Thực trạng và giải pháp về dự án cải tạo khu chung cư cũ tại thành phố hà nội của tổng công ty cổ phần sông hồng - Pdf 26

Trường Đại học Kinh doanh & Công nghệ Hà Nội Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Tô Thị Huyền Trang - 5CD0540
Khoa Quản lý kinh doanh
1
Trường Đại học Kinh doanh & Công nghệ Hà Nội Luận văn tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBCNVCNN : Cán bộ công nhân viên chức Nhà nước
CNH-HĐH : Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
GPMB : Giải phóng mặt bằng
HĐND : Hội đồng nhân dân
KCC : Khu chung cư
KCCC : Khu chung cư cũ
KTCQ : Kiến trúc cảnh quan
TCT : Tổng công ty
UBND : Uỷ ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Tô Thị Huyền Trang - 5CD0540
Khoa Quản lý kinh doanh
2
Trường Đại học Kinh doanh & Công nghệ Hà Nội Luận văn tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Tô Thị Huyền Trang - 5CD0540
Khoa Quản lý kinh doanh
3
Trường Đại học Kinh doanh & Công nghệ Hà Nội Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1/ Tính cấp thiết của đề tài:
Nhà ở là vấn đề vô cùng quan trọng đối với tất cả mọi người dân, không

1
Trường Đại học Kinh doanh & Công nghệ Hà Nội Luận văn tốt nghiệp
còn lại được xây dựng từ nguồn vốn tự có của các tổ chức kinh tế - xã hội hoặc
được tiếp quản từ chế độ cũ sau khi giải phóng Miền Nam (năm 1975). Do nhiều
nguyên nhân khác nhau: Khách quan là do thời gian đã làm cho các KCCC ngày
một xuống cấp trầm trọng; chủ quan phải kể đến là việc buông lỏng quản lý,
thiếu kinh phí bảo trì, làm cho quỹ nhà ở này ở trong tình trạng bị xuống cấp
nghiêm trọng. Hầu hết các KCCC đều xảy ra tình trạng “quá tải” và xuống cấp
về chất lượng, các căn hộ bị đục phá, cơi nới, xây dựng thêm bể nước, chuồng
cọp làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, cảnh quan đô thị. Đặc biệt có
những KCCC đã bị lún, nứt và xuống cấp trầm trọng rất dễ bị sụp đổ do tác
động bởi biến cố thiên tai như động đất, gió bão… Khi đó sẽ trở thành những
thảm họa lớn khó lường trước.
Trước tình hình trên Nhà nước cùng thành phố đã có những biện pháp để
cải tạo, nâng cấp các KCCC để đưa vào hoạt động, bổ sung quỹ nhà ở của thành
phố bằng cách tổ chức các buổi hội thảo, tham luận để đưa ra giải pháp phù hợp
nhất, kết hợp với đó là các văn bản (cơ chế chính sách) lần lượt được ban hành:
Nghị quyết 07/2005/NQ-HĐND ngày 05/08/2005 của HĐND thành phố về
việc cải tạo, xây dựng lại các KCCC xuống cấp trên địa bàn thành phố, coi đây
là nhiệm vụ cần quan tâm đặc biệt ở giai đoạn 2006-2015.
Nghị quyết 34/2007/NQ-CP ngày 03/07/2007 của Thủ tướng Chính phủ về
“một số giải pháp để thực hiện việc cải tạo, xây dựng lại các KCCC bị hư hỏng,
xuống cấp”.
Từ thực tế của vấn đề đang là trung tâm chú ý của tất cả các cấp chính
quyền từ Trung ương tới địa phương mà em đã đi sâu nghiên cứu về “THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ DỰ ÁN CẢI TẠO KHU CHUNG CƯ CŨ TẠI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI CỦA TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG HỒNG” để từ
đó cho chúng ta biết rõ hơn về hiện trạng nhà chung cư và tình hình cải tạo
KCCC và đề ra những giải pháp khắc phục trong thời gian tới giúp người dân ổn
định cuộc sống.

