Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước ta đang trong giai đoạn đổi mới, đổi mới về cơ chế quản lý cũng như
cơ chế thị trường mở ra những cơ hội cũng như những thách thức cho nền kinh tế
nước nhà. Nền kinh tế nước nhà đang có sự tiến bộ đáng kể, cùng với nó là sự phát
triển của các ngành sản xuất cũng như dịch vụ, Ngành ngân hàng đóng góp một phần
không nhỏ vào sự phát triển của đát nước.
Nhu cầu của con người ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển của kinh tế xã
hội, kèm đó là hàng loạt các đòi hỏi cần được thỏa mãn. Khả năng tài chính trở thành
yếu tố rất quan trọng để cho những nhu cầu đó, nhưng trong trường hợp nhu cầu tiêu
dùng thường xuất hiện trước khi quỹ cá nhân được hình thành. Nghĩa là có sự khác
biệt về yếu tố thời gian đối với nhu cầu tiêu dùng và khả năng tài chính của con người.
Khi đó người ta sử dụng tín dụng tiêu dùng như là sự ứng trước của quỹ đầu tư đây là
quỹ được hình thành trong tương lai để thỏa mãn các nhu cầu trong hiện tại. Chính vì
mục đích đó nên ngay từ khi Ngân hàng Nhà nước đưa ra chủ trương kích cầu bằng
cho vay tiêu dùng và được thực hiện bởi các Ngân hàng thương mại, thì loại hình này
đã nhận được hưởng ứng tích cực từ phía các khách hàng là cá nhân.
Tín dụng tiêu dùng không những đem lại lợi nhuận cho ngân hàng mà còn mang
ý nghĩa xã hội sâu sắc, góp phần cải thiện đới sống của người lao động ngày một tốt hơn,
đồng thời nó là sợi dây gắn kết giữa người lao động với cơ quan, doanh nghiệp, từ đó có
thể tăng năng lực lao động và khả năng cống hiến cho xã hội. Hơn thế nữa, cùng với xu
thế đa dạng hóa trong hoạt động của Ngân hàng thương mại, và với sự cạnh tranh gay gắt
trong việc giải quyết đầu ra cho nguồn vốn của các ngân hàng thì mảng tín dụng tiêu
dùng tiêu dùng được các ngân hàng sủ dụng như là nghiệp vụ nhằm hướng đến một thị
trường mới mẻ đầy tiềm năng mà trước đây chưa được khai thác.
Xuất phát từ những vấn đề trên cùng với tình hình thực tế về cho vay tiêu dùng
tại chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và phát triển Đông Đô, qua thời gian thực tập tại ngân
hàng em đã chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho
vay tiêu dùng tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông
Đô”. Qua đó em xin đưa ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện hơn hoạt động cho vay tiêu
dùng của ngân hàng.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
- Quan hệ tín dụng được thực hiện bằng hợp đồng tín dụng, khế ước nhân
nợ…làm cơ sở pháp lý để thực thi trách nhiệm giữa các bên.
1.1.3. Các chức năng của tín dụng
1.1.3.1. Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trên cơ sở có hoàn trả
Đây là hai quá trình thống nhất trong sự vận hành của hệ thống tín dụng. Sự có
mặt của tín dụng được xem là một chiếc cầu nối giữa các nguồn cung- cầu về tiền tệ.
Với chức năng này, tín dụng đã trực tiếp tham gia điều tiết các nguồn vốn tạm thời
thừa từ các cá nhân, tổ chức kinh tế để bổ sung kip thời cho những doanh nghiệp, các
cá nhân đang có nhu cầu vốn nhằm phục vụ cho sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng…
(hiện nay vốn tín dụng là vốn đầu tư quan trọng trong vốn cố định của các doanh
nghiệp).
Chức năng trung gian tài chính là chức năng cơ bản và quan trọng nhất của tín dụng.
1.1.3.2. Cung cấp các dịch vụ thanh toán và tạo phương tiện thanh toán
Tín dụng luôn được cấp ra nhằm giúp người vay tiền chi trả các khoản mua,
bán, trả các món nợ…ngoài ra, tín dụng còn tạo thêm phương tiện thanh toán cho nền
kinh tế hay nói khác đi, tín dụng tạo thêm tiền cho nền kinh tế.
