Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
SV: Đỗ Thu Hằng
Lớp: Ngân hàng 49A
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
BẢNG
SV: Đỗ Thu Hằng
Lớp: Ngân hàng 49A
Chuyên đề tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Theo thống kê của phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam – VCCI, tính
đến tháng 3 năm 2011 cả nước hiện có trên 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa,
chiếm tới 98% tổng số doanh nghiệp trong cả nước. Hàng năm những doanh nghiệp
này đóng góp khoảng 40% GDP, 30% vào giá trị sản lượng công nghiệp. Các doanh
nghiệp vừa và nhỏ không chỉ đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của đất
nước mà còn giúp giải quyết việc làm cho khoảng 50% lao động, đặc biệt ở khu vực
nông thôn; tạo ra hơn một triệu việc làm mới mỗi năm; trong đó, chủ yếu giải quyết
số lao động chưa qua đào tạo; góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng cường an sinh xã
hội…. Đây là những con số điển hình, minh chứng cho sự phát triển nhanh chóng,
khẳng định vị thế và tầm quan trọng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền
kinh tế nước ta hiện nay. Với sự năng động và số lượng đông đảo của mình, các
doanh nghiệp này là nhân tố đi đầu giúp giải quyết các vấn đề về việc làm, thu hút
tiềm lực từ người dân, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thực hiện các chính sách vĩ mô
của Chính phủ. Tuy vây, trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay các
DNVVN ở nước ta hiện nay vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, một trong những khó
khăn lớn nhất đó là sự thiếu hụt lớn về vốn.
Để tăng cường năng lực cạnh tranh trên thị trường thì các doanh nghiệp cần
mở rộng và phát triển các hoạt động kinh doanh, cũng đồng nghĩa với việc phải đầu
tư những lượng vốn lớn, đặc biệt là đối với DNVVN, có vốn tự có thấp nên nhu cầu
dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Phát Triển Nhà
TP.HCM Chi nhánh Hoàn Kiếm.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
SV: Đỗ Thu Hằng
Lớp: Ngân hàng 49A
2
Chuyên đề tốt nghiệp
DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
DN Doanh nghiệp
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
TSĐB Tài sản đảm bảo
NH Ngân hàng
HDBank Ngân hàng TMCP Phát Triển Nhà TP.HCM
HĐV Huy động vốn
VNĐ Việt Nam đồng
LN Lợi nhuận
LNTT Lợi nhuận trước thuế
SV: Đỗ Thu Hằng
Lớp: Ngân hàng 49A
3
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
CỦA NHTM ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1 Các vấn đề cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
nguồn vốn
Số lao
động
Tổng nguồn
vốn
Số lao động
I. Nông, lâm nghiệp
và thủy sản
10 người trở
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200
người đến 300
người
II. Công nghiệp và
xây dựng
10 người trở
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
những đặc điểm tiêu biểu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ như sau :
DNVVN tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh
tế: thương mại, dịch vụ, công nghiệp, xây dựng, nông lâm ngư nghiệp Và hoạt
động dưới mọi hình thức như: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công
ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và
các cơ sở kinh tế cá thể
Là những doanh nghiệp nhỏ, cả về quy mô vốn, trình độ sản xuất, không
đòi hỏi người lao động có tay nghề cao. Thường là những doanh nghiệp khởi sự từ
SV: Đỗ Thu Hằng
Lớp: Ngân hàng 49A
5
Chuyên đề tốt nghiệp
khu vực kinh tế tư nhân.
Hầu hết là những DN mới thành lập, còn ít kinh nghiệm, ít được hỗ trợ
bởi luật pháp và nhà nước, sự phân biệt còn nặng nề trên một số phương diện. Luôn
gặp phải những khó khăn lớn về vốn và công nghệ, khó khăn khi tiếp cận các nguồn
vốn bên ngoài và các công nghệ khoa hoc, trình độ sản xuất tiên tiến còn hạn chế.