Khoa Quản lý kinh doanh
3
Trường Đại học Kinh doanh & Công nghệ Hà Nội Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỔNG CÔNG TY
CỔ PHẦN SÔNG HỒNG
1/ Khái quát chung về Tổng công ty:
- Tên doanh nghiệp: Tổng công ty cổ phần Sông Hồng.
- Tên giao dịch quốc tế: SONG HONG CORPORATION.
- Trụ sở chính: số 70 An Dương – phường Yên Phụ - quận Tây Hồ - thành
phố Hà Nội.
- Thành lập: 23/08/1958.
- Điện thoại: (84-4) 7171603 Fax: (84-4) 7171604.
- Email: [email protected]
- Website: http://www.songhongcorp.vn
Trong quá trình phát triển, TCT cổ phần Sông Hồng luôn coi khách hàng là
trung tâm, coi trọng uy tín doanh nghiệp và sự thỏa mãn của khách hàng, không
ngừng sáng tạo và đổi mới trong các hoạt động sản xuất kinh doanh để đáp ứng
tốt hơn những yêu cầu bằng những sản phẩm, dịch vụ có chất lượng và uy tín, sự
tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp luôn đồng hành với những giá
trị đích thực của toàn xã hội.
"Phát triển bền vững, thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng và đóng góp
nhiều nhất cho cộng đồng" là kim chỉ nam cho hoạt động sản xuất kinh doanh
của TCT cổ phần Sông Hồng trên bước đường hội nhập nền kinh tế thế giới.
"Thành công và niềm tin của bạn
Uy tín và sự phát triển của chúng tôi"
2/ Quá trình hình thành:
TCT cổ phần Sông Hồng là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Xây
dựng, tiền thân là Công ty Kiến trúc Việt Trì được Bộ Kiến trúc thành lập ngày
23/8/1958, trụ sở đóng tại Khu công nghiệp Việt Trì. Là đứa con đầu lòng của
ngành Xây dựng Việt Nam, TCT đã trải qua một chặng đường đầy gian nan thử

Xây dựng số 2; Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ thi công xây dựng nhiều công trình
lớn: mở rộng đợt hai nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao, nhà máy giấy Bãi
Bằng (Phú Thọ), sân bay Sao Vàng (Thanh Hoá), sân bay Nội Bài (Hà Nội)…
Ngày 14/6/1983, để đáp ứng yêu cầu chỉ đạo thi công công trình nhà
máy tuyển quặng Apatit Lào Cai - công trình trọng điểm quốc gia; Bộ Xây dựng
quyết định thành lập TCT Xây dựng Vĩnh Phú - Hoàng Liên Sơn trên cơ sở lực
Tô Thị Huyền Trang - 5CD0540
Khoa Quản lý kinh doanh
5
Trường Đại học Kinh doanh & Công nghệ Hà Nội Luận văn tốt nghiệp
lượng nòng cốt là Công ty Xây dựng số 22, trụ sở đóng tại xã Tằng Loỏng -
Huyện Bảo Thắng - Tỉnh Hoàng Liên Sơn, cách thành phố Việt Trì hơn 300 Km.
Sau hơn 10 năm xây dựng công trình Nhà máy tuyển quặng Apatít Lào Cai,
trải qua bao phấn đấu hy sinh, vừa sản xuất, vừa chiến đấu nơi biên cương phía Bắc
của Tổ quốc, công trình trọng điểm của cả nước đã hoàn thành đưa vào sản xuất.
Để phù hợp với nhiệm vụ mới, ngày 04/9/1991 TCT Xây dựng Vĩnh Phú - Hoàng
Liên Sơn được Bộ Xây dựng đổi tên thành TCT Xây dựng Sông Hồng, đồng thời
chuyển trụ sở về đóng tại Thành phố Việt Trì - quê hương Đất Tổ Hùng Vương.
Ngày 20/11/1995, TCT Xây dựng Sông Hồng được Bộ Xây dựng thành
lập lại theo uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ với mô hình mới có Hội đồng
quản trị.
Ngày 25/8/2006, TCT Xây dựng Sông Hồng được Bộ Xây dựng quyết
định chuyển mô hình tổ chức hoạt động theo mô hình Công ty Mẹ - Công ty
Con, đổi tên thành TCT cổ phần Sông Hồng.
Ngày 01/01/2007, được sự đồng ý của Bộ Xây dựng và UBND thành phố
Hà Nội, TCT Sông Hồng chính thức chuyển trụ sở từ thành phố Việt Trì - Tỉnh
Phú Thọ về địa chỉ số 70 An Dương - Quận Tây Hồ - Thành phố Hà Nội.
Trải qua hơn 52 năm xây dựng và phát triển, với nhiều biến động gắn liền
với những đổi thay của đất nước; TCT Sông Hồng luôn hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, Bộ Xây dựng giao cho. Từ một đơn vị nhỏ