1.1.3.3. Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển
Trong qúa trình sản xuất kinh doanh, để duy trì hoạt động liên tục đòi hỏi vốn
của tổ chức sản xuất kinh doanh đồng thời tồn tại ở cả ba giai đoạn: dự trữ, sản xuất
và lưu thông. Do đó tình trạng thừa và thiếu vốn tạm thời luôn xảy ra. Tín dụng đã
góp phần điều tiết các nguồn vốn tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh
không bị gián đoạn.
Mặt khác, nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh luôn là mối quan
tâm hàng đầu được đặt ra, doanh nghiệp không chỉ kinh doanh dựa trên vốn tự có mà
phải biết tận dụng các nguồn vốn khác trong xã hội. Từ đó, tín dụng, nơi tập trung vốn
nhàn rỗi, sẽ đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho doanh nghiệp đầu tư phát triển.
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
3
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
Trên phương diện quốc tế, tín dụng còn có vai trò quan trọng để mở rộng và
phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại và mở rộng giao lưu quốc tế làm cho các
nước có mối quan hệ thân thiết và cùng giúp đỡ nhau phát triển.
1.1.4. Phân loại tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng được phân loại dựa vào các căn cứ sau:
1.1.4.1 Căn cứ vào mục đích cho vay:
Tín dụng thường được chia thành các loại sau:
- Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan tới việc mua sắm và xây dựng
bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch
vụ.
- Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn
lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ. Giúp
doanh nghiêp trang trải chi phí trong sản xuất.
- Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như
phân bón thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động… Là loại vay nhằm
hỗ trợ cho nông dân sản xuất.
- Cho vay các định chế tài chính: bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng,
công ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định chế tài chính khác.
- Cho vay cá nhân: là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm
các vật dụng đắt tiền, và các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thường của
đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng. Nhằm đáp ứng nhu cầu của cá nhân.
1.1.4.2. Căn cứ vào thời hạn vay
Căn cứ vào thời hạn cho vay, tín dụng được phân thành các loại sau:
- Cho vay ngắn hạn: Thời hạn cho vay đến 12 tháng, được sử dụng để bù đắp
sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá
nhân.
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
gốc và lãi được hoàn trả một cách tuần hoàn trong thời hạn vay.
1.1.4.5. Căn cứ vào xuất xứ tín dụng
- Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng
thời người vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
- Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại
các khế ước hoặc các chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.
Các ngân hàng thương mại cho vay gián tiếp theo các loại sau:
+ Chiết khấu thương mại
+ Mua các chứng từ bán hàng
+ Nghiệp vụ bao thanh toán ( Factoring)
1.1.4.6. Căn cứ vào phương thức cho vay
Theo căn cứ này cho vay chia làm 2 loại :
- Cho vay bằng tiền là hình thức cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng được
cung cấp bằng tiền. Đây là loại cho vay chủ yếu của các Ngân hàng và việc thực hiện
bằng các kỹ thuật như: Tín dụng ứng trước, thấu chi, tín dụng thời vụ, tín dụng trả góp
…
- Cho vay bằng việc mua tài sản rồi cho khách hàng thuê lại. Theo phương
thức cho vay này Ngân hàng hay các công ty thuê mua ( Công ty con của Ngân hàng )
Cung cấp tài sản trực tiếp cho người đi vay và được gọi là người đi thuê và theo định
kỳ người đi thuê hoàn trả nợ vay bao gồm cả gốc lẫn lãi.
1.1.4.7. Căn cứ vào mục đich sử dụng tiền vay.
- Cho vay tiêu dùng : là các khoản vay nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của
các cá nhân, hộ gia đình như: mua nhà, sửa chữa nhà, mua phương tiện đi lại, học tập,
khám chữa bệnh, du lịch …
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
7
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
- Cho vay sản xuất kinh doanh : là các khoản vay đối với các tổ chức, doanh
nghiệp để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.2. CHO VAY TIÊU DÙNG
người cảm thấy lạc quan về tương lai nên sẵn sàng chi tiêu cho cuộc sống của mình.
