ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TRẦN THANH GIANG
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CAO
ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: GS.TS. Hoàng Chí Bảo
Hà nội - 2006
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNTB:
Chủ nghĩa tư bản
CNXH:
Chủ nghĩa xã hội
CHXHKH:
Chủ nghĩa xã hội khoa học
CSCN:
GS:
Giáo sư
HSSV:
Học sinh sinh viên
LLCT:
Lý luận chính trị
Nxb:
Nhà xuất bản
PGS:
Phó giáo sư
TBCN:
Tư bản chủ nghĩa
TS:
Tiến sỹ
ThS:
10
Vai trò của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong các trường đại học,
cao đẳng..................................................................................................
22
Chương 2. Thực trạng xây dựng đội ngũ giảng viên lý luận chí nh trị các
trường đại học, cao đẳng trên địa bàn Hà Nội hiện
nay.........................
2.1.
2.2.
Đặc điểm của địa bàn Hà Nội đối với sự phát triển của đội ngũ giảng
viên lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng......................
nay.............
3.2.
37
Thực trạng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị các trường đại học,
cao đẳng.............................................................................................. 44
Chương 3. Yêu cầu và giải pháp xây dựng đội ngũ giảng viên lý luận chí nh
trị các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn Hà Nội hiện
3.1.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thắng lợi của cách mạng Việt Nam hơn 70 năm qua đã khẳng định chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có vị trí nền tảng tư tưởng và là kim
chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và nhân dân ta, mà không có một luận
thuyết nào có thể thay được.
Ngày nay, để tiến tới mục tiêu xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, trong bối cảnh quốc tế có nhiều
phức tạp, nhiệm vụ làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là
nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hoạt động của toàn Đảng, toàn dân là một
nhiệm vụ hết sức quan trọng. Đó còn là một cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư
tưởng để khẳng định vị trí, sức sống của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh trong đời sống xã hội.
Gần đây, lợi dụng sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và
Đông Âu, các thế lực thù địch đang điên cuồng chống phá sự nghiệp cách
mạng của chúng ta bằng nhiều hình thức với những chiêu bài, thủ đoạn thâm
độc, hòng làm tan rã hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, xoá bỏ chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm mất niềm tin của nhân dân với Đảng,
với con đường cách mạng chọn.
Hội nghị Trung ương lần thứ 12 khoá IX đã nhất trí đánh giá tổng quát
tình hình tư tưởng trong Đảng và trong nhân dân ta hiện nay cơ bản vẫn diễn
ra như nhận định của Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX về nhiệm vụ chủ yếu
của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới. Đó là: “Mặt tích cực và
tiêu cực đan xen nhau, trong đó mặt tích cực là cơ bản, đã và đang quyết định
chiều hướng phát triển của xã hội, là nhân tố quan trọng tạo nên thắng lợi của
công cuộc đổi mới đất nước; tuy vậy, mặt tiêu cực có lúc, có nơi cũng rất
nghiêm trọng, thực sự là nguy cơ tiềm ẩn, liên quan đến sự mất còn của Đảng
niên cách mạng cho đất nước, xứng đáng với vị thế và trọng trách của mình ở
4
Thủ đô anh hùng. Tuy nhiên, hiện nay đội ngũ GVLLCT trong các trường ĐH
& CĐ trên địa bàn Hà Nội còn có những bất cập, chất lượng và hiệu quả
giảng dạy chưa cao, thiếu hụt về số lượng, nhất là thiếu những nhà khoa học
đầu ngành. Đội ngũ cán bộ có trình độ cao phần đông đều đã lớn tuổi, đang có
nguy cơ hụt hẫng nghiêm trọng lực lượng kế cận,... Trong thời gian tới, khi
quy mô giáo dục ĐH tăng lên, hệ thống các trường ĐH & CĐ tiếp tục được
mở rộng và đặc biệt do nhu cầu phải nâng cao chất lượng đào tạo bậc đại học
thì đội ngũ GVLLCT nước ta nói chung, ở địa bàn Hà Nội nói riêng càng cần
phải tăng nhanh về số lượng, nâng cao chất lượng chuyên môn và nghiệp vụ.