TCT cổ phần Sông Hồng quyết tâm phấn đấu trở thành một trong những
doanh nghiệp hàng đầu của ngành Xây dựng trên cơ sở liên kết sức mạnh của
các thành viên với sức mạnh của các đối tác cùng hệ thống sản phẩm và dịch vụ
mang tính chất chuyên nghiệp được hoàn thiện liên tục và được mở rộng một
cách có chọn lọc nhằm tạo lập và đóng góp các giá trị lâu dài cho doanh nghiệp
và cộng đồng.
• Sứ mệnh:
Không ngừng nâng cao khả năng thoả mãn nhu cầu của khách hàng, tạo
điều kiện phát triển tài năng, chất lượng cuộc sống của cán bộ công nhân viên,
khả năng sinh lợi cho các chủ sở hữu và sự hưng thịnh của đất nước.
4/ Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý:
Tô Thị Huyền Trang - 5CD0540
Khoa Quản lý kinh doanh
7
Trường Đại học Kinh doanh & Công nghệ Hà Nội Luận văn tốt nghiệp
Sơ đồ bộ máy tổ chức (trước khi cổ phần hóa)
Tô Thị Huyền Trang - 5CD0540
Khoa Quản lý kinh doanh
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN TỔNG GIÁM ĐỐC
BAN KIỂM SOÁT
PHÒNG BAN CHỨC
NĂNG
ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP ĐƠN VỊ
TRỰC THUỘC
Phòng Đầu tư
Phòng
Tài chính - Kế toán
Phòng Tiếp thị và Đấu
thầu

Các Ban quản lý dự án
Các Ban điều hành dự án
8
Trường Đại học Kinh doanh & Công nghệ Hà Nội Luận văn tốt nghiệp
Mô hình tổ chức Công ty mẹ - Công ty con sau cổ phần hóa
Tô Thị Huyền Trang - 5CD0540
Khoa Quản lý kinh doanh
9
ĐẠI HỘI ĐỒNG
CỔ ĐÔNG
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN TỔNG GIÁM ĐỐC
BAN KIỂM SOÁT
CÁC PHÒNG BAN
CHỨC NĂNG
CÁC ĐƠN VỊ
TRỰC THUỘC
CÁC CÔNG TY CON CÁC CÔNG TY LIÊN KẾT
Trường Đại học Kinh doanh & Công nghệ Hà Nội Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN DỰ
ÁN CẢI TẠO CHUNG CƯ CŨ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI CỦA
TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG HỒNG
A - Thực trạng các khu chung cư cũ tại thành phố Hà Nội
1/ Sự cần thiết phải cải tạo các khu chung cư cũ:
Nhà ở là một nhu cầu không thể thiếu được trong sự tồn tại và phát triển
của xã hội. Tại các Thủ đô vấn đề nhà ở bao giờ cũng được đặt lên là nhiệm vụ
trung tâm hàng đầu, Thủ đô Hà Nội trong những năm trước đây mặc dù kinh tế
đất nước còn nghèo, nhưng Đảng, Nhà nước và Lãnh đạo thành phố cũng đã có
sự quan tâm rất lớn tới vấn đề nhà ở, hàng triệu m
2