Dễ khởi nghiệp. Để thành lập các doanh nghiệp chỉ cần một vốn đầu tư
nhỏ, mặt bằng nhỏ hẹp, quy mô nhà xưởng vừa phải nên dễ dàng tham gia vào hầu
hết các vào các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh, rộng khắp ở cả thành thị và
nông thôn, nhạy cảm cao với các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thu hút và sử dụng được những lao động địa phương với chi phí thấp.
Huy động được các nguồn tài chính từ dân cư trong vùng.
Là trụ cột của nền kinh tế địa phương do quá trình sử dụng, khai thác các
tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lưc, giúp nền kinh tế địa phương phát triển
nhanh chóng và toàn diện.
1.1.2.1 Ưu điểm của các DNVVN :
Với quy mô nhỏ, các DNVVN thường vô cùng linh hoạt, thích ứng nhanh
nhạy với sự thay đổi của thị trường. Thích hợp với điều kiện sử dụng các trình độ
khác nhau như thủ công, nửa cơ khí, cơ khí để sản xuất ra những sản phẩm đa dạng,
Chiến lược và kế hoạch kinh doanh không rõ ràng, chủ yếu vẫn là các hoạt
động kinh doanh sản xuất theo mùa vụ và thương vụ; phát triển theo phong trào là
chính nên kết quả thu được không ổn định, dễ dẫn đến tình trạng thua lỗ, phá sản.
Do quy mô vốn thấp nên các DNNVV không có đủ nguồn tài chính để nâng
cấp, đổi mới máy móc, mua sắm thiết bị và nghiên cứu nhập khẩu công nghệ mới.
Việc sử dụng các công nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao, dịch vụ
của các DNVVN còn đơn giản, sức cạnh tranh so với các mặt hàng của các doanh
nghiệp lớn yếu hơn nhiều bởi hàm lượng tri thức và công nghệ tích lũy trong sản
phẩm thấp, tính cạnh tranh trên thị trường kém. Dẫn đến tình trạng DNNVV gặp
nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm, thâm nhập thị trường và phân phối sản phẩm.
1.1.3 Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền KTQD.
Rõ ràng, vai trò của các DNVVN trong nền kinh tế quốc dân mỗi quốc gia là
không thể phủ nhận. Các doanh nghiệp này luôn là người đi tiên phong trong sự
phát triển không ngừng của các quốc gia. Tuy rằng ở mỗi nước khác nhau với các đặc
điểm kinh tế của riêng mình thì vai trò của các DNVVN được thể hiện khác nhau
nhưng tựu chung lại vai trò của các DNVVN đều có những tương đồng như sau:
Thứ nhất, các doanh nghiệp với số lượng đông đảo của mình này giữ vai trò
quan trọng trong nền kinh tế qua tổng sản lượng và việc làm. Số lượng doanh
SV: Đỗ Thu Hằng
Lớp: Ngân hàng 49A
7
Chuyên đề tốt nghiệp
nghiệp ngày càng lớn, phân bổ rộng khắp trong mọi lĩnh vực và ngành nghề. Hoạt
động của các DNVVN trong năm vừa qua chiếm đến hơn 80% tổng mức bán lẻ,
64% tổng lượng vận chuyển hàng hóa, tốc độ phát triển cao hơn so với khu vực các
doanh nghiệp khác, được ví là xương sống của nền kinh tế.
Thứ hai, các DNVVN giữ vai trò ổn định nền kinh tế, ổn định các vấn đề về vĩ
mô như thất nghiệp, lạm phát,tăng trưởng kinh tế… Ở phần lớn các nền kinh tế, các
DNVVN đóng vai trò là nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn. Sư điều chỉnh hợp
đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định vì thế
công nghệ mới vào sản xuất. Các DNVVN đóng vai trò là người đi tiên phong trong
việc áp dụng các phát minh mới về công nghệ và sáng kiến kỹ thuật. Mặc dù không
phải là phát minh, sáng kiến mang tính chất đột phá, nhưng nó là tiền đề cho sự thay
đổi về công nghệ sau này.