Xuất phát từ thực tế nêu trên, việc xây dựng đội ngũ GVLLCT ở các
trường ĐH & CĐ trên địa bàn Hà Nội hiện nay là vấn đề cấp thiết được đặt
ra. Bởi vậy, chúng tôi đã chọn vấn đề nghiên cứu này làm đề tài luận văn thạc
sĩ Triết học, chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đội ngũ GVLLCT là một bộ phận cấu thành của tầng lớp trí thức Việt
Nam, một bộ phận quan trọng cùng với giai cấp công nhân và nông dân là lực
lượng nòng cốt trong sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam. Đã có
khá nhiều học giả, nhà khoa học xem xét, nghiên cứu vị trí vai trò của đội ngũ
này trên các bình diện khác nhau. Như: Phạm Tất Dong (chủ biên), “Trí thức
Việt Nam thực tiễn và triển vọng”, Nxb. CTQG, Hà Nội, 1995; Đỗ Mười, “Trí
thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước”, Nxb. CTQG, Hà Nội,
1995; Đặng Ngọc Dinh (chủ biên), “Thực trạng đội ngũ trí thức khoa học và
công nghệ trong biên chế Nhà nước”, Hà Nội,1998; Các tác giả: Nguyễn Duy
Thông, Vũ Cao Đàm, Nguyễn Trọng Chuẩn, “Chủ nghĩa xã hội và trí thức”,
Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1984; Phan Thanh Khôi, “Đội ngũ trí thức, chuyên gia
tình hình hoạt động và đề xuất những giải pháp mang tính định hướng, vĩ mô
để xây dựng và phát triển đội ngũ này.
6
Các công trình nghiên cứu trên đây, giúp chúng tôi có cái nhìn tổng thể
vị trí vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam nói chung và đội ngũ GVLLCT
nói riêng làm sở cho nghiên cứu mới: “Xây dựng đội ngũ GVLLCT các
trường ĐH & CĐ trên địa bàn Hà Nội hiện nay” nhằm góp phần xây dựng
hoàn thiện đội ngũ này ở một địa bàn quan trọng là thủ đô Hà Nội. Dưới góc
độ chuyên ngành CNXHKH, luận văn tập trung khai thác khía cạnh đội ngũ
GVLLCT và không trùng lặp với các công trình đã được công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích của đề tài:
Luận văn góp phần làm rõ thực trạng đội ngũ GVLLCT trong các
trường ĐH & CĐ trên địa bàn Hà Nội hiện nay. Từ đó, đề xuất những giải
pháp cơ bản để xây dựng, phát triển đội ngũ này, góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục LLCT, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH thủ đô và
đất nước giai đoạn hiện nay.
* Nhiệm vụ của đề tài:
Để đạt mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chủ
yếu sau đây:
- Làm rõ các khái niệm LLCT, đội ngũ GVLLCT, đặc điểm và vai trò
của họ.
- Chỉ ra thực trạng, nguyên nhân của những mặt mạnh, mặt yếu của đội
ngũ này trong các trường ĐH & CĐ ở địa bàn Hà Nội.
- Đề xuất những giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ GVLLCT trong các
trường ĐH & CĐ trên địa bàn Hà Nội hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Cơ sở thực tiễn của luận văn là tình hình đội ngũ trí thức nói chung và
GVLLCT các trường ĐH & CĐ trên địa bàn Hà Nội nói riêng; tình hình giáo
dục ĐH & CĐ nói chung và tình hình giảng dạy các môn LLCT ở các trường
ĐH & CĐ trên địa bàn Hà Nội nói riêng.
- Thực hiện luận văn, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp những tài liệu có được gắn với thống kê, so sánh, đối chiếu làm rõ
thực trạng đội ngũ GVLLCT. Ngoài ra, tác giả luận văn còn sử dụng một số
9
phương pháp khác, như: hệ thống hóa, khái quát hoá; lôgíc - lịch sử và
phương pháp khác để làm rõ vấn đề nghiên cứu.