nối bị hỏng, nền nhà lún sâu so với mặt đất tự nhiên, hệ thống hạ tầng bị hư
hỏng gây ứ đọng chất thải làm ô nhiễm môi trường.
Các KCCC được xây dựng vào những năm 60-90 của thế kỷ trước. Trong
thời gian đó sự ra đời của các KCCC này rất hợp lý, phù hợp với nhu cầu của đa
số người dân, đáp ứng được nhu cầu ở, môi trường sống của họ lúc bấy giờ.
Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thì nhu cầu của con
người về chỗ ở và môi trường sống cũng phát triển theo; con người không chỉ
cần nơi để cư trú, che mưa, che nắng… mà nhu cầu được sống ở trong một căn
hộ có diện tích lớn, thoáng mát, đầy đủ tiện nghi cùng với không gian bên ngoài
không đơn giản chỉ có cây xanh, đường giao thông, khu vui chơi giải trí mà
không gian đó phải thoáng đãng, đủ rộng, đầy đủ tiện nghi và hiện đại… cùng
với một hệ thống dịch vụ là yêu cầu tối thiểu không thể thiếu.
Trước đây do bản chất nền kinh tế Việt Nam: Tự cung, tự cấp, những nhu
cầu thiết yếu đối với mỗi người, mỗi gia đình đều được nhà nước cung cấp đầy
đủ, chế độ bao cấp, tem phiếu… (đa số những người sống trong KCCC đều là
CBCNVCNN). Chính vì vậy khi xây dựng các KCC thời kỳ trước họ không hề
để ý đến nhu cầu về dịch vụ của người dân. Ở hầu hết các KCCC đều không
xuất hiện dịch vụ này mà ở một số nơi ngày nay xuất hiện do những hộ gia đình,
cá nhân (chủ yếu sống ở tầng 1) tự ý mở ra để đáp ứng nhu cầu của người dân.
Ngày nay nền kinh tế đã chuyển từ bao cấp sang nền kinh tế thị trường thì nhu
cầu về dịch vụ là không thể thiếu. Chính vì vậy các KCC đã trở nên lỗi thời, lạc
hậu, không còn phù hợp với xu thế phát triển hiện đại nên cần có sự cải tạo,
nâng cấp, sửa chữa, xây dựng lại là một xu thế tất yếu không thể tránh khỏi.
Tô Thị Huyền Trang - 5CD0540
Khoa Quản lý kinh doanh
11
Trường Đại học Kinh doanh & Công nghệ Hà Nội Luận văn tốt nghiệp
Dân số sống trong KCCC ngày càng tăng do vậy nhu cầu về diện tích và
không gian sống ngày càng tăng, chính vì vậy mà nhu cầu cải tạo, sửa chữa,
xây dựng mới các KCCC là một nhu cầu cần thiết để đáp ứng nhu cầu sống của

61/CP, với nhiều chuyển đổi khác nhau ở khu vực nhà nước, khu vực xã hội,
khu vực tư nhân và các sở hữu khác.
Tô Thị Huyền Trang - 5CD0540
Khoa Quản lý kinh doanh
12
Trường Đại học Kinh doanh & Công nghệ Hà Nội Luận văn tốt nghiệp
Các chỉ tiêu sử dụng đất đai công cộng, đất xây dựng các nhà ở, đất cây
xanh và không gian trống khác. Đến nay, hầu hết đã biến dạng, mặc dù đã có
quy hoạch xây dựng trước đây đã được sắp xếp khá chi tiết và cụ thể theo từng
chức năng sử dụng trong các KCCC.
Có thể nói gần như tất cả các KCCC ở Hà Nội đã bị hư hỏng, bị phá phách
lung tung, vô tổ chức, vô kỷ luật mà không hề có một sự quản lý nhắc nhở hoặc
xử phạt nghiêm minh của Thành phố. Vấn đề lấn chiếm đất đai trái phép của các
hộ tầng một và các khu trống khác trong các KCCC là phổ biến đang trở thành
một sức cản mạnh trong vấn đề cải tạo, sửa chữa và giải phóng mặt bằng khi có
dự án xây dựng.
Trước đây các KCCC chỉ có một ông chủ lớn là thành phố hoặc cơ quan
nhà nước quản lý, cả một tập thể người ở đồng nhất, thì không có nhiều mâu
thuẫn lớn, ngày nay trong các khu ở cũ ta có hàng trăm, hàng ngàn ông chủ nhỏ,
kể cả trong một công trình nhà ở (sau khi nhà nước đã bán, nhượng lại với cái
giá rẻ mạt các căn hộ cho người ở theo Nghị định 61/CP) ta lại có thêm hàng
chục, hàng trăm ông chủ mới, mỗi người suy nghĩ một kiểu và không dễ gì
thuận chiều theo chủ đầu tư và thành phố.
Các KCCC trong nội thành Hà Nội có nhiều lợi thế về mặt địa lý, vị trí đất
đai có giá trị cao cả về mặt tổ chức không gian, công năng sử dụng và giá trị
kinh tế đặc biệt. Đây là cơ hội tốt cũng là yếu tố đặc biệt quan trọng cần xem xét
để có kế hoạch triển khai cũng như phương pháp sử dụng đất đai hợp lý, đặt lợi
ích của thành phố và cộng đồng dân cư lên trên hết, để có chính sách và biện
pháp xử lý có chất lượng trong quy hoạch cải tạo, trong cơ chế xã hội hoá và
trong bố cục không gian quy hoạch đô thị hiện đại.

