LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan: Khóa luận “Ứng dụng các quy định về an toàn vốn trong Hiệp ước vốn Basel tại
Ngân hàng Việt nam Thịnh vượng” là công trình nghiên cứu của riêng em. Các số liệu, nội dung, kết quả
nghiên cứu nêu trong khóa luận là chính xác, được hình thành và phát triển dựa trên tình hình thực tế
của Ngân hàng Việt nam Thịnh vượng.
Hà nội, ngày 15 tháng 4 năm 2011
Sinh viên
Nguyễn Thanh Tùng
Nguyễn Thanh Tùng NHC-K10
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn TS. Đỗ Thị Kim Hảo đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo
em trong suốt quá trình thực hiện đề tài khóa luận. Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân
thành tới Ban lãnh đạo, các anh chị Ngân hàng Việt nam Thịnh vượng - Chi nhánh
Thăng Long đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình thực tập tại đơn vị
để em có thể hoàn thiện khóa luận này.
Nguyễn Thanh Tùng NHC-K10
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
STT Kí hiệu, chữ viết tắt Nghĩa
1 DTBB Dự trữ bắt buộc
2 ECB Ngân hàng trung ương châu Âu
3 GDP Tổng sản phẩm quốc nội
4 NHNN Ngân hàng nhà nước
5 NHTM Ngân hàng thương mại
6 NHTW Ngân hàng Trung ương
7 TCTD Tổ chức tín dụng
8 CAR Tỷ lệ an toàn vốn
9 FED Cục dự trữ liên bang Mỹ
10 TOWRA Tổng tài sản “Có” rủi ro
11 OCC Cơ quan kiểm soát tiền tệ của Mỹ
12 VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam
13 IFRS Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
1.4
1.2.2
Hệ số rủi ro đối với những khoản nợ thuộc doanh nghiệp
28
Bảng
1.5
1.3.2
Thực tiễn áp dụng Basel II tại một số nước châu Á
40
Bảng
2.1
2.1.2
Một số chỉ tiêu của VP BANK giai đoạn 2005-2010
47
Bảng
2.2
2.1.2
Các chỉ tiêu về kết quả hoạt động VP BANK 2006-2010
51
Bảng
2.3
2.2.3
Trọng số tương ứng với các thang điểm rủi ro ECA
62
Bảng
3.1
3.1.1
Một số chỉ tiêu hoạt động theo kế hoạch của Ngân hàng
76
Bảng
LỜI CẢM ƠN 2
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG 4
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ 5
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG ĐỀ TÀI 4
Chương 1: Tổng quan về an toàn vốn trong hiệp ước quốc tế Basel 4
1.1. Rủi ro trong ngân hàng thương mại và sự cần thiết phải duy trì các quy định về an toàn vốn 4
1.1.1. Rủi ro trong ngân hàng thương mại 4
1.1.2. Sự cần thiết phải duy trì các quy định về an toàn vốn 14
1.1.3. Hiệu quả của việc thực hiện các quy định về an toàn vốn trong ngân
hàng 17
Tóm tắt chương 1 40
Tóm tắt chương 2 69
Tóm tắt chương 3 87
KẾT LUẬN CHUNG 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 3
Phụ lục 1 3
Phụ lục 2 3
Nguyễn Thanh Tùng NHC-K10
Khóa luận tốt nghiệp [1] Học viện Ngân hàng
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với 1 nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi và phát triển như Việt nam
thì sự điều tiết của Chính phủ, cũng như yêu cầu về sự hiệu quả trong hoạt động
của hệ thống Ngân hàng đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Bởi một hệ thống
Ngân hàng hiện đại, hoạt động hiệu quả sẽ đẩy nhanh quá trình chuyển đổi kinh tế,
thúc đẩy quá trình phát triển. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh của ngân hàng lại
rất nhạy cảm, tiềm ẩn nhiều rủi ro, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của nền kinh
việc ứng dụng các quy định về an toàn vốn tại các NHTM Việt nam là một vấn đề
hết sức cần thiết. Chính vì vậy mà qua quá trình học tập, nghiên cứu cũng như thực
tế quá trình thực tập tại Ngân hàng em quyết định lựa chọn đề tài “Ứng dụng các
quy định về an toàn vốn trong Hiệp ước vốn Basel tại Ngân hàng Việt nam
Thịnh vượng” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu các ứng dụng về an toàn vốn trong Hiệp ước vốn Basel tại
Ngân hàng Việt nam đã được nhiều nhà kinh tế, nhiều chuyên gia đề cập tới. Tuy
nhiên, việc gắn nó với một hệ thống ngân hàng thương mại cụ thể là chưa có nhiều.