6. Đóng góp của luận văn
* Đóng góp về mặt khoa học:
Góp phần xác định rõ khái niệm, vị trí, vai trò, đặc điểm và hoạt động
của của đội ngũ GVLLCT trong các trường ĐH & CĐ trên địa bàn Hà Nội.
Góp phần làm rõ thực trạng của đội ngũ GVLLCT các trường ĐH &
CĐ trên địa bàn Hà Nội trong tình hình hiện nay.
Đề xuất được những giải pháp chủ yếu xây dựng, phát triển đội ngũ
GVLLCT trong giai đoạn hiện nay.
* Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:
Ở mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận văn đem lại một tài
liệu tham khảo cho giảng dạy một số chuyên đề của chuyên ngành CNXHKH
về trí thức, con người, nguồn lực con người.
Luận văn đồng thời là một tài liệu tham khảo cho việc xây dựng kế
hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GVLLCT các trường ĐH & CĐ trên địa
bàn Hà Nội giai đoạn hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
11
chỉ mang tên C.Mác trong khi tên tuổi sự nghiệp và tư tưởng của C.Mác và
Ph.Ăngghen luôn gắn chặt với nhau, từ những ngày đầu các ông bắt đầu tham
gia hoạt động trong phong trào vô sản. Đã có lần Ph.Ăngghen giải thích rõ
điều đó. Ông viết: “Nếu không có Mác thì lý luận thật khó mà được như ngày
nay. Vì vậy, lý luận đó mang tên của Mác là điều chính đáng” [39, tr.428].
Câu nói đó, thể hiện sự khiêm nhường của Ph.Ăngghen đối với C.Mác người bạn vô cùng gắn bó, thân thiết và có ảnh hưởng vô cùng to lớn trong
suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Ph.Ăngghen. C.Mác là một thiên tài
trong sự không tách rời với những cống hiến xuất sắc của Ph.Ăngghen đã làm
nên thiên tài đó. Cũng như vậy, tài năng lỗi lạc kiệt xuất trên nhiều phương
diện của Ph.Ăngghen được hình thành và phát triển trong mối liên hệ mật
thiết với C.Mác. Chủ nghĩa Mác là sản phẩm vĩ đại của trí tuệ nhân loại ở thế
kỷ XIX được xây dựng nên bởi hai người: C.Mác và Ph.Ăngghen - những bộ
óc vĩ đại, những nhân cách vĩ đại của loài người mà tư tưởng của họ có ảnh
hưởng và sức sống bất diệt, vượt qua thử thách của thời gian.
V.Lênin - người đã truyền bá Chủ nghĩa Mác vào nước Nga, đã vận
dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác vào cuối thế kỷ XIX đến những
năm 20 của thế kỷ XX, người đã lãnh đạo thành công cuộc cách mạng Tháng
10 Nga năm 1917, khai sinh ra CNXH hiện thực, vạch ra thời đại mới trong
lịch sử.
Thuật ngữ “Chủ nghĩa Mác-Lênin”, là thuật ngữ chỉ lý luận của Mác,
Ăngghen và Lênin với tư cách là một hệ thống khoa học hoàn chỉnh bao gồm
những quan điểm, nguyên lý về: Triết học, kinh tế, chính trị, văn hoá trên lập
trường và phương pháp duy vật biện chứng sâu sắc và triệt để nhất. Mặt khác,
thuật ngữ “Chủ nghĩa Mác-Lênin” còn bao hàm ý nghĩa nhấn mạnh đến sự
đóng góp, kế tục và phát triển sáng tạo của Lênin vào chủ nghĩa Mác. Trong
tác phẩm “Những vấn đề của chủ nghĩa Lênin” (năm 1924) của I.V.Xtalin
viết: “Chủ nghĩa Lênin là chủ nghĩa Mác trong thời đại chủ nghĩa đế quốc và
13
Chủ nghĩa Mác-Lênin, với tư cách là một khoa học, một hệ thống lý
luận khoa học, nó được hợp thành bởi các bộ phận cơ bản: Triết học MácLênin, Kinh tế chính trị Mác-Lênin và CNXHKH.