Và ngược lại, khi nền kinh tế lâm vào suy thoái, tâm lý chung của các cá nhân là
không tin tưởng về cuộc sống tương lai, lo sợ tình trạng thất nghiệp xảy ra, nên họ sẽ
tiết kiệm trong việc chi tiêu của mình và hạn chế tối đa trong việc vay mượn ngân
hàng.
d. Đặc điểm quan trọng cuối cùng, người vay tiêu dùng quan tâm đến lãi suất
vay ( họ chỉ quan tâm chút ít vi: mức độ số tiền họ vay không nhiều lên khi đến hạn
trả cũng không nhiều). vốn mà họ chỉ quan tâm đến số tiền phải trả trong mỗi kỳ, mặc
dù lãi suất là yếu tố biểu hiện chi phí phải bỏ ra cho món vay đó. Vì đây là những món
vay tiêu dùng, không vì mục đích kinh doanh nên người vay thường ít quan tâm đến
chi phí phải trả này, mà là số tiền trả họ đã xác định rõ rồi. Hơn thế nữa, đối tượng
vay ở đây lại là những lao động bình thường, họ ít am hiểu về các vấn đề của ngân
hàng như lãi suất, điều quan tâm của họ đơn giản là món vay của họ có thoả mãn
được nhu cầu của họ không và số tiền họ phải trả mỗi kỳ là bao nhiêu. Lên rủi ro
trong việc vay đơn giản và thấp. ( Hầu như không tính đến ở người đi vay).
1.2.2. Đối tượng của cho vay tiêu dùng:
- Đó là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu vay vốn nhằm để giải quyết các
nhu cầu chi tiêu trong đời sống và thu nhập hiên tại của họ chưa thể đáp ứng.
- Những cá nhân có thu nhập thấp, nhu cầu vay vốn thường không cao, chủ yếu
nhằm cân đối giữa thu nhập và chi tiêu. Tuy nhiên do thu nhập thấp đã phần nào hạn
chế khả năng nhận được khoản tín dụng cho chi tiêu của họ.
- Đối với cá nhân có thu nhập trung bình, mức sống của họ tương đối khá nhu
cầu vay vốn thường để chi, mua sắm những đồ dùng có giá trị lớn mà hiện tại họ thiếu
tiền để chi trả hoặc không muốn dùng đến những khoản dự phòng.
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
9
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
- Đối với những người có thu nhập cao, nhu cầu vay tiêu dùng tăng mạnh. Đó
là khoản tài trợ rất linh hoạt trong chi tiêu nhất là khi vốn của họ dùng để đầu tư dài
hạn.
- CVTD trực tiếp có ưu điểm hơn so với CVTD gián tiếp
Khi khách hàng có mối quan hệ tực tiếp với ngân hàng, có rất nhiều lợi thế có
thể phát sinh, có khả năng làm thỏa mãn quyền lợi cho ca hai phía khách hàng lẫn
ngân hàng.
1.2.3.2. Cho vay tiêu dùng gián tiếp
Là các hoạt động thông qua việc mua lại các khoản phát sinh do công ty bán
hàng bán trả chậm cho khách hàng. Ở đây khách hàng, ngân hàng và các công ty bán
hàng phải ký hợp đồng thỏa thuận với nhau về số tiền vay, mức và tời hạn trả góp.
Nếu khách hàng không có khả năng trả nợ, tùy vào hợp đồng ký kết giữa ngân hàng
và công ty bán hàng mà ngân hàng có quyền truy đòi hoặc không truy đòi công ty bán
hàng.
* Ưu điểm
- Cho phép NH rễ ràng tăng doanh số cho vay tiêu dùng
- Giảm các chi phí xét duyệt hơn so với cho vay trực tiếp
- Rất phù hợp với cách thức mua hàng lâu bền, giá trị lớn với cả người mua và
với cả người bán hàng.
- Là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạt động
ngân hàng khác.
- Trong trường hợp có quan hệ với những công ty bán lẻ tốt, công ty có vốn tự
có ròng lớn, CVTD gián tiếp an toàn hơn CVTD trưc tiếp. Bởi vì đảm bảo của khoản
vay tỏ ra vững chắc hơn khi có người bán kí hậu trên chứng từ hoặc kỳ phiếu và người
bán hàng cũng chịu trách nhiệm giám sát các khoản cho vay trong một giới hạn nào
đó ( như theo dõi các khoản không trả đúng hạn, việc tái sở hữu, bán hàng hóa tái sở
hữu…) làm cho chi phí NH giảm xuống.
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
11
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
* Nhược điểm
- NH không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được bán chịu, do đó các
khả năng lừa đảo, giả mạo và xuyên tạc nhiều hơn so với vay trưc tiếp.
Hệ thống điểm số (score system) là một tập hợp các tiêu thức khác nhau liên
quan đến từng khách hàng vay tiêu dùng. Mỗi tiêu thức có một số điểm khác nhau tùy
theo tình trạng của tiêu thức đó và tầm quan trọng của nó trong hệ thống các tiêu thức,
dựa trên cơ sở các hệ thống kê trong lịch sử.
