộ phận của đội ngũ
này là sức ỳ lớn, chậm đổi mới tư duy, ngại trau dồi kiến thức, ít chịu tìm tòi
16
phương pháp giảng dạy phù hợp với những đối tượng khác nhau, chậm đổi
mới phương pháp giảng dạy. Trong quá trình dạy và học, hiện tượng đọc -
chép vẫn là hiện tượng phổ biến. Đặc biệt, tâm lý coi các môn học Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là môn học phụ, nhất là trong các trường kỹ
thuật cũng là một trong những nguyên nhân cản trở đổi mới phương pháp.
Bên cạnh đó, đề tài cũng chỉ rõ rằng, ở một bộ phận hăng hái đổi mới phương
pháp, thì vẫn có nhận thức, quan niệm chưa đúng về phương pháp, đồng nhất
phương pháp với việc ứng dụng kỹ thuật soạn thảo và trình chiếu PowerPoint
(kỹ thuật PowerPoint).
- Cụm đề tài nghiên cứu khoa học về đổi mới phương pháp giảng dạy,
học tập các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong trường
ĐH, CĐ các khối ngành khác nhau:
+ Trường Đại học Nông nghiệp I (2006), Đề tài: “Đổi mới phương
pháp giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
các trường đại học, cao đẳng khối ngành Nông - Lâm - Ngư”.
+ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (2006), Đề tài: “Đổi mới phương
pháp giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
các trường đại học, cao đẳng khối ngành Sư phạm”.
+ Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (2006), Đề tài:“Đổi mới phương
pháp giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
các trường đại học, cao đẳng khối ngành kỹ thuật”.
+ Đại học Quốc gia Hà Nội (2006), Đề tài: “Đổi mới phương pháp
giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh các
trường đại học, cao đẳng khối ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn”.
quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khoa
học Mác-Lênin - kiến nghị và giải pháp”. Với mục tiêu đưa ra những giải
pháp nhằm đổi mới đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên các môn khoa học
Mác-Lênin, đề tài đã làm rõ yêu cầu nâng cao chất lượng giảng dạy các môn
khoa học Mác-Lênin, đánh giá thực trạng của đội ngũ giảng viên các môn
khoa học Mác-Lênin trong các trường ĐH, CĐ của cả nước, chỉ ra ưu điểm,
18
hạn chế của đội ngũ, nguyên nhân hạn chế. Một trong những hạn chế căn bản
của đội ngũ giảng viên các môn khoa học Mác-Lênin mà đề tài chỉ ra là phần
lớn trong các trường ĐH, CĐ, việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học tách rời
nhau. Các giảng viên, nhất là giảng viên trẻ hầu như không tham gia nghiên
cứu khoa học và điều đó ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng giảng dạy, làm
cho bài giảng thiếu những kiến thức cập nhật, trở nên khô khan, thiếu sức
thuyết phục. Đề tài cũng liệt kê những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu
trên và tập trung phân tích những nguyên nhân chủ yếu như kinh phí nghiên
cứu khoa học của các trường hạn hẹp, Ban Giám hiệu một số trường chưa
thực sự quan tâm đến các môn khoa học Mác-Lênin…
Nhìn chung, những đánh giá mạnh dạn mà nhóm tác giả nêu lên đã gợi
mở một hướng tiếp cận về một hiện tượng khá phổ biến trong thực trạng đội
ngũ giảng viên các môn khoa học Mác-Lênin, song ít được chú ý tới. Đó cũng
là một trong những định hướng nghiên cứu, mà khi giải quyết các vấn đề
thuộc về nội dung của luận án chúng tôi hết sức chú trọng.