Thứ bảy, có khả năng hợp tác với các doanh nghiệp lớn, tạo nên mối quan hệ
khăng khít. Quá trình đổi mới kinh tế đã thúc đẩy sự hợp tác, kết hợp chặt chẽ giữa
cộng đồng các doanh nghiệp, là tiền đề để tạo ra các doanh nghiệp lớn, giúp lành
mạnh môi trường đầu tư, kinh doanh. Tạo ra môi trường kinh doanh mang văn hóa
kinh tế thị trường, là cái nôi nuôi dưỡng những đội ngũ kinh doanh giỏi, tạo điều
kiện giúp Việt Nam hội nhập nhanh chóng vào nền kinh tế thế giới trong tương lai.
1.1.4 Vấn đề của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay.
Vấn đề tiếp cận các nguồn vốn là vấn đề đầu tiên có ý nghĩa quyết định đến sự
sống còn của doanh nghiệp nhưng thiếu vốn hiên nay vẫn là căn bệnh kinh niên của
các doanh nghiệp, đặc biệt là các DNVVN. Tình trạng thiếu vốn để sản xuất của các
DNVVN xảy ra thường xuyên, nhất là các khoản vay trung -dài hạn từ các ngân
hàng và các tổ chức tín dụng khác. Với năng lực tài chính yếu kém và sự hạn chế
trong tiếp cận nguồn vốn quy mô lớn các DNVVN khó có cơ hội đầu tư cho quy
trình công nghệ hiện đại, đổi mới trang thiết bị sản xuất của mình nên từ đây dẫn
đến hàng loạt các vấn đề khác mà từ lâu đã là nguyên nhân căn bản cho sự chậm
phát triển của các doanh nghiệp này. Đi đôi với đó là sự chậm tiếp thu, không có
cập nhật thường xuyên trong việc đào tạo nguồn nhân lực để giúp giảm chi phí, đa
dạng hóa mẫu mã, tạo ra các sản phẩm có chất lượng, cạnh tranh với các sản phẩm
của các doanh nghiệp khác và các sản phẩm có tiêu chuẩn quốc tế.
Tiềm lực vật chất nghèo nàn cũng làm chậm quá trình mở rộng hoạt động sản
SV: Đỗ Thu Hằng
Lớp: Ngân hàng 49A
9
Chuyên đề tốt nghiệp
xuất và kinh doanh nên khiến các doanh nghiệp khó có thể tìm kiếm các thị trường
mới. Hơn nữa, điều kiện cơ sở hạ tầng không đủ cũng làm giảm khả năng dự trữ các
Chuyên đề tốt nghiệp
là ngân hàng với một bên đi vay là các chủ thể khác của nền kinh tế như nhà nước,
các tổ chức xã hội, các tầng lớp dân cư theo nguyên tắc vay có hoàn trả. Trong đó
ngân hàng chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên đi vay sử dụng, sau một thời gian
nhất định bên đi vay hoàn trả vốn gốc cộng thêm một phần lãi đã thỏa thuận với
nhau từ trước.
Với chức năng kinh doanh tiền tệ của mình, các ngân hàng tham gia vào quá
trình tín dụng với tư cách là người đi vay và người cho vay đối với các chủ thể kinh
tế khác nhau. Quan hệ tín dụng mà ngân hàng đóng vai trò là người cho vay là một
trong ba nghiệp vụ quan trọng nhất hình thành nên NHTM đồng thời cũng là nghiệp
vụ mang lại thu nhập chủ yếu và quyết định lợi nhuận của toàn bộ ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng được tiến hành dựa trên các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc mục đích : Ngân hàng chỉ cung cấp tín dụng cho những doanh
nghiệp nhất định có hoạt động kinh doanh cụ thể và mục đích sử dụng tiền vay rõ
ràng. Doanh nghiệp khi đi vay phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích được
thoả thuận với ngân hàng, không trái với quy định của pháp luật và các quy định
của ngân hàng.
- Nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi: Ngân hàng huy động vốn từ các tổ chức,
cá nhân trong nền kinh tế, và sử dụng nguồn này để cho doanh nghiệp vay. Sau khi
DN đã khai thác và sử dụng khoản vay, DN phải trả lại toàn bộ giá trị khoản vay
kèm theo một khoản lợi tức hợp lý như đã cam kết từ ban đầu.