Phương pháp này phải dựa trên cơ sở các kết quả thống kê trong quá khứ, chỉ
ra đâu là khoản vay tốt và đâu là khoản vay xấu. Ưu điểm nổi bậc của phương pháp
này là việc phân tích một vấn đề bao gồm nhiều yếu tố được đơn giản hóa chỉ còn một
yếu tố: điểm tín dụng của khách hàng.
Trong thực tế, một hệ thống điểm số thường có nhiều yếu tố, được xây dựng
dựa trên một số nguyên tắc nhất định.Thông thường trong một hệ thống điểm số, có
khoảng 7 đến 12 yếu tố khác nhau được xem xét:
- Thời gian làm việc hiện tại
- Tình trạng gia đình (có gia đình, độc thân hay đã ly hôn)
- Độ tuổi
- Hình thức lao động
- Thời gian cư trú
- Có điện thoại không
- Số lượng người sống phụ thuộc vào người vay
- Loại tài khoản có tại ngân hàng…
Hệ thống này có một số nhược điểm sau đây:
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
13
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
- Các thông tin về người đi vay được dùng trong hệ thống điểm số là những
thông tin trong quá khứ vì vậy có thể không phản ánh được chính xác tư cách tín dụng
của người đi vay trong hiện tại và tương lai.
- Các thông tin dùng trong hệ thống điểm số bị phiến diện vì chỉ là các thông
tin thông kê về những người vay đã được ngân hàng chấp nhận cho vay.
- Phương pháp này dựa trên cơ sơ số đông và như vậy có thể bỏ qua các trường
hợp khách hàng có hoàn cảnh cá biệt.
giảm khả năng tiết kiệm hoặc chi tiêu trong tương lai, còn nghiêm trọng hơn nếu còn
mất khả năng chi trả thì người này có thể gặp rất nhiều phiền toái trong cuộc sống.
1.2.5.2. Đối với ngân hàng
- Tín dụng tiêu dùng góp phần đa dạng hóa hoạt động cho vay của ngân hàng,
mở rộng quan hệ với khách hàng, có nhiều cơ hội để bán thêm các sản phẩm khác
cũng như huy động thêm tiền gửi…
- Các khoản tín dụng tiêu dùng hầu hết là ngắn hoạt trung hạn và phương thức
thanh toán là trả góp, khoản vay tương đối nhỏ phân tán trên số lượng lớn khách hàng
nên ngân hàng tránh được rủi ro, thu hồi vốn thường xuyên, nâng cao khả năng thanh
khoản.
- Cho vay tiêu dùng giúp khả năng cạnh tranh của ngân hàng với các ngân
hàng và các tổ chức tín dụng khác, thu hút được đối tượng khách hàng mới, từ đó mà
mở rộng mối quan hệ với khách hàng. Bằng cách nâng cao mở rộng mạng lưới, đa
dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay tiêu dùng, số lượng khách
hàng đến với ngân hàng ngày càng nhiều hơn, và hình ảnh của ngân hàng sẽ đẹp hơn
trong mắt khách hàng. Trong ý nghĩ của công chúng, ngân hàng không chỉ là tổ chức
chỉ biết quan tâm đến các công ty và doanh nghiệp mà ngân hàng còn quan tâm đến
các nhu cầu nhỏ bé, cần thiết của người tiêu dùng, đáp ứng nguyện vọng cải thiện đời
sống của người tiêu dùng. Từ đó mà uy tín của ngân hàng ngày càng nâng lên.
- Cho vay tiêu dùng cũng là một công cụ marketing rất hiệu quả, nhiều người
sẽ biết tới ngân hàng hơn, từ đó ngân hàng sẽ huy động đươc nhiều khoản tiền gửi của
dân cư.
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
15
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
- Cho vay tiêu dùng tạo điều kiện mở rộng và đa dạng hóa kinh doanh từ đó
nâng cao thu nhập và phân tán rủi roc ho ngân hàng.
1.2.5.3. Đối với nhà cung cấp
Tín dụng tiêu dùng nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của doanh
nghiệp. Thông qua phương thức tín dụng tiêu dùng gián tiếp doanh nghiệp có thể giải
va đúng đắn. Cán bộ tín dụng cũng cần có đạo đức nghề nghiệp, tận tâm với công
việc, nhiệt tình giúp đỡ, chỉ bảo khách hàng những thủ tục cần thiết.
- Muốn hoạt động cho vay tiêu dùng được nhiều khách hàng biết đến thì ngân
hàng cần có chính sách marketing phù hợp.
