SKKN Một vài kinh nghiệm khi hướng dẫn học sinh lớp 4 tự học - Pdf 26

I/ ĐẶT VẤN ĐỀ:
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”. Trẻ em là nguồn hạnh phúc của gia
đình, tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Gia đình và Xã hội dành cho trẻ những điều kiện sống tốt nhất cho sự phát
triển về thể chất, tinh thần, trí tuệ, tình cảm và đạo đức của trẻ. Vâng, trẻ em ngày
nay đã được tiến lên một vị trí mới trong xã hội, các em được hưởng những điều
kiện ưu tiên để sống và phát triển nên người.
Chúng ta thấy rằng, thai nhi trong bụng mẹ tự phát triển thành em bé. Bé tự
cất tiếng khóc chào đời, tập bú, tập ăn, tập lẫy, tập bò, ê a tập nói… Bé tự học, tự
phát triển trong vòng tay thương yêu của cha mẹ. Lớn hơn một chút, bé tự học, tự
rèn nào là múa, vẽ, hát ca, làm tóan, làm văn …dưới sự hướng dẫn của cô thầy.
Như vậy, tự học, tự rèn, tự phát triển là điều kiện cốt lõi giúp phát triển bản thân
trẻ.
Đuyết- khem (Durkheim) có một câu nói rất hay: “Giáo dục là việc xã hội
hóa cá nhân vị thành niên một cách hệ thống”. Như vậy, muốn hình thành và
phát triển nhân cách theo mục tiêu đào tạo đã định, phải làm cho học sinh liên tục
tự học, học và hành (tất nhiên phải phù hợp với tâm sinh lí học sinh) , xem đó là
hạnh phúc trong học tập hàng ngày của bản thân. Phương pháp giáo dục tích cực
lấy học sinh làm trung tâm coi trọng quá trình tự học, tự đào tạo, rèn luyện của
người học, cho học sinh nhận thức sâu sắc rằng không phải học để chuẩn bị sống
mà học trong khi sống và sống trong khi đang học.
Hiện nay, đổi mới phương pháp giáo dục được thực hiện sâu rộng trong
trường học nhằm phát huy tinh sáng tạo, chủ động của học sinh, giúp học sinh
phát huy tính tự học của bản thân. Phát huy nội lực tự học của học sinh vừa là
mục tiêu, vừa là phương pháp giáo dục, vừa là con đường nâng cao chất lượng và
hiệu quả của nhà trường.
Với lý do trên mà tôi đã chọn cho mình đề tài “Một vài kinh nghiệm khi
hướng dẫn học sinh lớp 4 tự học”để nghiên cứu qua thực tiễn dạy và học của
thầy trò lớp 4. trường tiểu học ………
II/ PHẠM VI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI :
Đề tài: “Một vài kinh nghiệm khi hướng dẫn học sinh lớp 4 tự học”, được thực

câu kể: Ai làm gì?; Ai thế nào? và Ai là gì? ( hai kiểu câu Ai làm gì?; Ai thế nào?
học sinh đã học trước). Khi so sánh như vậy học sinh nắm bài chắc hơn, học sinh
hiểu rằng trong cả 3 mẫu câu này, chủ ngữ đều trả lời cho câu hỏi: Ai? Cái gì?
Con gì? Chỉ có cách đặt câu hỏi tìm vị ngữ là khác nhau mà thôi!
a) Làm bài tập có sự gợi ý hướng dẫn những điểm khó
Ví dụ: Khi học sinh học tập làm văn bài “ luyện tập miêu tả các bộ phận của
cây cối” , tôi yêu cầu học sinh dành 5 phút giờ chơi để quan sát kĩ rễ cây bàng
được trồng trong sân trường trước khi về nhà viết 1 đoạn. Tôi không quên hướng
dẫn các em sử dụng càng nhiều giác quan để quan sát càng tốt: dùng mắt quan sát
độ lớn, hình dáng, màu sắc…dùng tay để sờ vào phần rễ nổi lên trên mặt đất….
Tư duy liên tưởng xem bộ rễ cây bàng giống với gì, có thể so sánh, nhân hóa với
gì…. Với phần hướng dẫn như vậy thì đa số các em chịu khó quan sát và thực
hiện bài viết tương đối tốt.
b) Chuẩn bị bài mới:
Đây là điều kiện rất quan trọng giúp các em tiếp thu tốt bài mới, các em dễ
dàng hơn trong việc nắm bắt kiến thức, giờ học cũng sẽ nhẹ nhàng mà hiệu quả
lại cao. Giáo viên cần hướng dẫn nội dung các câu hỏi gợi ý cho học sinh suy
nghĩ. Và đây sẽ chính là những câu hỏi học sinh sẽ thảo luận trong khi học bài
mới, giáo viên cung có thể cho học sinh chuẩn bị theo nhóm (nếu các em ở gần
nhà nhau), nhưng khi học nhóm mỗi học sinh đều phải chuẩn bị cá nhân, cần
phải độc lập suy nghĩ trước, không ỷ lại, dựa dẫm vào bạn.
Ví dụ: Khi chuẩn bị dạy bài “Tóm tắt tin tức” (Tập làm văn- tuần 24- lớp 4),
tôi yêu cầu học sinh chuẩn bị trước các câu hỏi:
- Tóm tắt tin tức nghĩa là gì?
- Cần thực hiện những việc gì khi tóm tắt tin tức?
- Đọc kĩ để nắm nội dung bản tin: “Vịnh Hạ Long được tái công nhận là di
sản thiên nhiên thế giới”. Với sự hợp tác của học sinh trong việc chuẩn bị
bài, mặc dù tiết tập làm văn chỉ có 35 phút tôi vẫn có thể truyền đạt tốt cho
học sinh nắm mục tiêu bài học.
Khi dạy kĩ thuật bài “ trồng cây rau, hoa”, sau khi hướng dẫn thao tác kĩ