- Nguyên tắc tài sản đảm bảo: Đối với mỗi khoản vay thì cần đi kèm với một
lượng giá trị tài sản đảm bảo nào đó như nhà cửa, đất đai, máy móc, thiết bị Nhằm
giảm thiểu tối đa rủi ro cho ngân hàng trong trường hợp khách hàng gặp khó khăn
không thể trả được nợ hoặc cố tình dây dưa không trả nợ. Đối với những doanh
nghiệp là khách hàng lâu năm, có uy tín, có hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định
thì không cần tài sản đảm bảo, đây là hình thức cho vay tín chấp.
1.2.1.2 Các hình thức tín dụng ngân hàng
Hiện nay các hình thức tín dụng của ngân hàng đang ngày càng phát triển và
phong phú, đáp ứng mọi nhu cầu của các khách hàng khác nhau. Có nhiều loại tín
năng lực tài chính mạnh. Được sự tín nhiệm cao của ngân hàng nên khi vay không
cần tài sản thế chấp hoặc đòi hỏi bảo lãnh của bên thứ 3.
Phân loại theo mục đích: theo hình thức này thì tín dụng ngân hàng được
SV: Đỗ Thu Hằng
Lớp: Ngân hàng 49A
12
Chuyên đề tốt nghiệp
phân loại rất đa dạng và phong phú như:
- Tín dụng đối với bất động sản: liên quan đến mua bán, xây dựng nhà ở, đất đai
- Tín dụng công nghiệp và thương mại: là loại tín dụng ngắn và dài hạn để bổ
sung vốn ngắn hoặc dài hạn cho các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp và
thương mại.
- Tín dụng nông nghiệp : là loại tín dụng cung cấp để thanh toán các chi phí
sản xuất nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu
- Tín dụng cá nhân : là loại tín dụng đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của khách
hàng như mua sắm các hàng hóa dịch vụ đáp ứng đời sống sinh hoạt
Phân loại theo đối tượng quan hệ tín dụng :
- Tín dụng đối với kinh tế quốc doanh : có chủ thể là những DNNN
- Tín dụng đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh: có chủ thể là
các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp cổ phần, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể
và các cá nhân.
Ngoài những hình thức tiêu biểu kể trên, tín dụng ngân hàng còn được phân
loại theo rất nhiều các hình thức khác như theo tiêu chí về xuất xứ vốn vay, theo
phương thức hoàn trả tiền vay, theo đồng tiền được sử dụng cho vay.
1.2.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với các doanh nghiệp vừa và
nhỏ
Với cường độ cạnh tranh ngày càng gay gắt của thị trường, các doanh nghiệp
muốn tồn tại vững chắc thì phải liên tục đổi mới phương thức sản xuất, phát triển
sản phẩm phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của thị trường. Nhưng do đặc điểm tuần
hoàn vốn nên trong quá trình sản xuất các doanh nghiệp luôn có sự không ăn khớp
Chính sách tín dụng : bao gồm các quy định về giới hạn cho vay với từng
nhóm khách hàng, quy định về thời hạn cho vay, về tài sản đảm bảo, phương thức
thanh toán, thỏa thuận về xử lý nợ vay Chính sách tín dụng có sự chú trọng,
những điều khoản ưu đãi và lợi ích đi kèm nhất định với đối tượng DNVVN thì sẽ
thu hút được các khách hàng đến với ngân hàng, mở rộng khả năng huy động cũng
như cho vay.
Sản phẩm đa dạng, phong phú kết hợp nhiều tiện ích đối với từng đối
tượng khách hàng cũng là một yếu tố tác động đến hoạt động tín dụng tại ngân
hàng, thu hút được ngày càng nhiều khách hàng đến với ngân hàng.
Ngoài ra còn là công tác marketing, giới thiệu sản phẩm, quảng bá các hình
ảnh của ngân hàng đến với khách hàng, đặc biêt là khách hàng DNVVN, giúp ngân
hàng mở rộng thị phần và khả năng hoạt động trên ngân hàng trên địa bàn ở nhóm
SV: Đỗ Thu Hằng
Lớp: Ngân hàng 49A
14
Chuyên đề tốt nghiệp
khách hàng này.