Chính vì vậy, đề tài “Ứng dụng các quy định về an toàn vốn trong Hiệp ước
vốn Basel tại Ngân hàng Việt nam Thịnh vượng” được lựa chọn nghiên cứu
nhằm
Tổng quan hóa các loại rủi ro và sự cần thiết phải đảm bảo an toàn vốn trong
NHTM, phân tích những quy định về an toàn vốn của Ủy ban Basel. Từ đó đưa ra
vấn đề có tính chiến lược trong việc ứng dụng các văn bản quốc tế tại các NHTM
Việt nam.
Nghiên cứu những tồn tại và hạn chế trong lộ trình ứng dụng của các NHTM
Việt nam, kinh nghiệm các nước.
Trên cơ sở đó, phân tích thực trạng duy trì tỷ lệ an toàn vốn và công tác ứng
dụng Hiệp ước vốn Basel tại Ngân hàng Việt nam thịnh vượng. Từ đó rút ra những
điểm đã đạt được cũng như những tồn tại. Đồng thời đưa ra những giải pháp,
khuyến nghị góp phần nâng cao hiệu quả ứng dụng các quy định về an toàn vốn
trong Hiệp ước vốn Basel tại Ngân hàng Việt nam thịnh vượng VP BANK.
Nguyễn Thanh Tùng NHC-K10
Khóa luận tốt nghiệp [3] Học viện Ngân hàng
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các vấn đề lý luận cơ bản về an toàn vốn được quy định trong Hiệp ước vốn
Basel về giám sát ngân hàng
- Thực tế ứng dụng các quy định về an toàn vốn và đo lường rủi ro trong ngân
định hướng và giải pháp ứng dụng triệt để các quy định về an toàn vốn trong Basel
nhằm đảm bảo sự phù hợp với thực tế và định hướng phát triển của Ngân hàng.
6. Kết cấu của đề tài
Đề tài nghiên cứu: “Ứng dụng các quy định về an toàn vốn trong Hiệp ước
vốn Basel tại Ngân hàng Việt nam Thịnh vượng” gồm 90 trang, 10 bảng, 05 sơ
đồ, 02 đồ thị và các phép toán, diễn giải được trình bày trong 3 chương. Kèm theo
đó là phần mở mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục
bảng, hình vẽ, đồ thị và danh mục các ký hiệu chữ viết tắt.
Nội dung chính của đề tài được trình bày theo 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về an toàn vốn trong hiệp ước quốc tế Basel.
Chương 2: Thực trạng việc thực hiện các quy định về an toàn vốn theo Basel
trong tại Ngân hàng Việt nam thịnh vượng.
Chương 3: Giải pháp ứng dụng các quy định về an toàn vốn trong hiệp ước
Basel tại Ngân hàng Việt nam thịnh vượng.
NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Chương 1: Tổng quan về an toàn vốn trong hiệp ước quốc tế Basel
1.1. Rủi ro trong ngân hàng thương mại và sự cần thiết phải duy trì các
quy định về an toàn vốn
1.1.1. Rủi ro trong ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm rủi ro
Với đặc điểm chính là kinh doanh tiền tệ, thực hiện chức năng chuyển hóa tài
sản, huy động và đáp ứng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế thì ngân hàng luôn phải
đối mặt với những thiệt hại, kể cả tài chính hoặc phi tài chính. Hay đó chính là rủi
Nguyễn Thanh Tùng NHC-K10
Khóa luận tốt nghiệp [5] Học viện Ngân hàng
ro mà ngân hàng có thể gặp phải trong quá trình thực hiện các chức năng trung
gian thanh toán, trung gian tín dụng và tạo tiền của mình. Hơn nữa ngày nay,vai trò
của ngân hàng không chỉ dừng lại ở vai trò cơ bản là làm trung gian tín dụng, trung
gian thanh toán, bảo lãnh, dịch vụ mà còn là công cụ dẫn truyền hiệu quả tác động
của chính sách tiền tệ tới thị trường. Chính vì vậy việc đảm bảo an toàn cho ngân
nghiệp và các tổ chức cho vay, sau đó chuyển chúng thành các khoản tín dụng dài
hạn cho người đi vay
Thứ hai, trong điều kiện cạnh tranh các ngân hàng luôn phải đáp ứng một cách
hoàn hảo các nhu cầu về thanh khoản của khách hàng. Khách hàng gửi tiền có thể
rút trước hạn. Vì vậy nếu nhu cầu rút tiền tăng cao trong khi các khoản tín dụng
đến hạn của khách hàng không được hoàn trả theo đúng kỳ hạn đã cam kết hoặc
khách hàng không thực hiện được các nghĩa vụ tài chính đã thỏa thuận thì ngân
hàng sẽ khó có khả năng hoàn trả cho người gửi tiền.
Thứ ba, Ngân hàng có thể gặp rủi ro thanh khoản từ hoạt động đầu tư. Đó là
những rủi ro liên quan đến khả năng trao đổi hoặc bán lại trên thị trường của chứng
khoán.
Thứ tư, từ sự vận động của yếu tố lãi suất thị trường. Giá trị tài sản mà ngân
hàng dự tính bán nhằm bổ sung thanh khoản có thể bị ảnh hưởng bởi sự biến động
của lãi suất. Từ đó tác động trực tiếp tới chi phí vốn vay trên thị trường tiền tệ
Các ngân hàng cần chú trọng đến rủi ro thanh khoản bởi tác động của loại rủi
ro này thường mang yếu tố bất ngờ với ngân hàng, thậm chí ở một số thời điểm có
thể coi tác động của nó với ngân hàng tương tự như tác động căn bệnh “nhồi máu
cơ tim”. Điển hình về tác động của rủi ro thanh khoản có thể kể đến sự đổ vỡ của
8000 Hợp tác xã và quỹ tín dụng nhân dân vào những năm 1989-1990 hay sự kiện
Ngân hàng Á Châu ACB vào năm 2003.
b. Rủi ro tín dụng
Theo báo cáo công bố kết quả lợi nhuận năm 2010 của các Ngân hàng thì lợi
nhuận từ hoạt động tín dụng vẫn chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng lợi nhuận của các
Ngân hàng (VCB 40%, VP BANK 35,7% - Theo BCTC năm 2010). Điều đó cho
thấy tín dụng vẫn là nghiệp vụ chủ yếu của các ngân hàng hiện nay. Tuy nhiên, đi
kèm với mức độ đóng góp lợi nhuận như trên chính là mức độ rủi ro của nghiệp vụ
này cũng chiếm phần lớn trong tổng mức rủi ro của ngân hàng. Đó là khi ngân
Nguyễn Thanh Tùng NHC-K10
Khóa luận tốt nghiệp [7] Học viện Ngân hàng
hàng không thu được đầy đủ gốc và lãi theo các điều khoản đã thỏa thuận trong
bằng về thông tin mà mỗi bên có được. Khi đó một bên thường không biết tất cả
những gì mà người ta cần biết về bên đó để có được một quyết định đúng đắn.