- Đề tài KX 10-09D do PGS,TS. Tô Huy Rứa chủ trì (2004): “Đổi mới
nội dung, chương trình đào tạo giảng viên lý luận chính trị các trường đại
học, cao đẳng”. Nhóm nghiên cứu đã khảo sát thực trạng đội ngũ giảng viên
LLCT ở các trường đại học lớn ở các khu vực trung tâm (đặc biệt là ở Thủ đô
Hà Nội); phân tích các chương trình đào tạo giảng viên LLCT của một số
trường đại học, học viện khu vực Hà Nội; đồng thời, đánh giá khái quát năng
lực đào tạo lý luận Mác-Lênin của các trường nêu trên; lấy đó làm cơ sở đề
những kết luận cơ bản sau:
- Trước chúng tôi và cùng với chúng tôi đã và đang có những nghiên
cứu về vấn đề chất lượng đội ngũ giảng viên các môn khoa học Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, các môn LLCT trong các trường ĐH, CĐ ở nước ta hiện
nay. Do vậy, các công trình nghiên cứu về đội ngũ giảng viên các môn LLCT
nói chung tương đối đa dạng và có những đóng góp nhất định, đáng ghi nhận.
Ở những khía cạnh khác nhau, những công trình nghiên cứu đó đã cung cấp
kiến thức, những gợi mở cần thiết, quan trọng cho tác giả luận án đi sâu
20
nghiên cứu vấn đề. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã liệt kê là những
tư liệu quý, những cơ sở quan trọng để tác giả luận án tham khảo, kế thừa
trong quá trình hoàn thành mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án.
- Các nhà nghiên cứu đi trước phần lớn và chủ yếu nghiên cứu về đội
ngũ giảng viên các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - có
nghĩa là nghiên cứu về đội ngũ trong trạng thái khá ổn định khi các giảng viên
đảm nhận giảng dạy theo chương trình chưa tích hợp năm môn LLCT thành
ba môn, trong đó có môn mới là môn “Đường lối cách mạng của Đảng Cộng
sản Việt Nam”.
- Do mỗi công trình có mục tiêu nghiên cứu khác nhau, cho nên vấn đề
chất lượng đội ngũ giảng viên các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng được trình
bày ở những mức độ nông, sâu khác nhau. Vẫn tồn tại rất nhiều khoảng trống
trong nghiên cứu, hoặc có rất nhiều nội dung nghiên cứu mới chỉ được đề cập
khá sơ sài, ở mức độ đặt vấn đề; hoặc có những nội dung nghiên cứu chưa
được đặt trong một hệ thống, một chỉnh thể để nhận biết những mối quan hệ
bản chất, chi phối, quy định, ràng buộc
- Trong các nghiên cứu nêu trên, cho đến nay, chưa có một công trình
nào nghiên cứu đầy đủ, hệ thống, toàn diện về vấn đề chất lượng đội ngũ
giảng viên các môn LLCT trong các trường ĐH, CĐ ở nước ta như đề tài luận
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối chủ trương của
Đảng, Nhà nước về GDĐT, về đội ngũ giảng viên, về chất lượng đội ngũ
giảng viên; về giảng dạy LLCT …
Luận án được triển khai, nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy
vật biện chứng và các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp lịch sử -
logíc; phương pháp trừu tượng - cụ thể; phương pháp phân tích - tổng hợp;
phương pháp so sánh và hệ thống hoá. Ngoài ra, các phương pháp khác như
22
đối chiếu, thống kê, điều tra xã hội học cũng được vận dụng phù hợp với
từng nội dung của luận án.
6. Đóng góp khoa học của luận án
- Luận án góp phần làm rõ những khái niệm cơ bản liên quan đến chất
lượng đội ngũ giảng viên LLCT; tiêu chí xác định chất lượng và những yêu
cầu về chất lượng đội ngũ giảng viên LLCT các trường ĐH, CĐ ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay.
- Đánh giá một cách khoa học thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên
LLCT trong các trường ĐH, CĐ ở nước ta. Dựa trên những phân tích lý luận
và thực tiễn, luận án nêu lên một số phương hướng, giải pháp, nhằm nâng cao
chất lượng đội ngũ giảng viên LLCT trong các trường ĐH, CĐ ở nước ta thời
gian tới.
- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu hoặc phục vụ công tác
giảng dạy cho những vấn đề có liên quan.
- Kết quả nghiên cứu của luận án cũng có thể là căn cứ cho công tác chỉ
đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý xây dựng chương trình, kế hoạch định kỳ
bồi dưỡng giảng viên LLCT, đáp ứng yêu cầu phát triển đội ngũ giảng viên
các môn LLCT trong các trường ĐH, CĐ ở Việt Nam từ năm 2011 đến năm
2020.
Quốc, lúc đầu ở Việt Nam, nhân dân cũng gọi người làm nghề dạy học là “Sư”
và trân trọng "Sư" - “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Sau khi có chữ Nôm, nhân
dân gọi những người làm nghề dạy học bằng "Thầy" - thầy Đồ, thầy Nho, đến
khi tiếp xúc với văn minh phương Tây, thì gọi là “Thầy giáo”. Trong nhận thức
và trong đời sống tinh thần của nhân dân Việt Nam, nhà giáo là một chức danh
xã hội được xếp đầu tiên và không hàm nghĩa giới tính. Theo Từ điển Tiếng
Việt, nhà giáo là “những người làm nghề dạy học” [113, tr.516]. Để làm rõ hơn
khái niệm nhà giáo, đồng thời quy định địa vị pháp lý của nhà giáo, tại Điều 70
của Luật Giáo dục nước CHXHCN Việt Nam đã đưa ra định nghĩa pháp lý đầy
đủ về nhà giáo: “Nhà giáo là những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục
trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác” [89]. Trong hệ thống giáo dục quốc
dân, “nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo
24
dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo
dục trong hệ thống giáo dục nói chung được gọi là nhà giáo; ở cơ sở giáo dục
đại học gọi là giảng viên” [89]. Như vậy, “giảng viên là khái niệm chỉ những
người làm công tác giảng dạy, nghiên cứu trong các học viện, các trường đại
học, cao đẳng”.
Hiện nay, theo quan niệm của giáo dục hiện đại, khái niệm "giảng viên"
cũng như vai trò giảng viên đã được mở rộng hơn, theo đó, giảng viên thực
hiện vai trò trong quá trình đào tạo:
1). Vai trò của người thúc đẩy: Đây là vai trò rất quan trọng của giảng
viên, phù hợp với nguyên tắc lấy người học làm trung tâm, trong đó nhiệm vụ
của giảng viên là gợi mở, khuyến khích, giúp đỡ, thúc đẩy sinh viên từng
bước tự nhận thức, từ đó rút ra phương pháp và những kiến thức cần thiết áp
dụng trong thực tiễn, giải quyết công việc hiệu quả.
Để làm tốt vai trò của người thúc đẩy, giảng viên phải có phương pháp
tốt, nhạy bén nghề nghiệp, nắm bắt được khả năng, đặc điểm tâm lý, điểm
mạnh cũng như hạn chế của người học, từ đó tìm ra những điểm mấu chốt,
trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành
kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính"
[75, tr.233]. Từ khái niệm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát về lý luận ở
mức độ sâu sắc hơn: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài
người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá
trình lịch sử” [77, tr.497]. Định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh không
những làm sáng tỏ quan niệm triết học về lý luận mà còn làm sáng tỏ nguồn
gốc, cách thức hình thành lý luận. Về thực chất, lý luận chính là hệ thống
những tri thức đã được khái quát tạo ra một quan niệm hoàn chỉnh về các quy
luật và mối liên hệ cơ bản của hiện thực. Để tồn tại và phát triển, con người
buộc phải tìm hiểu thế giới xung quanh, phải có tri thức nhất định về nó. Tuy
nhiên, những tri thức đó không phải tự nhiên mà có, nó chỉ được hình thành,
được thu nhận thông qua hoạt động thực tiễn (qua cải tạo thế giới tự nhiên,