Quy trình tín dụng: Quy trình tín dụng càng đơn giản, thủ tục gọn nhẹ, thực
hiện nhanh chóng, chuyên nghiệp nhưng vẫn đảm bảo những thủ tục cần thiết, an
toàn tín dụng và được thực hiện bởi những cán bộ có trình độ chuyên môn cao sẽ
giúp các DNVVN nhận được những sự tư vấn hữu ích, cung cấp nguồn vốn nhanh
chóng, tạo tâm lý an tâm, hài lòng cho khách hàng khi thực hiện vay vốn.
Chất lượng đội ngũ cán bộ.
Đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, phục vụ nhiệt tình, chăm sóc khách hàng chu
đáo, luôn ân cần, niềm nở là yếu tố rất quan trọng để lôi kéo các khách hàng mới và
duy trì mối quan hệ lâu dài của những khách hàng truyền thống. Đội ngũ cán bộ có
trình độ nghiệp vụ cao, đạo đức tốt là sẽ tạo được tâm lý an tâm, tin tưởng từ phía
khách hàng.
Yếu tố khoa học công nghệ, cơ sở vật chất.
Một cơ sở vật chất rộng rãi, khang trang với công nghệ hiện đại là yếu tố thu
án vay vốn được ngân hàng đánh giá là có hiệu quả, có khả năng sinh lợi thì mới
được quyết định cho vay, mới đảm bảo nguồn thu nợ đúng hạn, hạn chế rủi ro nợ
quá hạn, nợ xấu cho ngân hàng.
1.2.3.3 Nhân tố khác
Chính sách của nhà nước : Chính sách nhà nước với những sự ưu tiên, hỗ
trợ nhất định cho sự phát triển của DNVVN tạo ra các động lực thúc đẩy các ngân
hàng tích cực hoạt động cho vay các đối tượng này theo định hướng của nhà nước,
giúp các DNVVN có nhiều cơ hội tiếp cận nguồn vốn ngân hàng để hoạt động kinh
doanh, thu được nhiều lợi nhuận.
Môi trường kinh tế - xã hội : Môi trường kinh tế-xã hôi có ổn định, lành
mạnh, công bằng cho sự phát triển của mọi thành phần kinh tế thì mới tạo ra môi
trường thuận lợi để các doanh nghiệp trong đó có DNVVN hoạt động. Hoạt động
kinh doanh của họ càng tốt thì nhu cầu về vốn càng lớn giúp mở rộng sản xuất kinh
doanh đồng thời thu được nhiều lợi nhuận, tạo điều kiện mở rộng hoạt động tín
dụng ngân hàng và chất lượng tín dụng ngày càng được nâng cao.
Môi trường pháp lý: các luật, văn bản dưới luật, các cơ chế, thể lệ, quy
định về hoạt động tín dụng của ngân hàng chi tiết, đúng, đủ, phù hợp với tình hình
thực tế và cơ chế thị trường mới có thể tạo cơ sở vững chắc cho ngân hàng cũng
như doanh nghiệp thực hiện và hoạt động. Hơn nữa, hành lang pháp luật thông
thoáng cũng là điều kiện để các ngân hàng và doanh nghiệp có điều kiện mở rộng
kinh doanh an toàn và hiệu quả.
1.3 Chất lượng tín dụng đối với các DNVVN
SV: Đỗ Thu Hằng
Lớp: Ngân hàng 49A
16
Chuyên đề tốt nghiệp
1.3.1 Khái niệm về chất lượng tín dụng đối với DNVVN
Hoạt động tín dụng luôn được coi là hoạt động chủ yếu, mang lại lợi nhuận,
quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng vì thế chất lượng tín dụng là vấn
đề được các ngân hàng quan tâm hàng đầu. Qua chất lượng của hoạt động tín dụng
để nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng
1.3.2.1 Chỉ tiêu định lượng
Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Được xác đinh bằng tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn trên tổng dư nợ tại một
thời điểm nhất định thường là cuối tháng, quý, năm. Được tính theo công thức :
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ
Trong đó, tổng dư nợ là một chỉ tiêu phản ánh số vốn ngân hàng cung cấp nền
kinh tế tại một thời điểm nhất định, là chỉ tiêu phản ánh quy mô tín dụng của ngân
hàng và sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng.