phá vỡ của cơ cấu dân cư đã làm ảnh hưởng đến sinh hoạt cũng như cuộc sống
của người dân, nhất là tại các công trình nhà ở lắp ghép trong tình trạng lún nứt
nguy hiểm. Đặc biệt có những khu nhà đã ở trong tình trạng nguy hiểm có thể
sập đổ bất cứ lúc nào (như khu P3 Phương Liệt; khu 17 nhà gỗ ngoài đê phường
Chương Dương; khu B6 Giảng Võ; E6, E7 Quỳnh Mai; A Ngọc Khánh; Nguyễn
Công Trứ; khu Văn Chương, Khu B Kim Liên ).
Qua kiểm tra đánh giá khảo sát đại bộ phận các nhà đều thiết kế móng đặt
tương đối nông, chủ yếu lại trên nền đất Hà Nội vốn là nền đất yếu. Ngoài ra
khu nhà lắp ghép lại bị xây dựng trên nền đất có nhiều biến động làm cho hiện
tượng lún tăng rõ rệt (vùng Giảng Võ - Ngọc Khánh – Thành Công có 30% số
lượng nhà bị lún).
Tô Thị Huyền Trang - 5CD0540
Khoa Quản lý kinh doanh
14
Trường Đại học Kinh doanh & Công nghệ Hà Nội Luận văn tốt nghiệp
2.2/ Tình trạng ở và mô hình ở tại các khu chung cư cũ trên địa bàn
thành phố Hà Nội:
Các KCCC tại Hà Nội xét về tổng quan dễ nhận thấy đã trải qua các giai
đoạn sau:
+ Nhà tập thể nhiều tầng (1954-1960) như An Dương, Phúc Xá, Mai
Hương, với giải pháp chỉ là phòng ở, hành lang bên khu phụ tập trung.
+ Nhà nhiều tầng (1960-1975) như Nguyễn Công Trứ, Kim Liên, Trung
Tự, Thành Công, Giảng Võ… được xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước theo
mô hình tiểu khu nhà ở như khu Trung Tự xây dựng năm 1971 với 6 nhóm nhà
đồng bộ với các công trình hạ tầng xã hội, kiểu căn hộ khép kín nhưng không
độc lập.
+ Nhà tập thể kiểu mới, xây xen (1975-1986) đó là các khu Thanh Xuân,
Lạc Trung, Phương Mai, Ngã Tư Vọng… Trong thời kỳ này vốn xây dựng
ngoài nguồn vốn ngân sách còn vốn từ các cơ quan, doanh nghiệp. Đây cũng là
thời kỳ mô hình tiểu khu bị phá vỡ nhiều, gia tăng các loại hình nhà ở để tăng

dòng sông với các bãi bồi hiện đại và các bãi bồi cao, ngoài ra còn có các vùng
trũng với các hồ đầm (dấu vết của các dòng sông cổ). Riêng các bậc thềm sông
chỉ có ở phần lớn huyện Sóc Sơn và ở phía Bắc huyện Đông Anh, nơi có địa thế
cao so với các vùng của Hà Nội. Ngoài ra, Hà Nội còn có các dạng địa hình núi,
tập trung ở khu vực đồi núi Sóc Sơn với diện tích không lớn lắm.
Xét về mặt thời gian hình thành lớp phù sa, có thể phân bố thành phố Hà
Nội thành 2 vùng: vùng phù sa cũ (đại bộ phận nằm ở phía tả ngạn sông Hồng,
phía Tây quốc lộ 1. Đất được hình thành trên nền trầm tích thuộc thời kỳ thứ 4,
khả năng chịu nén tốt). Vùng phù sa mới (nằm ở phía Nam ngoại thành Hà Nội,
phần lớn ở huyện Gia Lâm, Thanh Trì, Từ Liêm. Đất ở đây chủ yếu do phù sa
mới của sông Hồng hình thành, nền đất yếu hơn vùng trên).
Đặc điểm địa hình này làm cho các công trình ở Hà Nội rất dễ bị sụt lún
do nền đất yếu. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng xuống
cấp nghiêm trọng của các KCCC ở Hà Nội.
• Khí hậu:
Hà Nội nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, quanh năm tiếp nhận
được lượng bức xạ mặt trời dồi dào. Tổng lượng bức xạ trung bình hàng năm
Tô Thị Huyền Trang - 5CD0540
Khoa Quản lý kinh doanh
16
Trường Đại học Kinh doanh & Công nghệ Hà Nội Luận văn tốt nghiệp
khoảng 120 kcal/cm², nhiệt độ trung bình năm 24°C, độ ẩm trung bình 80 - 82
%, lượng mưa trung bình 1.660 mm/năm. Chính loại khí hậu này đã làm cho các
công trình nhà ở ở Hà Nội càng dễ bị hư hỏng.
b/ Đặc điểm kinh tế - xã hội:
Hà Nội là trung tâm kinh tế chính trị xã hội lớn nhất của cả nước, nền kinh
tế phát triển mạnh và cơ cấu kinh tế phức tạp.
Quá trình tăng trưởng kinh tế gắn với quá trình tăng quy mô, chất lượng
về nhà ở, chính vì vậy mà những KCC được xây dựng trước đây đã trở nên lạc
hậu và không còn phù hợp với thực tế hiện nay: Nó vừa không đáp ứng nhu