Ngoài ra nguyên nhân khách quan có thể xuất phát từ yếu tố môi trường kinh tế,
môi trường pháp lý bên cạnh các yếu tố bất khả kháng như bão lụt, thiên tai, dịch
bệnh gây tổn thất cho hoạt động kinh doanh của khách hàng.
c. Rủi ro lãi suất
Là những tổn thất tiềm tàng mà ngân hàng phải gánh chịu khi lãi suất thị
trường biến động. Hay đó chính là nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của
ngân hàng khi lãi suất thị trường biến động. Bao gồm :
Rủi ro về thu nhập: là khả năng suy giảm thu nhập lãi ròng của ngân hàng khi
lãi suất thị trường biến động
Rủi ro giảm giá trị tài sản: là khả năng giá trị ròng của ngân hàng bị suy giảm
khi lãi suất thị trường biến động
Nguyễn Thanh Tùng NHC-K10
Khóa luận tốt nghiệp [9] Học viện Ngân hàng
Có thể đánh giá rủi ro lãi suất thông qua mô hình định giá lại hoặc mô hình
thời lượng
1
Nguyên nhân rủi ro lãi suất
Sự biến động của lãi suất thị trường
Lãi suất là giá của vốn vay. Do đó ngân hàng khó có thể kiểm soát được xu
hướng và mức độ biến động của lãi suất. Bởi lãi suất được hình thành dựa trên mối
quan hệ tương tác của rất nhiều yếu tố tác động đến cung cầu tín dụng (Sơ đồ 1.2)
Ngân hàng cần có kế hoạch hoạt động phù hợp dựa trên mức độ hiện tại và cơ
sở dự báo lãi suất.
d. Rủi ro tỷ giá
Là rủi ro xuất hiện trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối do sự biến động về tỷ
giá giữa các đồng tiền. Trong điều kiện hoạt động kinh doanh ngoại hối ngày càng
được mở rộng như hiện nay thì việc quản lý rủi ro tỷ giá càng cần phải được coi
trọng. Theo Peter S.Rose, rủi ro tỷ giá là khả năng thiệt hại, tổn thất mà ngân hàng
ngày càng nghiêm trọng và có xu hướng tăng lên trong tổng số rủi ro hàng năm của
ngâ hàng. Sự phức tạp của việc kiểm soáy rủi ro hoạt động được thể hiện qua sơ đồ
mối quan hệ giữa các thành phần của rủi ro hoạt động như sau:
Sơ đồ 1.3. Mối quan hệ giữa các thành phần của rủi ro hoạt động
2
Page 137 - Paragraph V/A: Definition of operational risk - Basel II (Basel Committee on Banking
Supervision)
Nguyễn Thanh Tùng NHC-K10
Quy trình, hệ thống
Con người
Sự kiện bên ngoài
Gian lận nội bộ
Thiệt hại về tài sản
Lỗi hệ thống
Tổn thất
Trách nhiệm
Mất mát tài sản
Kế hoạch ngăn ngừa/giảm thiểu rủi ro hoạt
động.
Cơ sở dữ liệu tổn thất
Cơ sở dữ liệu tổn thất
Nguyên
nhân
Dấu
hiệu
Ảnh
hưởng
Khóa luận tốt nghiệp [11] Học viện Ngân hàng
1.1.1.3. Tác động tiêu cực của rủi ro tới hoạt động ngân hàng và nội dung cơ
bản về quản lý rủi ro
lập, do những quyết định sai lầm của Nicolas Leeson - người phụ trách chi nhánh
Barings tại Singapore đặt cược quá cao vào chỉ số Nikkei, rủi ro tại Ngân hàng
Societe Generale của Pháp năm 2008 làm thiệt hại 4,9 tỷ EUR, vụ việc nhân viên
điểm giao dịch của một NHTM nhà nước giả mạo chữ ký khách hàng để rút số tiền
lên tới 24 tỷ đồng năm 2007 hay vụ việc nữ nhân viên của kiểm soát “rút ruột” gần
24,5 tỷ đồng của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Hà Nội năm 2010…là
một vài ví dụ về tổn thất do rủi ro hoạt động gây nên.