Việc nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin có nhiệm vụ cơ bản là:
- Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa MácLênin, chỉ ra các tiền đề về kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học và lý luận cho
sự ra đời của chủ nghĩa Mác-Lênin và ba bộ phận hợp thành chủ yếu của nó;
chỉ ra được sự khác nhau căn bản về nội dung của chủ nghĩa Mác-Lênin với
các học thuyết trước đó mà nó kế thừa; chỉ ra được các giai đoạn phát triển
của nó từ khi ra đời cho đến nay.
- Tiếp tục nghiên cứu để khẳng định những giá trị khoa học bền vững
của chủ nghĩa Mác-Lênin, kế thừa và phát triển những giá trị khoa học đó để
vận dụng phù hợp vào hoàn cảnh cụ thể trong những điều kiện lịch sử mới.
Nhiệm vụ này trước hết thuộc về ba bộ môn khoa học cơ bản hợp thành chủ
nghĩa Mác-Lênin:
Triết học Mác-Lênin “giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
trên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của
tự nhiên, xã hội và tư duy” [27, tr.19].
Kinh tế chính trị học Mác-Lênin nghiên cứu “quan hệ sản xuất xã hội
trong mối liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại với lực lượng sản xuất và kiến
trúc thượng tầng (…), đi sâu vạch rõ bản chất của các hiện tượng và quá trình
kinh tế, để rút ra quy luật chi phối sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng,
tức là rút ra quy luật kinh tế của sự vận động xã hội” [28, tr.29].
Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu “các quy luật chính trị - xã hội
của quá trình phát sinh, hình thành và phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng
sản chủ nghĩa, những nguyên tắc cơ bản, những điều kiện, những con đường
14
15
Từ sự trình bày trên đây, chúng ta có cái nhìn toàn diện về nội dung
giảng dạy LLCT ở các trường ĐH & CĐ. Nội dung đó bao gồm: Ba bộ phận
cấu thành của chủ nghĩa Mác-Lênin, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tư
tưởng Hồ Chí Minh. Tuỳ theo trình độ đào tạo và ngành đào tạo, các môn
LLCT được giảng dạy ở các trường ĐH & CĐ với thời lượng giảng dạy, kết
cấu nội dung và chương trình khác nhau. Tất cả các môn học đó có một tên
gọi chung là các môn LLCT.
Nội dung các môn học đó quy định số lượng, cơ cấu đội ngũ GVLLCT.
Ở đây có một vấn đề về thuật ngữ: Tại sao không dùng khái niệm đội ngũ
giảng viên Mác-Lênin, mà lại dùng khái niệm GVLLCT? Chúng ta biết rằng:
Chính trị là lĩnh vực của các quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp, là phạm
vi hoạt động gắn với quan hệ giữa các giai cấp, các tập đoàn xã hội, hay quốc
gia dân tộc, mà hạt nhân của nó là vấn đề giành, giữ và sử dụng chính quyền
nhà nước. Hoạt động chính trị ở xã hội ta từ khi có sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản và ý thức hệ của giai cấp công nhân đứng trên lập trường của chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hay nói cách khác là lấy chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho
mọi hành động. Như vậy, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ
tư tưởng chính thống cho hoạt động chính trị, là mặt lý luận chung cho hoạt
động chính trị của xã hội ta. Những người giảng dạy, truyền bá hệ tư tưởng đó
cho học sinh, sinh viên được gọi chung là GVLLCT. Khái niệm GVLLCT
còn bao quát cả đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu LLCT trong hệ thống
các trường Đảng, các trường đoàn thể, quân đội ở nước ta.
1.1.2. Quan niệm về đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở các trường
đại học, cao đẳng
Để chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đóng vai trò là nền
Công tác giáo dục LLCT được Đảng ta thường xuyên quan tâm, coi đó
là trọng tâm trong công tác tư tưởng của Đảng. Thực hiện quan điểm đó, giáo
dục LLCT trở thành một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong các trường
17
ĐH & CĐ. Trong các trường ĐH & CĐ giáo dục LLCT được chúng ta đã tiến
hành một cách đồng thời cùng với giáo dục các khoa học chuyên ngành, trau
dồi các tri thức chuyên môn nghề nghiệp cho sinh viên. Mục tiêu giáo dục ở
các nhà trường ĐH & CĐ là đào tạo ra những cán bộ khoa học trẻ không chỉ
giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ mà còn tốt cả về phẩm chất chính trị, tư tưởng
và đạo đức..., đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, theo định
hướng XHCN.