lịch sử, tốt nhất ta nên làm gì?” Câu hỏi trên đã giúp học sinh ý thức mình cần
phải làm gì để giữ gìn các công trình công cộng. Sau tiết học, tôi không quên giúp
học sinh ghi nhớ và thực hiện:
Những di tích, những công trình
Ông cha xây dựng, chúng mình giữ chung.
5/ Hướng dẫn học sinh tự phát hiện , thắc mắc qua các bài học:
Giáo viên cần tạo điều kiện, tập cho học sinh phát hiện thắc mắc qua các bài
học , tự tìm tòi, tự giải đáp, chỗ nào cảm thấy chưa chắc chắn thì trao đổi ở nhóm
hoặc hỏi lại thầy cô giáo. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, người trọng tài,
người đạo diễn, “giáo viên không còn là ống dẫn thông tin mà là chất xúc tác của
quá trình dẫn thông tin đó. Giáo viên luôn ở bên cạnh học sinh… kích thích, duy
trì, thúc đẫy bước đi vừa sức với những giải thích, bổ sung… Giáo viên là trợ lực
viên của tiến trình học tập nhưng không bao giờ học thay cho học sinh…” (dẫn
theo Makiguchi)
Ví dụ: Bài “Mở rộng vốn từ: Dũng cảm” (tuần 26, SGK TV trang 83) có
khá nhiều từ khó hiểu như: can trường, bạo gan, nhu nhược, khí thế, dũng mãnh
và những thành ngữ như: ba chìm bảy nổi, vào sinh ra tử, gan vàng dạ sắt, chân
lấm tay bùn… Tôi vận dụng phương pháp “Thẻ lựa chọn”, tôi đưa một số từ
trong bài vào giấy A4, học sinh lựa chọn những từ mình hiểu và không hiểu, sau
đó học sinh đi tìm bạn khác để trao đổi làm rõ nghĩa về những từ mình chưa hiểu.
Cuối cùng những từ không thể giải thích được, học sinh tra tự điển hoặc thảo luận
với lớp và giáo viên.
6/ Tùy theo từng tình huống học cụ thể của trẻ mà giáo viên có nhiều cách
định hướng cho trẻ tự tìm ra kiến thức:
a) Định hướng cho học sinh đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Ở
lứa tuổi học sinh Tiểu học, tư duy của các em là kiểu tư duy trực quan, vốn sống
của các em còn hạn chế, chính vì thế giáo viên cần định hướng cho học sinh từ cái
đã biết đến cái chưa biết.
Ví dụ: khi học sinh gặp bài toán “Tìm số có hai chữ số biết tích của chúng là
24 và tổng của chúng là 10”. Chắc chắn rằng học sinh sẽ phải kêu lên “ Bài toán

57 + 76 + 20 + 85 + 33
87 + 35 + 26 + 53 + 70
Nhiều học sinh lớp bốn khi gặp bài toán này là nhanh nhảu tính ngay để đi đến
kết quả là cả ba tổng đều bằng nhau. Tôi gợi ý để các em so sánh các chữ số ở
hàng đơn vị và các chữ số ở hàng chục của ba tổng. Sau khi được gợi ý, học sinh
thấy ngay các chữ số hàng đơn vị ở ba tổng là như nhau, chỉ sắp xếp thứ tự khác
nhau. Các chữ số hàng chục cũng vậy. Theo cách cộng các chữ số hàng đơn vị
với nnhau, các chữ số hàng chục với nhau và nhờ tính chất giao hoán của phép
cộng. Ta có thể kết luận ba tổng đó bằng nhau mà không cần mất thời gian tính
toán từng tổng một!
c) Định hướng cho học sinh tự tìm ra kiến thức bằng các công cụ tự học
như từ điển, sách báo
Từ điển là một công cụ giúp học sinh tự học, từ điển là người bạn tự học của
học sinh. Vì vậy cần giúp cho học sinh vượt qua được thói lười, ngại sử dụng từ
điển, rèn luyện cho học sinh cách tra từ điển nhanh và có hiệu quả. Sách báo cũng
là một công cụ thiết yếu để tự học suốt đời. Vì vậy giáo viên cũng cần giúp học
sinh khắc phục những nhược điểm hiện nay về đọc sách: lười biếng đọc sách, mải
mê với những quyển truyện tranh với những câu cụt, câu què…những câu hết sức
khô khan như: “Bùm!”; “Ầm ầm!” hay “ Ra đây ta bảo nào!”…tránh đọc theo
kiểu nước chảy không đọng gì lại trong bộ óc, không động não suy nghĩ….giáo
viên cần giúp học sinh lựa chọn sách báo để đọc, đánh dấu trích đọan những chỗ
mình thích, suy nghĩ, đối chiếu với những điều mình đã học để tự mình rút ra
những điều bổ ích.
Thời lượng của một tiết học không nhiều, chỉ có 35 phút. Vì thế song song với
việc giúp học sinh sử dụng từ điển, rèn luyện cho học sinh cách tra từ điển trong
các tiết luyện từ và câu, trong các buổi họp Phụ huynh học sinh tôi cũng nêu cho
cha mẹ học sinh thấy tầm quan trọng của các công cụ tự học như từ điển, sách
báo và nhờ họ hỗ trợ trong việc giúp con em có thói quen và hứng thú làm việc
với từ điển, sách báo. Tôi hướng dẫn họ thông qua một câu chuyện mà tôi đã
được đọc: “Đổ hay đỗ”:

d) Định hướng cho học sinh tự học theo phong cách: học mọi nơi, học
mọi lúc, học mọi người, học bằng mọi cách và học qua mọi nội dung:
Học mọi nơi: Lê- nin đã từng nói: “Học, học, học nữa, học mãi”; học là học
kiến thức, học cách suy nghĩ tìm ra kiến thức, học ở nhà, ở lớp, ở câu lạc bộ, ở
thư viện, ở nơi nghỉ hè…
Học mọi lúc: Nếu học sinh đã biết học “mọi nơi” thì các em cũng sẽ biết học
mọi lúc, tận dụng lúc rảnh rỗi: học vào lúc đi du lịch, học trên đường đi chơi, học
khi đang hóng mát…Buổi sáng khi đi tập thể dục, các em có thể quan sát vị trí
mọc của mặt trời ở chân trời phía Đông từ đó tập xác định các hướng Tây- Nam-
Bắc, các em cũng có thể liên hệ đến sự chuyển động của mặt trời trong một ngày.
Khi nhà trường tổ chức các hoạt động ngoại khóa, lúc các em ngồi trên xe đi đến
nơi tham quan, giáo viên cũng có thể giúp các em học cách tính vận tốc của xe
bằng cách dựa vào các cột cây số trên đường và chiếc đồng hồ; các em thực hiện
một tró chơi thú vị là đếm các cột cây số và so với đồng hồ để rồi các em phát
hiện ra rằng cứ một kilômet xe chạy mất 1phút 30giây, vậy vận tốc của xe là
40km/giờ. Hoặc lúc ăn xong một viên kẹo sữa, các em cũng có thể ôn lại từ vựng
“milk candy” được viết bằng tiếng Anh trên tờ giấy gói viên kẹo…
Học mọi người: Học người thật, việc thật, người tốt, việc tốt, người xưa trong
lịch sử, nhân vật trong truyện… Khi đọc truyện “Vua máy tính Bin Ghết” ( truyện
đọc lớp 4), yêu thích và khâm phục vua máy tính Bin Ghết _ nhà phát minh, nhà
kinh doanh, một trong những người giàu có nhất hành tinh, học sinh học được ở
nhân vật Bin Ghết tinh thần say mê học tập, làm việc; đam mê đọc sách từ khi
còn rất bé; ý chí quyết tâm cao…
Học bằng mọi cách: Giáo viên cần giúp cho học sinh thoát khỏi lối học thụ
động, đơn giản là đến lớp nghe giảng, về nhà làm bài, học thuộc bài…Kiên trì
giúp học sinh có thói quen tự đọc sách báo, hứng thú tra từ điển, học qua radio,
qua tivi, qua các phương tiện nghe nhìn, qua các trang web, qua các câu hỏi thông
minh… Phải bằng mọi cách tự mình tìm ra kiến thức, khám phá cái mới, cái
chưa biết bằng hành động và suy nghĩ của chính mình.
Tóm lại: Học sinh cần rèn luyện cho bản thân tinh thần tự học, kĩ năng tự

lượng
Phần
trăm
Tiếng Việt
Toán
Sau khi vận dụng việc giáo dục học sinh tự học, kết quả điểm thi GKI như sau:
Giỏi Khá Trung bình Yếu
GKII
Số lượng
%
Số lượng
%
Số lượng
%
Số lượng
%
Tiếng Việt
Toán
Khoa học
Sử - Địa
A
+
% A %
Đạo đức
Kĩ thuật
Mĩ thuật
Nhạc 11/8 39.3 17/7 60.7
Thể dục 2/1 7.2 26/14 92.9
Những thành công bước đầu tuy chưa nhiều nhưng đó cũng chính là động lực
giúp tôi tiếp tục áp dụng những kinh nghiệm này ở những năm học sau.

NHẬN XÉT GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status