Nợ quá hạn xuất hiện khi người đi vay không thực hiện nghĩa vụ của mình với
ngân hàng đúng hạn đã cam kết, phần còn lại đến hạn hoặc có thêm thời gian gia
hạn vẫn không trả được nợ. Đây là biểu hiện của một mối quan hệ tín dụng không
hoàn hảo, mà trong tín dụng tính an toàn được coi là yếu tố quan trọng bậc nhất khi
cấu thành chất lượng tín dụng. Mặc dù trong nền kinh tế thị trường rủi ro trong hoạt
động kinh doanh là tất yếu song một ngân hàng có quá nhiều các khoản vay quá
hạn, tỷ lệ nợ quá hạn càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng càng thấp, tình trạng ứ
đọng vốn cao, giảm khả năng thanh toán, lợi nhuận giảm, nguy cơ mất vốn lớn.
Ngoài ra để đánh giá chỉ tiêu này chính xác hơn giúp các nhà quản lý có chính
sách kinh doanh phù hợp thì người ta chia ra thành 2 chỉ tiêu khác là nợ quá hạn có
khả năng thu hồi và nợ quá hạn không có khả năng thu hồi.
- Nợ quá hạn có khả năng thu hồi là các khoản nợ quá hạn do doanh nghiệp gặp
những khó khăn tạm thời những vẫn có khả năng và ý chí trả nợ, khi đó ngân hàng vẫn
hỗ trợ, tạo điều kiện để doanh nghiệp có thời gian gia hạn, hoàn trả vốn vay.
- Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi là các khoản nợ quá hạn trong một
khoảng thời gian nhất định và khả năng không thu được nợ là rất lớn. Đây là những
SV: Đỗ Thu Hằng
Lớp: Ngân hàng 49A
SV: Đỗ Thu Hằng
Lớp: Ngân hàng 49A
19
Chuyên đề tốt nghiệp
nguồn vốn ngân hàng luân chuyển càng nhanh, vốn huy động được tham gia nhiều
lần vào quá trình kinh doanh, phản ánh hoạt động tín dụng lành mạnh của khách
hàng, trả nợ đầy đủ đúng hạn cũng nhu khả năng thu hồi nợ tốt của ngân hàng. Nó
còn thể hiện doanh thu từ hoạt động tín dụng cao và ngân hàng đã đầu tư vào các
hoạt động kinh doanh có hiệu quả.
Tuy nhiên cần chú ý đến chỉ tiêu dư nợ cho vay, bởi theo công thức dư nợ cho
vay càng thấp thì vòng quay vốn tín dụng càng lớn nhưng điều này là hoàn toàn
không chính xác với những ngân hàng kinh doanh hiệu quả.
Hiệu suất sử dụng vốn
Tổng dư nợ phản ánh khối lượng tiền tệ ngân hàng đã cung cấp cho nền kinh
tế trong một thời điểm nhất định, phản ánh quy mô và xu hướng của việc đầu tư của
ngân hàng. Tổng dư nợ thấp sẽ phản ánh hoạt động cho vay của ngân hàng không
hiệu quả tuy nhiên đây không phải là một chỉ tiêu phản ánh chính xác chất lượng tín
dụng. Nó chỉ có giá trị đánh giá khi xem xét trong mối quan hệ tương quan với yếu
tố khác như tổng nguồn vốn huy động để tính hiệu suất sử dụng vốn .