- Công nghệ ngân hàng và khả năng quản lý có tác động tới hoạt động cho vay
tiêu dùng. Nếu ngân hàng có công nghệ hiện đại sẽ dẫn tới việc giải quyết các thủ tục
được nhanh chóng, chính xác, giảm bớt thủ tục rườm rà cho khách hàng va việc quản
lý khách hàng cũng được thuận tiện hơn. Bên cạnh vấn đề về công nghệ, ngân hàng
cần có những nội quy thưởng phạt nghiêm minh, quản lý tốt để tạo động lực làm việc
cho cán bộ nhân viên ngân hàng, tác động đến phong cách làm việc của nhân viên.
- Tất cả các nhân tố vi mô nói trên đều là những nhân tố thuộc về nội tại ngân
hàng có tác động tới cho vay tiêu dùng. Ngoài những nhân tố đó còn kể tới những
nhân tố khách quan bên ngoài ngân hàng cũng ảnh hưởng tới cho vay tiêu dùng. Nếu
như khách hàng là người có đạo đức tốt, ý thức trả nợ tốt, rủi ro cho vay tiêu dùng
thấp sẽ kích thích ngân hàng tiến hành mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng, các quy
chế cho vay sẽ không quá khắt khe. Ngược lại, nếu khách hàng không trả nợ đều, nợ
quá hạn quá nhiều thì tất yếu sẽ kìm hãm hoạt động cho vay tiêu dùng.
1.2.6.2 Các nhân tố ngoài ngân hàng
- Một số nhân tố vĩ mô ảnh hưởng tới hoạt động cho vay tiêu dùng như môi
trường kinh tế xã hội, các chính sách kinh tế của nhà nước, sự cạnh tranh giữa các
ngân hàng, môi trường, phép lịch sự, văn hóa ứng sử…
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
17
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
- Trước hết cần kể tới đặc điểm thị trường nơi ngân hàng hoạt đông. Nơi đó là
thành thị hay nơi tập trung đông dân cư, có mức thu nhập khá, trình độ học vấn cao thì
nhu cầu vay tiêu dùng sẽ tăng cao hơn so với vùng nông thôn.
- Kể đến các thói quen, phong tục tập quán, tâm lý có ảnh hưởng tới nhu cầu
vay tiêu dùng. Người dân Việt nam thường có thói quen tiết kiệm rồi tích lũy đủ mới
mua sắm, tiêu dùng. Họ không nghĩ đến việc đi vay nợ để mua sắm cộng với tâm lý
cho vay tiêu dùng giúp ngân hàng phân chia rủi ro tới từng người đi vay. Lên độ rủi ro
thấp hơn. So với các hình thức cho vay khác.
1.3.3. Tiêu chí phân tích đánh giá
1.3.3.1. Dựa vào chỉ tiêu nợ xấu / tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ xấu =
Tổng dư nợ xấu x
100%
Tổng dư nợ tín dụng
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ được sử dụng đánh giá chất lượng tín dụng
tại tổ chức tín dụng, điều này được quy định cụ thể tại khoản 6, điều 2 Quyết định
493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Tỷ lệ nợ
xấu cho biết trong 100 đồng tổng dư nợ tín dụng có bao nhiêu đồng nợ xấu, tỷ lệ này
càng lớn chứng tỏ chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng càng giảm.
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Nợ xấu là khoản nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 cụ thể như sau:
- Nhóm 3: ( Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng
đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này
được các tổ chức tín dụng là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.
- Nhóm 4: (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh
giá là khả năng tổn thất cao.
- Nhóm 5: (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín
dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi, mất vốn.