Giáo dục LLCT trong các trường ĐH & CĐ là một quá trình nhằm
trang bị những kiến thức khoa học về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và đường lối chính sách của Đảng,
Nhà nước cho sinh viên. Trên cơ sở đó hình thành thế giới quan, nhân sinh
quan và phương pháp luận khoa học cho sinh viên.
Nhiệm vụ của giáo dục LLCT là nâng cao phẩm chất cách mạng, trình
độ chính trị, năng lực vận dụng lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước vào thực tiễn; năng lực tổ chức và
hoạt động thực tiễn của mỗi người để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Thực tiễn cho thấy, giáo dục LLCT trở thành một bộ phận quan trọng
không thể thiếu trong đào tạo ĐH & CĐ, góp phần đào luyện nhân cách người
cán bộ có trình độ ĐH & CĐ ở nước ta. Để nâng cao chất lượng của giáo dục
LLCT, trước hết và cần phải xây dựng đội ngũ GVLLCT. Đây là quá trình
làm cho đội ngũ này trở thành một lực lượng đủ mạnh theo một phương
hướng nhất định, để đội ngũ đó hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
1.1.3. Đặc điểm của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị các trường
động, gắn bó với các khoa học khác làm cơ sở. Vì vậy, đội ngũ giảng viên này
còn phải có vốn sống thực tế phong phú đa dạng, trình độ học vấn với kiến
thức liên ngành, sâu rộng về nhiều lĩnh vực.
- Hai là, đội ngũ GVLLCT ở các trường ĐH & CĐ có đạo đức cách
mạng, phẩm chất chính trị, bản lĩnh chính trị và khoa học vững vàng.
19
Phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng là một trong những tiêu chuẩn
đòi hỏi mỗi giảng viên trong các trường phải không ngừng nâng cao để trở
thành người giảng viên tốt. Đạo đức cách mạng như Bác Hồ đã dạy: đó là sự
quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đây là điểm cốt lõi
nhất trong đạo đức cách mạng của bất kỳ người cán bộ nào.
Đối với người GVLLCT, đạo đức cách mạng đòi hỏi càng cao hơn, bởi
vì họ không chỉ là giảng viên khoa học, có nhiệm vụ giáo dưỡng cho HSSV
các tri thức khoa học lý luận mà còn là người tuyên truyền chủ trương chính
sách của Đảng, Nhà nước, giảng dạy niềm tin, hình thành lý tưởng, lẽ sống,
chuẩn mực đạo đức cho thế hệ trẻ. Đạo đức cách mạng của người GVLLCT
biểu hiện ở niềm say mê nghề nghiệp - say mê giảng dạy, say mê nghiên cứu;
là sự trung thành với khoa học, ở đây là với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh; là sự vững vàng trên lập trường giai cấp công nhân, tin tưởng
vào con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã chọn. Đạo đức
cách mạng của người GVLLCT vừa chứa đựng cả trí tuệ khoa học, tình cảm
cách mạng, đạo đức phẩm chất và nhân cách đồng thời còn là ý thức và bảo
hành chính trị.
Phẩm chất khoa học và chính trị của người GVLLCT trong các trường
ĐH & CĐ biểu hiện ở sự truyền đạt trung thực, chính xác nội dung LLCT cho
sinh viên; hướng dẫn cho sinh viên phương pháp nhận thức chân lý khoa học,
trên cơ sở đó họ có thể vận dụng sáng tạo lý luận vào đời sống thực tiễn một
đề LLCT, nhất là nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận trong đường
lối đổi mới của Đảng, Nhà nước ta hiện nay. GVLLCT trong các trường ĐH
& CĐ phải là những nhà khoa học gắn liền công tác giảng dạy với công tác
nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, do sự gắn bó giữa trí dục và đức dục, bản thân
hoạt động giảng dạy LLCT đã mang tính giáo dục, tuyên truyền nền tảng tư
tưởng của giai cấp công nhân, của Đảng Cộng sản Việt Nam, nên đội ngũ
GVLLCT không chỉ là những nhà giáo, những nhà khoa học, mà họ còn là
chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng chính trị, nhất là trong tình hình
21
hiện nay. Cùng với đó, GVLLCT còn có nhiệm vụ làm công tác tư tưởng,
chính trị trong cán bộ, giáo viên, công nhân viên và sinh viên các trường ĐH
& CĐ thông qua các phong trào của nhà trường. Kết hợp hoạt động chuyên
môn với hoạt động chính trị - xã hội, thể hiện mình là nhà chính trị.