Tổng dư nợ
Hiệu suất sử dụng vốn =
Tổng vốn huy động
Chỉ tiêu này đánh giá tỷ trọng cho vay trên mối quan hệ với tiềm lực của bản
thân ngân hàng, cũng như nhu cầu từ phía nền kinh tế. Trên cơ sở đó ngân hàng có
những chiến lược kinh doanh và hoạt động phù hợp, giúp mở rộng khả năng hoạt
động tín dụng của mình. Chỉ số này luôn nhỏ hơn 1, nếu gần bằng 1 ngân hàng cần
chú trọng mở rộng hoạt động huy động để đảm bảo khả năng thanh toán dồi dào.
Chỉ số này lớn thì chứng tỏ vốn tồn đọng ít và rủi ro tín dụng càng lớn.
Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động tín dụng
Nguồn thu từ hoạt động tín dụng là nguồn thu chủ yếu mang lại lớn nhuận cho
mang lại cho bản thân ngân hàng, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của ngân
hàng. Chất lượng tín dụng chỉ được đánh giá là cao khi thu nhập mà nó mang lại có
thể bù đắp được chi phí hoạt hoạt động và mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng,
đồng thời giúp các ngân hàng có điều kiện quảng bá thương hiệu và nâng cao vị thế
trong tâm trí khách hàng.
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
SV: Đỗ Thu Hằng
Lớp: Ngân hàng 49A
21
Chuyên đề tốt nghiệp
Tín dụng là hoạt động cơ bản nhất của ngân hàng do đó việc nâng cao chất
lượng tín dụng là mối quan tâm hàng đầu cũng là mục đích các ngân hàng đều
hướng tới. Để làm được điều đó, bản thân các nhà quản lý ngân hàng cần nắm bắt
và hiểu được chính xác các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng để có những
kế hoạch kinh doanh phù hợp.
1.3.3.1 Nhân tố Ngân hàng
Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng được hiểu là những đường lối, chủ trương của ngân hàng
đề ra trong một thời gian nhất định để đảm bảo cho các hoạt động tín dụng của ngân
hàng đi đúng hướng. Bao gồm quy định về hạn mức tín dụng, kỳ hạn, lãi suất, lệ phí
và các khoản cho vay được thực hiện, các điều kiện về đảm bảo tiền vay, thanh lý
tài sản… Là một trong những chính sách chiến lược kinh doanh của các NHTM, là
yếu tố đầu tiên tác động đến việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Do đó các điều
khoản trong chính sách tín dụng phải được xây dựng chặt chẽ trên những điều kiện
về kinh tế-xã hội, chính sách tiền tệ của NHNN, khả năng về vốn của ngân hàng,
nhu cầu của thị trường và từng đối tượng khách hàng trong từng thời kỳ nhất định.
Một khi các yếu tố này thay đổi thì chính sách tín dụng cũng sẽ thay đổi theo. Đây
là chính sách chiến lược quyết định đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, tạo nên
hình ảnh, sự tín nhiệm của khách hàng.
Một chính sách tín dụng được coi là phù hợp và khoa học là khi nó giúp thu
phát hiện những yếu kém của từng bộ phận, từng cá nhân từ đó đưa ra các biện pháp
để điều chỉnh, uốn nắn kịp thời.
Không chỉ dừng lại việc kiểm tra, thanh tra trong nội bộ ngân hàng mà thanh
tra, kiểm tra còn được thực hiện thường xuyên với các khách hàng trong cả quá
trình trước trong và sau vay giúp quản lý tốt nguồn vốn vay, hạn chế thất thoát tài
sản ngân hàng; tạo điều kiện giúp đỡ khách hàng trong những tình huống khó khăn
không mong muốn.
Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của ngân hàng
Ngân hàng được tổ chức khoa học, chặt chẽ mới có thể phát huy được tất cả
nội lực, những ưu điểm đồng thời hạn chế các mặt yếu kém. Đảm bảo sự phối hợp
nhịp nhàng giữa các cá nhân, các phòng ban và giữa ngân hàng trong cùng hệ
thống; giúp quản lý các khoản tín dụng hiệu quả đồng thời giải quyết các khoản tín
dụng có vấn đề một cách kịp thời.
Thông tin tín dụng :
SV: Đỗ Thu Hằng
Lớp: Ngân hàng 49A
23