1.PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Năm học 2012 - 2013 là năm học có ý nghĩa quan trọng, năm thứ ba thực
hiện nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, năm tiếp tục thực hiện tốt các
cuộc vận động của nghành. Để thực hiện tốt chương trình và sách giáo khoa mới
ở các trường học đã dấy lên phong trào cải tiến, đổi mới phương pháp dạy học
nhằm phát huy tính tích cực chủ động trong học tập của học sinh góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục. Nhiều hội nghị, hội thảo đã được tổ chức xoay quanh
vấn đề đổi mới phương pháp dạy học như thế nào mang lại hiệu quả dạy học cao
nhất. Đó là vấn đề đang được quan tâm hàng đầu trong qúa trình dạy học hiện
nay.
Hướng đổi mới của phương pháp dạy học hiện nay là tích cực hoá hoạt
động học tập của học sinh, khơi dậy và phát huy khả năng tự học nhằm hình thành
cho học sinh tính độc lập sáng tạo, nâng cao khả năng phát hiện và giải quyết vấn
đề, rèn luyện kỉ năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiển, tác động đến tình
cảm đem lại niềm tin, hứng thú học tập cho học sinh.
Chương trình sách giáo khoa mới hiện nay đã thể hiện cách học mới của
học sinh. Từ những hình ảnh trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng đến thực
tiển hình thành nên khái niệm, quy luật, mối liên hệ nhân quả để tìm ra kiến
thức bài học. Điều đó đòi hỏi người giáo phải đổi mới phương pháp dạy học phù
hợp với nội dung sách giáo khoa hiện hành.
Thực tế hiện nay ở các trường THCS, việc thực hiện giảng dạy theo phương
pháp mới còn nhiều điều trăn trở, có không ít giáo viên vẫn theo nếp củ ,trình bày
theo phương pháp truyền thống, học sinh không chủ động lĩnh hội kiến thức do đó
hiệu quả giờ dạy vẫn chưa cao. Đối với bộ môn Địa lí hiện nay, nôi dung sách
giáo khoa không những đòi hỏi người giáo viên phải nghiên cứu kĩ, phải đổi mới
hình thức kiểm tra đánh giá học sinh, phải sử dụng có hiệu quả các phương tiện
dạy học và quan trọng là đổi mới phương pháp dạy học, phải có sự kết hợp nhuần
nhuyển, có sự tích hợp các phương pháp dạy học lúc đó hiệu quả tiết dạy mới đạt
như mong muốn. Song làm thế nào để hướng dẫn học sinh khai thác và sử dụng
1
hin nhng gỡ m giỏo viờn cung cp. Do ú cỏc em khụng cú kh nng c lp
suy ngh nờn gp khú khn khi phi trc tip phõn tớch cỏc biu khớ hu đặc
biệt là kiểu bài phân tích biểu đồ khí hậu - đây là loại bài đòi hỏi học sinh phải
làm việc phải tự mình khai thác kiến thức trên biểu đồ (nhiệt độ và lợng ma). Hn
na kin thc a lớ quỏ rng ( tỡm hiu cỏc s vt hin tng din ra trờn Trỏi
t, trong t nhiờn m cỏc em ớt cú iu kin tip xỳc ) nờn phn no nh hng
khụng nh n cht lng b mụn . Qua nm hc 2011 2012, khi cha ỏp dng
nhng gii phỏp ú vo ging dy tit 11- bi 12: Thc hnh : Nhn bit c
im mụi trng i núng (a lớ 7 ) thỡ kt qu em li cũn rt thp .