Như vậy, rủi ro khi xảy ra nhẹ thì sẽ ảnh hưởng tới chi phí, thu nhập, dòng tiền
dự tính của ngân hàng, gây nên những tổn thất về lợi nhuận cho ngân hàng, nặng
thì khiến cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng thua lỗ, bị đình trệ. Trường hợp
xấu nhất là khiến cho ngân hàng phá sản, và sự đóng cửa của một ngân hàng có thể
gây ảnh hưởng cho cả hệ thống và cho toàn bộ nền kinh tế.
Nội dung cơ bản quản lý rủi ro
Rủi ro luôn tiềm tàng trong hoạt động của Ngân hàng. Do đó đòi hỏi các Ngân
hàng phải quản lý rủi ro hiệu quả mà trước hết là khả năng nhận biết, lượng hóa
hay đo lường và phòng ngừa rủi ro. Cụ thể, các ngân hàng sẽ thiết lập và vận hành
hệ thống quản lý rủi ro phù hợp với điều kiện riêng biệt và mức độ phức tạp trong
hoạt động. Đồng thời kiểm soát hiệu quả các rủi ro trọng yếu trong hoạt động ngân
hàng một cách độc lập, khách quan, trung thực, thống nhất trong ngân hàng và
được thể hiện bằng văn bản. Có thể tóm gọn nội dung về quản lý rủi ro trong các
ngân hàng thương mại như sau:
Nguyễn Thanh Tùng NHC-K10
Khóa luận tốt nghiệp [13] Học viện Ngân hàng
Về quy trình quản lý rủi ro:
Bao gồm các tài liệu dưới hình thức văn bản được Hội đồng quản trị, đảm bảo
rằng các cán bộ liên quan thường xuyên được cập nhật tài liệu mới nhất về các
chính sách quản trị, đồng thời quy trình quản lý rủi ro cũng đảm bảo các rủi ro
trọng yếu được sớm nhận dạng, báo cáo đầy đủ và kiểm soát kịp thời.
Quy trình quản lý rủi ro tối thiểu có các nội dung sau: Phân định cơ cấu tổ
chức, trách nhiệm và nhiệm vụ của quản lý rủi ro, nhận dạng và đo lường rủi ro,
chiến lược, chính sách quy trình của ngan hàng trong các hoạt động hàng ngày.
Xây dựng và triển khai các quy trình và các phương pháp nhận dạng, đo lường,
đánh giá, theo dõi và kiểm soát rủi ro phù hợp với khả năng chịu đựng rủi ro của
ngân hàng.
Ban kiểm soát: Giám sát và đánh giá việc thực hiện các chiến lược, chính sách
quy trình và giới hạn quản lý rủi ro của ngân hàng tuân thủ theo các quy định của
pháp luật, đảm bảo phù hợp với chiến lược kinh doanh.