Đội ngũ Giảng viên LLCT vừa là nhà giáo dục, nhà khoa học, đồng
thời là nhà chính trị đó là đặc điểm nổi bật nhất của đội ngũ này so với giảng
viên các chuyên ngành khác trong các trường ĐH & CĐ. Cần lưu ý là: Đã là
nhà giáo, nhà khoa học trong các trường ĐH & CĐ thì bất luận ở lĩnh vực
chuyên môn nào (kể cả khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội
và nhân văn…) người thầy giáo cũng phải chú trọng giáo dục đạo đức, rèn
luyện nhân cách cho sinh viên. Là trí thức cách mạng, họ càng phải không
ngừng rèn luyện trong thực tiễn, gắn bó mật thiết với sự nghiệp cách mạng
của Đảng, của dân tộc và nhân dân. Do đó, họ càng là nhà chính trị. Song
những tố tất chất này phải được kết hợp nhuần nhuyễn, não luyện nhất ở
người GVLLCT.
- Bốn là, đội ngũ GVLLCT có đối tượng sinh viên thuộc nhiều chuyên
ngành khác nhau:
Trong chương trình đào tạo ở các trường ĐH & CĐ, các môn LLCT là
trường đại học, cao đẳng
Đội ngũ GVLLCT góp một phần quan trọng vào việc thực hiện mục
tiêu giáo dục và đào tạo của các trường đại học cao đẳng. Qua nghiên cứu
hoạt động của đội ngũ GVLLCT ở các trường ĐH & CĐ, chúng ta có thể thấy
rõ vai trò của họ được thể hiện trên những khía cạnh sau:
1.2.1 Giảng dạy các môn lý luận chính trị
Là người thầy giáo, người GVLLCT, trước hết có vai trò tổ chức hướng
dẫn sinh viên tiếp thu, nắm vững những tri thức cơ bản của các môn học.
- Thứ nhất: Giúp sinh viên tiếp thu các kiến thức cơ bản về các môn
học LLCT theo chương trình đào tạo ở hệ ĐH & CĐ.
23
Ở nước ta hiện nay, nội dung giáo dục LLCT cho sinh viên các trường
ĐH & CĐ bao gồm: Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin với 3 bộ
phận hợp thành là Triết học Mác-Lênin, Kinh tế chính trị học Mác-Lênin và
Chủ nghĩa xã hội khoa học; Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tư tưởng Hồ
Chí Minh và tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Đó là
những nội dung bắt buộc được thể hiện trong mục đích đào tạo, dạy học, được
thể hiện cụ thể trong chương trình môn học, chương trình đào tạo ở các
chuyên ngành đào tạo ĐH & CĐ.
Trong giáo dục LLCT, lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin được coi là
nội dung cơ bản và quan trọng nhất. Chủ nghĩa Mác-Lênin vừa là bộ phận
hợp thành vừa là cơ sở lý luận và phương pháp luận của giáo dục LLCT, có
tác động trực tiếp đến việc hình thành thế giới quan, nhân sinh quan và
phương pháp luận cho sinh viên. Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết, là hệ
thống các quan điểm triết học, kinh tế, chính trị, xã hội hoàn chỉnh, luôn được
bổ sung và phát triển cùng với thực tiễn. Do đó, giáo dục chủ nghĩa Mác Lênin cho sinh viên chính là quá trình thực hiện việc giảng dạy một cách
đồng bộ ba bộ môn, ba bộ phận hợp thành của nó. Thực tiễn cách mạng