TT
LP
TSHS
Gii Khỏ Trung bỡnh Yu
SL % SL % SL % SL %
1 7A 35
04 11,4 08 22,8 17 48,6 06 17,1
2 7B 34
04 11,8 08 22,9 15 44,1 07 20,6
3 7C 34
04 11,8 07 20,0 15 44,1 08 23,5
KHI 7 103
12 11,7 23 22,4 36 45,6 21 20,3
c. Nguyờn nhõn ca thc trng :
3
Qua quá trình nghiên cứu tìm hiểu cho thấy việc dạy kiểu bài lý thuyết và
thực hành về phân tích biểu đồ khí hậu trong giảng dạy bộ môn Địa lí ở trường
THCS nói chung và giảng dạy môn Địa lí lớp 7 nói riêng còn nhiều bất cập do
những nguyên nhân sau :
+ Kiểu bài phân tích biểu đồ khí hậu là một dạng bài học khó vì học sinh
phải xử lí các số liệu từ biểu đồ để tìm ra kiến thức cơ bản. Trong khi đó kĩ năng
tâm, người giáo viên cần phải đọc kĩ nội dung bài học, nắm chắc nội dung của bài,
phương pháp giảng dạy của bài. Thông qua bài học, giáo viên hướng dẫn học sinh
cách đọc, xử lí, phân tích biểu đồ . Tuy nhiên, giáo viên cũng cần phải căn cứ vào
từng đối tượng học sinh trong lớp học, đặc biệt là đối tượng học sinh yếu kém ,
giáo viên cần hướng dẫn cụ thể có thể bằng những câu hỏi gợi mỡ để giúp học
sinh dễ dàng nắm kiến thức bài học. Đồng thời trong quá trình thiết kế giáo án
người giáo viên cần phải phân loại hệ thống câu hỏi ra nhiều loại : câu hỏi dành
cho học sinh khá giỏi, câu hỏi dành cho học sinh trung bình và đặc biệt là câu hỏi
dành cho đối tượng học sinh yếu kém, giáo viên cần đưa ra những câu hỏi mang
tính chất gợi mở để giúp học sinh khai thác kiến thức một cách chủ động hơn .
Ví dụ : Bài 33 : Các khu vực Châu Phi – ( SGK Địa lí 7 trang 105)
Khi giáo viên đưa ra câu hỏi : Tại sao phần lớn Bắc Phi và Nam Phi
đều nằm trong môi trường nhiệt đới nhưng khí hậu của Nam Phi lại ẩm và dịu
hơn khí hậu của Bắc Phi ?
Đây là câu hỏi khó do vậy giáo viên cần đưa ra câu hỏi gợi ý :
- Diện tích khu vực Nam Phi như thế nào rộng hay hẹp, tiếp giáp ?
- Ở phía đông của Nam Phi chụi ảnh hưởng của dòng biển nào ?
- Ở phía đông của Nam Phi có loại gió nào đang hoạt động ?
Nhằm giúp đối tượng học sinh yếu kém dễ dàng rút ra được kết luận tại sao
khí hậu của Nam Phi lại ẩm và diụ hơn khí hậu của Bắc Phi ?
Thực hiện giải pháp này không những giúp cho những giáo viên thực sự chủ
động cho tiết dạy mà còn chủ động được phương pháp dạy học của mình. Bên
cạnh đó học sinh làm việc tích cực ( dưới sự hướng dẫn của giáo viên) để tìm ra
kiến thức mới không gây ra sự nhàm chàn. Kết quả là người hướng dẫn ( người
dạy ) đã có một tiết học nhẹ nhàng thoải mái. Học sinh tích cực làm việc nâng
cao được kĩ năng phân tích lược đồ, biểu đồ khí hậu hơn nữa học sinh có điều
kiện để hệ thống lại kiến thức, cũng cố và nâng cao sự hiểu biết tính chủ động biết
vận dụng so sánh liên hệ thực tế .
2.2.2. Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà .
Đây là một khâu quan trọng, việc hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà
tập 1 SGK Địa lí 7 trang 59) .Bài 18 Thực hành : Nhận biết đặc điểm môi trường
đới ôn hoà, đây là dạng biểu đồ khó do vậy giáo viên cho học sinh thảo luận để
tìm ra sự khác biệt về đặc điểm khí hậu ôn đới lục địa, địa trung hải và ôn đới hải
dương. Đồng thời xác định vị trí của chúng trên bản đồ. Để thảo luận đạt kết
quả tốt giáo viên phân lớp thành 3 nhóm (mỗi nhóm phân tích một biểu đồ ).
* Nhóm 1 : Phân tích biểu đồ nhiệt độ lượng mưa ở hình A ( 55
0
45
,
B)
Cụ thể :
+ Đường biểu diễn nhiệt độ trong năm tăng cao mấy lần ? Biên độ nhiệt ?