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
19
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
1.3.3.2. Dựa vào chỉ tiêu ( Tỷ lệ nợ rủi ro )
Tỷ lệ nợ rủi ro =
Tổng dư nợ (từ nhóm 2 đến nhóm 5)
x 100%
Tổng dư nợ tín dụng
Hầu hết các khách hàng khi tiến hành hoạt động đầu tư, kinh doanh đều
hướng đến mục tiêu quan trọng nhất là lợi nhuận và các NHTM cũng không phải là
ngoại lệ. Cho dù với tư cách là một trung gian tài chính quan trọng trong nền kinh
tế, giữ vai trò là đòn bẩy thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển, các NHTM trong quá
trình kinh doanh không những phải chú ý đến hiệu quả kinh tế mà còn phải chú ý
đến hiệu quả xã hội. Tuy nhiên lợi nhuận vẫn là điều kiện cần thiết để đảm bảo sự
tồn tại và phát triển của ngân hàng do vậy không thể bỏ qua tiêu chí này khi đánh
giá hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng. Hiệu quả hoạt cho vay của
ngân hàng không thể nói là tốt nếu lợi nhuận do hoạt động này mang lại thấp. Cụ
thể, người ta thường dùng các chỉ tiêu sau để đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay
tiêu dùng xét về mặt lợi nhuận:
Chỉ tiêu 1:
Lợi nhuận từ hoạt động cho vay tiêu dùng
Dư nợ cho vay tiêu dùng
Chỉ tiêu 2:
Lợi nhuận từ hoạt động cho vay tiêu dùng
Tổng lợi nhuận ngân hàng
Chỉ tiêu thứ nhất phản ánh khả năng sinh lời của các khoản cho vay tiêu dùng
của ngân hàng. Nó cho biết một hợp đồng dư nợ cho vay tiêu dùng mang lại bao
nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ lợi nhuận do hoạt động cho vay
tiêu dùng mang lại càng lớn, đó là một trong những nhân tố tạo nên chất lượng, hiệu
quả hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng.
Chỉ tiêu thứ hai cho phép đánh giá tầm quan trọng của hoạt động cho vay tiêu
dùng trong mối quan hệ với toàn bộ hoạt động của ngân hàng. Tỷ lệ này cao chứng
tỏ hầu hết lợi nhuận của ngân hàng đạt được từ hoạt động cho vay dự án của ngân
hàng. Điều đó chỉ có thể có được khi quy vô cho vay tiêu dùng của ngân hàng chiếm
tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản của ngân hàng đồng thời hiệu quả mang lại từ hoạt
động này ngày càng cao. Nói cách khác, chất lượng cho vay tiêu dùng của ngân
hàng có thể được đánh giá là khả quan. Tuy nhiên, điều đó cũng đồng nghĩa với việc
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
thường các ngân hàng thường thích phân tán rủi ro bằng cách đa dạng hoá các tài
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
22
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
sản sinh lời của mình hơn là tập trung vào một tài sản có khả năng sinh lời cao
nhưng lại tiềm ẩn trong nó một nguy cơ rủi ro lớn.
SV:Lª V¨n Dòng Líp: Ng©n hµng K11
23
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ViÖn Ng©n hµng Tµi chÝnh–
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CHI NHÁNH
NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔNG ĐÔ
2.1. Khái quát về Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt nam – Chi nhánh Đông Đô
2.1.1. Sơ lược về quá trình hình thành
Ngày 26/4/1957 ngân hàng ĐT&PTVN được thành lập theo quyết định số
177/TT của thủ tướng chính phủ, là ngân hàng được thành lập sớm nhất ở Việt Nam
theo mô hình tổng công ty nhà nước. Trải qua 52 năm hoạt động xây dựng và trưởng
thành với nhiệm vụ chính là hoạt động chuyên sâu trong lĩnh vực đầu tư và phát
triển, với các tên goị khác nhau:
- Ngân hàng kiến thiết Việt Nam trực thuộc Bộ tài chính từ ngày 26/04/1957.
- Ngân hàng đầu tư và xây dựng trực thuộc NHNN từ 26/6/1981.
- Ngân hàng đầu tư và phát triển trực thuộc NHNN từ 14/11/1990.
Chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển Đông Đô được thành lập trên cơ sở
nâng cấp phòng Giao dịch số 2 (14 Láng Hạ), đi vào hoạt động từ ngày 31/07/2004
theo QĐ số 191/QĐ-HĐQT ngày 05/07/2004 của Hội đồng quản trị Ngân hàng đầu
tư và phát triển Việt Nam, là một trong những cơ sở tiên phong đi đầu trong hệ
thống Ngân hàng đầu tư và phát triển chú trọng triển khai nghiệp vụ Ngân hàng bán
lẻ, lấy phát triển dịch vụ và đem lại tiện ích cho khách hàng làm nền tảng; hoạt động
theo mô hình giao dịch một cửa với quy trình nghịêp vụ Ngân hàng hiện đại và công
nghệ tiên tiến; theo đúng dự án hiện đại hoá Ngân hàng Việt Nam hiện nay.
chính
Phòng Kế
hoạch tổng
hợp
Phòng
tài
chính
kế
toán
Phòng
quản
trị tín
dụng
Phòng
thanh
toán
quốc
tế
Phòng
quản
lý và
dịch
vụ kho
quỹ
Phòng
Quan hệ
khách
hàng cá
nhân 1,2
Tổ