dựng cải tạo lại nhà ở để đáp ứng nhu cầu này.
Căn cứ vào các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội trong
giai đoạn 2006 – 2010, dự kiến các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm của
thành phố như sau.
Bảng 1: Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2006-2010
STT Chỉ tiêu KH 2006 - 2010
1. Dân số trung bình năm 2010 3,5 triệu người
2. Tốc độ tăng GDP bình quân/năm 10,5 – 11,5%
3. GDP bình quân đầu người 2.300 USD
4.
Tốc độ tăng giá trị tăng thêm công nghiệp bình
quân/năm
10,5 – 11,5%
5. Tốc độ tăng giá trị thêm dịch vụ bình quân/năm 11 – 12%
6.
Tốc độ tăng giá trị tăng thêm nông, lâm, ngư nghiệp
bình quân/năm
1 – 2%
7.
Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu bình quân/năm.
Trong đó: xuất khẩu địa phương
16 – 18%
17 – 18%
8.
Cơ cấu kinh tế theo GDP
- Dịch vụ
- Công nghiệp
- Nông nghiệp
58%
40,2%

tắc giao thông thường xuyên xảy ra tại các nút giao thông liên hệ các KCCC với
các đường phố bao quanh.
+ Về giao thông: do sự gia tăng dân số sinh sống trong khu vực, tình trạng
xây dựng cơi nới, lấn chiếm không được kiểm soát nên mạng lưới đường trong
các KCCC ngày càng bị thu hẹp, mặt cắt ngang đường không đủ để lưu thông,
thiếu diện tích dành cho giao thông tĩnh. Tại các nút giao thông liên hệ từ trong
các KCC đi ra ngoài thường xuyên bị ùn tắc vào giờ cao điểm do lưu lượng xe
cộ lớn, lối vào quá hẹp.
+ Về mạng lưới cấp nước: Chắp vá, không đồng bộ và chưa đáp ứng tối đa
nhu cầu của nhân dân.
+ Về mạng lưới thoát nước: Đã cũ kỹ, lạc hậu, hỏng hóc, bị lấn chiếm, các
hồ chứa điều hoà bị bồi lấp, thu hẹp diện tích, tình trạng ô nhiễm ngày càng trầm
trọng, hiện tượng ngập úng thường xuyên xảy ra vào mùa mưa.
+ Về mạng lưới cấp điện: Mạng lưới dây điện hầu hết đều đi nổi trên cột,
đấu nối chằng chịt, gây mất mỹ quan đô thị.
2.5/ Vấn đề cảnh quan môi trường trong các khu chung cư cũ tại Hà Nội:
Giải quyết vấn đề nhà ở không chỉ bó gọn trong phạm vi căn hộ, không chỉ
quan tâm đến tiện nghi trong căn nhà và tiện ích ở, mà còn phải quan tâm đến
môi trường ở nói chung. Kinh nghiệm nhiều năm chỉ ra rằng bản chất môi
trường ở tạo cảm giác thoải mái và tiện ghi hơn nhiều chính bản thân ngôi nhà.
Chính môi trường ở là yếu tố rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng ở.
Vì thế nhiệm vụ chính của kiến trúc cảnh quan là tổ chức không gian trống
ngoài căn hộ. Tuy nhiên tại các KCCC của Hà Nội điều này chưa được quan tâm
một cách đúng mức.
Dù chỉ chiếm 20% quỹ nhà ở đô thị, nhưng các KCCC được xây dựng theo
mô hình tiểu khu của các nước XHCN trước đây đã giải quyết một phần nhà
trong quá trình đô thị hoá, tạo ra lối sống đô thị mới trong một bộ phận dân cư
và mô hình mới mang tính cộng đồng và xã hội cao hơn so với nhà ở theo kiểu
Tô Thị Huyền Trang - 5CD0540
Khoa Quản lý kinh doanh