Ví dụ như trong quản lý rủi ro tín dụng thì nội dung thứ nhất là các ngân hàng
cần đảm bảo nguyên tắc chung trong hoạt động cấp tín dụng và hoạt động kinh
doanh giao dịch là người làm việc ở khối sau và bộ phận kiểm soát rủi ro không
được chủ trì thực hiện các hoạt động kinh doanh thuộc nhiệm vụ của khối trước và
ngược lại. Nội dung thứ hai là các ngân hàng nên có các chính sách nội bộ, các hệ
thống kiểm soát hiệu quả để xác định, đo lường, theo dõi rủi ro tín dụng của Ngân
hàng. Ngân hàng cần phải xem xét một cách rõ ràng mức độ tập trung rủi ro tín
dụng trong việc đánh giá mức độ an toàn vốn. Như vậy, các nội dung cơ bản về
quản lý rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường…cần
phải thực hiện theo khuôn khổ quy định của ngân hàng trong một tài liệu rõ ràng và
cần bao gồm các định nghĩa về các mức tập trung rủi ro có liên quan tới ngân hàng,
cách tính mức độ tập trung và các hạn mức tương ứng của chúng. Từ đó trong quá
trình hoạt động, các ngân hàng đánh giá mức độ rủi ro, cách thức được quản lý và
mức độ ngân hàng xem xét chúng trong việc đánh giá nội bộ về mức độ an toàn
vốn. Những đánh giá đó bao gồm cả việc xem xét kết quả kiểm tra thử nghiệm khả
năng chống lại các tình huống xấu của ngân hàng.
1.1.2. Sự cần thiết phải duy trì các quy định về an toàn vốn
1.1.2.1. Tầm quan trọng của vốn ngân hàng
Nguyễn Thanh Tùng NHC-K10
Khóa luận tốt nghiệp [15] Học viện Ngân hàng
Đi kèm với các hoạt động kinh doanh của mình, Ngân hàng sẽ sử dụng nhiều
biện pháp để quản trị và đối phó với rủi ro. Trong đó chủ yếu tập trung vào việc
nâng cao chất lượng quản lý, sử dụng các công cụ tài chính phái sinh, bảo hiểm
mệnh giá hiện hành. Cổ phiếu ưu đãi có thể là vĩnh viễn hoặc chỉ tồn tại trong một
thời gian nhất định.
- Thặng dư vốn: thể hiện phần chênh lệch giữa giá trị thị trường mà các cổ
đông trả cho ngân hàng của các cổ phiếu phát hành so với mệnh giá.
- Lợi nhuận để lại: thể hiện phần thu nhập của ngân hàng được giữ lại trong
quá trình kinh doanh thay vì dùng để chi trả cổ tức.
- Các khoản dự trữ vốn thể hiện quỹ vốn tích luỹ theo thời gian để phòng ngừa
những tình huống bất thường có thể xảy ra như những hoạt động kiện tụng gây bất
lợi cho ngân hàng, để lập quỹ thanh toán cổ tức theo kế hoạch và quỹ thanh toán
nợ, cổ phiếu trong tương lai.
- Giấy nợ thứ cấp có khả năng chuyển đổi là khoản nợ vốn dài hạn do nhà đầu
tư bên ngoài đóng góp. Theo luật, những người này có quyền hưởng thu nhập từ
ngân hàng sau những người gửi tiền. Những chứng khoán nợ này có khả năng
chuyển đổi thành cổ phần thường của ngân hàng.
- Thu nhập từ các công ty thành viên và từ các tổ chức mà ngân hàng nắm cổ
phần sở hữu: khoản mục này chiếm một tỷ lệ không lớn trong cấu thành vốn của
ngân hàng nhưng lại là một nguồn tài trợ dài hạn cho ngân hàng.
Như vậy, đảm bảo an toàn vốn trong ngân hàng chính là cơ sở, tiền đề đảm bảo
cho ngân hàng hoạt động hiệu quả.