+ Nhiệt độ quanh năm khoảng bao nhiêu ? Có mấy tháng nhiệt độ dưới 0
o
C
vào mùa nào ?
6
+ Lượng mưa trong năm như thế nào ? Có mấy tháng mưa ít hay dưới dạng
tuyết rơi, mưa nhiều vào mùa nào ?
Rút ra đặc điểm cơ bản của khí hậu ôn đới lục địa .
* Nhóm 2 : Phân tích biểu đồ nhiệt độ lượng mưa ở hình B ( 36
0
43
,
B)
Cụ thể :
+ Đường biểu diễn nhiệt độ tăng cao mấy lần trong năm ? Biên độ nhiệt ?
+ Nhiệt độ quanh năm khoảng bao nhiêu ? Có mấy tháng nhiệt độ dưới 0
o
C
biểu đồ khí hậu để hoàn thành kiến thức giáo viên giao và phát biểu kết quả thảo
7
luận nhóm mình, đồng thời thông qua cách học này giúp học sinh hình thành và
phát triển được nhiều kĩ năng xã hội ( kĩ năng giao tiếp, giải quyết vấn đề, nói -
diễn đạt, học tập và ghi chép tư liệu, báo cáo ).
2.2 4. Tổ chức học sinh khai thác biểu đồ khí hậu.
Để hướng dẫn học sinh khai thác biểu đồ khí hậu có hiệu quả cần thực hiện
các bước sau :
Thứ nhất : Phải đọc tên biểu đồ để biết được : biểu đồ thể hiện nội dung
gì ? các đại lượng được thể hiện trên biểu đồ là gì ? Màu sắc biểu thị của các đại
lượng đó ? trên lãnh thổ nào ? vào thời gian nào ? chúng được thể hiện như thế
nào ? trị số các đại lượng ?
Thứ hai : Phải đối chiếu so sánh các trị số và nhận xét các đối tượng sau đó
tìm ra mối quan hệ giữa các yếu tố được thể hiện trên biểu đồ để rút ra nhận xét
khái quát.
Để có thời gian phân tích giáo viên nên cho học sinh thành lập nhóm .
Giáo viên phân lớp thành 2 nhóm ( nhóm 1: phân tích biểu đồ khí hậu trạm
Ma –la- can ; nhóm 2: phân tích biểu đồ khí hậu trạm Gia –mê- na ) .
Ví dụ : Bài 6 .Môi trường nhiệt đới - ( SGK Địa lí 7 trang 20)
Sử dụng biểu đồ khí hậu Ma –la- can ( Cộng hoà Xu Đăng ) và Gia –mê- na
(Cộng hoà Sát ).
Mục đích sử dụng : phân tích, so sánh hai biểu đồ để rút ra đặc điểm khí hậu
của môi trường nhiệt đới .
Bước 1 : Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc tên biểu đồ, xác định vị trí của
Ma – La- can ( 9
0
B) và Gia- mê – na ( 12
0
B) trên bản đồ tự nhiên châu Phi.
Bước 2 : Phân tích biểu đồ nhiệt độ giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác
Các thông tin trên về tổng lượng mưa và sự phân bố mưa trong năm giúp
biết được đặc điểm của chế độ mưa của Ma – La-can và Gia- mê – na. Để giúp
học sinh dễ dàng khai thác được thông tin về lượng mưa, giáo viên hướng dẫn học
sinh đặt thước song song với trục hoành và đưa từ trên xuống khi nào thước kẻ
chạm vào cột mưa đầu tiên thì đó là tháng có lượng mưa cao nhất( nhiều nhất ),
tương tự đặt thước kẻ song song với trục hoành và đưa từ dưới lên cho đến khi
nào chạm vào cột mưa đầu tiên thì đó là tháng có lượng mưa thấp nhất ( ít nhất ).
Từ phân tích yếu tố nhiệt độ và lương mưa, rút ra đặc điểm về khí hậu của
Ma – La-can và Gia- mê – na thuộc đới khí hậu nào .