Chỉ có vườn hoa của khu Thanh Xuân là được thiết kế và chăm sóc tốt.
Một số khu ở có hồ nước lớn là trung tâm nghỉ ngơi của người dân, tạo nên
vẻ đẹp về cảnh quan của các khu ở. Một vài hồ nước đã được xây kè và có tuyến
Tô Thị Huyền Trang - 5CD0540
Khoa Quản lý kinh doanh
20
Trường Đại học Kinh doanh & Công nghệ Hà Nội Luận văn tốt nghiệp
đường dạo xung quanh hồ, liên kết với hệ thống đường đi của khu ở. Xung
quanh hồ có các thảm cỏ, cây trồng, ghế đá… tạo nên những không gian mở có
giá trị về mặt sử dụng để tập thể dục buổi sáng hay đi dạo vào buổi tối… của
dân cư, góp phần cải tạo môi trường sống, như khu Thành Công, Giảng Võ. Bên
cạnh đó một số hồ như ở khu Kim Liên chưa có đường dạo ven hồ cũng như
chưa nối với hệ thống đường chung của khu ở, gây nên sự cách biệt và đóng kín
của hồ nước, trở thành ao tù rất ô nhiễm.
Do nhu cầu cuộc sống, mỗi khu ở đều xuất hiện một chợ cóc. Những chợ
này không được quy hoạch và quản lý chặt chẽ đã ảnh hưởng rất nhiều đến điều
kiện vệ sinh môi trường và cảnh quan đô thị.
Hình khối và mặt đứng kiến trúc: Ngôi nhà ở đều là những khối chữ nhật
đơn giản, có chiều cao đồng đều 4-5 tầng. Tổ hợp mặt đứng nghèo nàn, đặc biệt
những ngôi nhà xây dựng kiểu lắp ghép tấm lớn đã thể hiện một ngôn ngữ đơn
điệu. Hơn thế nữa, trong quá trình sử dụng việc lấn chiếm tầng một, xây thêm
những hình khối, đặc biệt là “chuồng cọp” xấu xí đã làm mất hoàn toàn mỹ quan
của mặt đứng các ngôi nhà.
Phần lớn nhà ở đã xuống cấp nghiêm trọng về kết cấu và hình thức
kiến trúc.
+ Cây xanh: Trong khu ở hiện trạng cây xanh quá nghèo nàn về thể loại và
hình thức tổ hợp. Cây xanh được trồng một cách tự phát, không có ý đồ tổng
thể, phần lớn không có người quản lý. Tuy nhiên vẫn tạo được mầu xanh và sự
râm mát cho khu ở.
+ Chiếu sáng: Trong các KCC hình thức đèn lẫn những tiện ghi chiếu sáng

thực hiện dự án Xây dựng nhà ở cao tầng I1, I2, I3 và văn phòng cho thuê Thành
Công 2 tại Phường Láng Hạ - Quận Đống Đa - Hà Nội.
1/ Khái quát chung về dự án:
Khu nhà ở I1, I2, I3 Thành Công được xây dựng vào khoảng thập niên 60 của
thế kỷ trước. Gồm 3 khu nhà 5 tầng thuộc khu tập thế Thành Công, đường Thái Hà,
quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Sau khi rà soát kiểm tra đã tiến hành phân loại
mức độ nguy hiểm để phân chia giai đoạn kiểm định đánh giá chất lượng các KCC
và đề xuất các biện pháp xử lý thì khu I1, I2, I3 Thái Hà thuộc diện đặc biệt nguy
hiểm, ảnh hưởng đến tính mạng người dân cần phải phá bỏ gấp.
Dự án nhà cao tầng và căn hộ cho thuê I1, I2, I3 Thành Công có quy mô
sử dụng diện tích đất 5.152 m2, xây dựng hạ tầng kỹ thuật với diện tích khoảng
3.520 m2, tổng diện tích sàn khoảng 50.634 m2. Tổ hợp công trình bao gồm hai
Tô Thị Huyền Trang - 5CD0540
Khoa Quản lý kinh doanh
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status