1.1.2.2. Xác định yêu cầu vốn trong ngân hàng
Công tác quản trị rủi ro luôn đòi hỏi một mức độ chính xác cao, chính vì vậy
mà việc xác định một yêu cầu vốn hợp lý sao cho vừa có thể đảm đảm bảo an toàn
vừa có thể sử dụng hiệu quả trong kinh doanh luôn khiến các nhà quản trị, các nhà
lãnh đạo phải suy nghĩ. Trải qua quá trình xây dựng và phát triển, nhiều tỷ lệ, nhiều
cách xác định đã được đưa ra như tổng số vốn/tổng tài sản, tổng số vốn/tổng tiền
gửi hay tổng số vốn/tổng tài sản “có” rủi ro. Và hiện nay, để đánh giá mức độ đủ
vốn thì các ngân hàng trên thế giới cũng như Việt nam chủ yếu sử dụng tỷ lệ an
toàn vốn CAR (Capital Adequacy Ratio) do Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng
Nguyễn Thanh Tùng NHC-K10
Khóa luận tốt nghiệp [17] Học viện Ngân hàng
thống ngân hàng luôn là yêu cầu cấp thiết. Nó đảm bảo khả năng thực hiện các
mục tiêu của ngân hàng, đồng thời hạn chế triệt để các rủi ro có thể xảy ra.
Và để đảm bảo an toàn không chỉ trong một ngân hàng mà trong toàn hệ thống
thì một mặt các ngân hàng cần phải hoàn thiện quy trình quản trị rủi ro, một mặt
Nguyễn Thanh Tùng NHC-K10
Khóa luận tốt nghiệp [18] Học viện Ngân hàng
cần phải áp dụng triệt để các quy định về an toàn vốn do Ủy ban giám sát ngân
hàng Basel đưa ra.
1.2. Tổng quan về hiệp ước Basel
1.2.1. Ủy ban Basel và các thành viên
Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking
Surpervision) là một diễn đàn cho sự hợp tác thường xuyên về các vấn đề liên quan
đến giám sát hoạt động ngân hàng được thành lập vào năm 1974 bởi Thống đốc
Ngân hàng Trung ương nhóm G10 (10 nước phát triển) tại thạnh phố Basel Thụy
Sĩ. Hiện các thành viên của Ủy ban bao gồm Ngân hàng trung ương hoặc cơ quan
giám sát ngân hàng của các quốc gia: Đức, Bỉ, Hà Lan, Mỹ, Nhật, Pháp,
Luxembourg, Tây Ban Nha, Canada, Thụy Điển, Italia, Anh và Thụy Sĩ,
Argentina, Úc, Brazil, Trung Quốc, Pháp, Hồng Kông, Ấn Độ, Indonexia, Hàn
Quốc, Mexico, Nga, Ả Rập Xê Út, Singapore, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ.
Ủy ban Basel nhóm họp 4 lần trong một năm. Trong Ủy ban còn có 25 nhóm
kỹ thuật và một số bộ phận khác được nhóm họp thường xuyên để thực hiện các
nội dung công việc của Ủy ban. Mục tiêu của Ủy ban là hiểu rõ hơn về các vấn đề
mấu chốt trong việc giám sát hoạt động ngân hàng và nâng cao chất lượng giám sát
hoạt động ngân hàng trên toàn cầu. Để đạt được mục tiêu đó, Ủy ban trao đổi các
thông tin về các vấn đề giám sát hoạt động ngân hàng của các quốc gia, các
phương pháp và kỹ thuật với phương châm là để có một sự hiểu biết đồng nhất về
các vấn đề đó. Trên cơ sở đó, Ủy ban dùng sự hiểu biết đồng nhất để xây dựng,
công bố các văn bản về tiêu chuẩn, đồng thời hướng dẫn giám sát rộng rãi. Từ đó,
Ủy ban Basel được biết đến trên khắp thế giới về các thông lệ quốc tế mà họ đưa ra
về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, các nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng hiệu
- Phần khấu trừ khỏi vốn tự có (Vốn vô hình/Goodwill): giá trị tài chính mang
lại do thương hiệu và danh tiếng của ngân hàng cần được khấu trừ khỏi vốn cấp 1;
phần đầu tư của ngân hàng vào các chi nhánh, công ty con hạch toán độc lập của
mình, phần đóng góp vào các ngân hàng và tổ chức tài chính khác cần phải khấu
trừ khỏi tổng vốn tự có.
Quy định về tài sản có rủi ro
Nguyễn Thanh Tùng NHC-K10