Bước 4. Rút ra những đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới. Trước hết để
giúp học sinh rút ra được đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới, giáo viên cho
học sinh tìm ra những đặc điểm cơ bản khí hậu nhiệt đới :
+ Nóng quanh năm và có hai thời kì nhiệt độ tăng cao .
+ Có một thời kì khô hạn hoặc mưa tập trung vào một mùa .
+ Lượng mưa trung bình năm từ 500mm đến 1500mm.
Sau khi rút ra những đặc điểm cơ bản của khí hậu nhiệt đới giáo viên hướng dẫn
học sinh những đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới : Nóng và lượng mưa tập
9
trung vào một mùa, càng gần chí tuyến thời kì khô hạn càng kéo dài và biên độ
nhiệt trong năm lớn .
Dưới đây là một bài soạn về một đơn vị kiến thức minh hoạ để dạy tốt một
tiết học Địa lí 7 theo phương pháp đổi mới
Tiết 11 Bài 12 THỰC HÀNH :
NHẬN BIẾT ĐẶC ĐIỂM CỦA MÔI TRƯỜNG Ở ĐỚI NÓNG .
Ngày soạn: Ngày dạy :
I. Mục tiêu :
1.Kiến thức :
- Nắm vững đặc điểm khí hậu xích đạo ẩm, nhiệt đới và nhiệt đới gió mùa .
- Đặc điểm của các kiểu môi trường ở đới nóng.
2. Kỹ năng :
Ảnh B : Môi trường nhiệt đới
Ảnh C : Môi trường xích đạo ẩm
GV chốt kiến thức
Hoạt động 2: Cá nhân (8phút )
GV yêu cầu học sinh làm theo các bước
sau :
+ Ảnh chụp gì ?
+ Xác định tên của môi trường trong ảnh
+ Đặc điểm môi trường nhiệt đới
(Nóng và lượng mưa tập trung vào một
mùa, có hai lần nhiệt độ tăng cao )
HS. Biểu đồ A: Nóng quanh năm, tháng
nào cũng có mưa.( không đúng )
Biểu đồ B: Nóng quanh năm, 2 lần có
nhiệt độ tăng cao,mưa theo mùa,3tháng
khô hạn .( Môi trường nhiệt đới )
Biểu đồ C: Nóng quanh năm, 2 lần có
nhiệt độ tăng cao,mưa theo mùa,7tháng
khô hạn . ( Môi trường nhiệt đới )
GV cho học sinh làm theo hình thức loại
trừ, sau đó bổ sung và chuÈn xaùc kieán
thöùc .
Hoạt động 3: Cá nhân (10 phút )
GV cho học sinh nhắc lại mối quan hệ
khí hậu và sông ngòi, lượng mưa và chế
độ nước .
GV cho học sinh phân tích từng biểu đồ
? Phân tích 3 biểu đồ A,B,C về chế độ
mưa :
Biểu đồ A: Mưa quanh năm, B có thời kì
4.Quan sát các biểu đồ nhiệt độ và
lượng mưa , chọn biểu đồ thích hợp
11
độ, lượng mưa của 3 kiểu đới nóng.Sau
đó tiến hành thảo luận nhóm
Nhóm 1. Biểu đồ A
Nhóm 2. Biểu đồ B
Nhóm 3. Biểu đồ C
Nhóm 4. Biểu đồ D
Nhóm 5. Biểu đồ E
HS làm việc theo nhóm, đại diện nhóm
trả lời.
GV hướng dẫn HS làm việc theo 3 bước
cụ thể :
Bước 1. Xác định các biểu đồ nhiệt độ và
lượng mưa nào thuộc đới nóng .
Biểu đồ A : có nhiều tháng nhiệt độ
xuống dưới 15
O
C, mưa nhiều mùa hạ.
Biểu đồ B: Nóng quanh năm trên 20
O
C
Có 2 lần tăng cao, mưa vào mùa hạ.
Biểu đồ C: Có tháng cao nhất mùa hạ
không quá 20
O
C, mùa đông ấm.
Biểu đồ D: Có mùa đông lạnh dưới -5
O
4. Dặn dò : ( 1phút )
- Hoàn chỉnh bài thực hành
- Chuẩn bị trước bài mới: Môi trường đới ôn hòa
- Ôn lại ranh giới và đặc điểm các đới khí hậu trên Trái Đất.
- Ở Bắc bán cầu, Nam bán cầu diện tích của đới ôn hòa như thế nào ?
* Kết quả đạt được
Sau khi vận dụng các giải pháp trên trong tiết dạy phân tích biểu đồ khí
hậu vào tiết 11-bài 12: Thực hành : Nhận biết đặc điểm của môi trường ở đới
12
nóng của toàn bộ học sinh khối 7 trường tôi ở học kì 1năm học 2012 - 2013 kết
quả đạt được như sau :
TT LỚP TSHS Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
1 7A 32 06 18,8 10 31,2 14 43,8 03 9,4
2 7B 32 06 18,8 09 28,1 13 43,8 03 9,4
3 7C 32 04 12,5 09 28,1 15 46,9 04 12,5
KHỐI 7 96 16 16,7 28 29,1 42 44,8 10 10,4
Qua quá trình áp dụng kinh nghiệm dạy học theo phương pháp mới vào
giảng dạy một tiết học Địa lí 7 năm học 2012 - 2013 thu được kết quả sau :
- Về kiến thức : tạo được sự hứng thú học tập của học sinh, học sinh hoạt
động tích cực, chủ động trong tiết học, chiếm lĩnh kiến thức một cách nhanh
chóng và chắc chắn.
- Về kĩ năng : Kĩ năng trực quan, tư duy phân tích, tổng hợp của học sinh
được nâng cao và hoàn thiện hơn. Qua đó hình thành và nâng cao kỹ năng phân
tích xử lí biểu đồ, lược đồ khí hậu ở học sinh. Đồng thời học sinh vận dụng các
kiến thức Địa lí vào cuộc sống thực tiễn một cách dễ dàng và có hiệu quả.
Chính vì vậy mà số học sinh khá giỏi tăng lên và số học sinh yếu kém giảm
hẳn đi so với năm trước.
3. PHẦN KẾT LUẬN
những học sinh có cách làm hay. Đồng thời có câu hỏi để nâng cao để phát huy
tính tích cực, tư duy sáng tạo của đối tượng học sinh khá giỏi.
- Luôn học hỏi đồng nghiệp, trau dồi kiến thức, nâng cao chuyên môn
nghiệp vụ của mình .
- Chú trọng việc cũng cố và phát triển ở học sinh các kĩ năng : Kĩ năng sử
dụng bản đồ, biểu đồ, lược đồ, kĩ năng phân tích bảng số liệu thống kê, kĩ năng
xác lập mối liên hệ nhân quả, đặc biệt là kĩ năng phân tích biểu đồ khí hậu.
14
- Tạo được niềm tin, sự hứng thú, ham mê của học sinh trong học tập môn
Địa lí.
- Đầu tư nhiều hơn vào việc soạn bài theo tinh thần dạy học thông qua tổ
chức các hoạt động học tập của học sinh. Giáo viên phải thể hiện rõ ràng mục
tiêu, nội dung bài học, hệ thống câu hỏi lô gic, phân chia thời gian hợp lí.
Đối với học sinh:
- Yêu thích, say mê hứng thú học tập bộ môn Địa lí .
- Có đầy đủ các phương tiện học tập : Sách giáo khoa, vở bài tập, tập bản
đồ, tranh ảnh, tài liệu tham khảo có nội dung liên quan đến nội dung bài học .
- Biết cách học tập, làm việc theo nhóm, hợp tác với bạn để tìm ra kiến thức
mới .
- Luôn tìm tòi phát hiện những sự vật, hiện tượng xảy ra trong cuộc sống có
liên quan đến kiến thức Địa lí .
Trên đây là kinh nghiệm của bản thân tôi được rút ra từ thực tế giảng dạy bộ
môn Địa lí 7 ở Trường THCS trong những năm gần đây. Mặc dù đã có nhiều cố
gắng song không tránh khỏi sự thiếu sót . Rất mong nhận được sự góp ý chân
thành của đồng nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm của bản thân được hoàn thiện
hơn, nhằm đưa lại hiệu quả cao hơn trong quá trình dạy học môn Địa lí ở bậc
THCS những năm tiếp theo.