Bước đầu nhận xét nội dung ngữ âm trong các sách dạy tiếng Việt của Hàn Quốc hiện nay - Pdf 26



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KIM JA HYUN
BƯỚC ĐẦU NHẬN XÉT NỘI DUNG NGỮ ÂM
TRONG CÁC SÁCH DẠY TIẾNG VIỆT CỦA HÀN QUỐC
HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Ngôn ngữ học



Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Phúc

Hà Nội – 2010

2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu 3
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3. Mục đích nghiên cứu 6
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5. Phương pháp và tư liệu nghiên cứu 7
6. Cấu trúc của luận văn 8

CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Âm tiết và các thành phần âm tiết tiếng Việt 13
2.1.1. Âm tiết và cấu trúc âm tiết 13
2.1.2. Cấu trúc âm tiết tiếng Việt 13

sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), vị thế của Việt Nam
ngày càng được củng cố và nâng cao trên trường quốc tế. Tiếng Việt đã và
đang trở thành phương tiện đắc dụng để mọi người trên thế giới tìm hiểu, tiếp
cận với văn minh, văn hoá Việt Nam. Đồng thời, nó cũng là một phương tiện
hết sức thuận lợi để người Việt Nam có điều kiện giao lưu, hội nhập với các
nước, các khu vực khác nhau trên thế giới về các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã
hội, du lịch v.v.
Từ những lí do đó, việc dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ trong thời
gian gần đây đã không ngừng được đẩy mạnh. Để đáp ứng nhu cầu xã hội và
yêu cầu của việc học tiếng Việt cho nhiều đối tượng khác nhau, nhiều khoa,
nhiều trung tâm giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài liên tục được hình
thành và sự phát triển khá mạnh. Nhiều hội nghị, hội thảo khoa học về dạy và
học “Tiếng Việt như một ngoại ngữ”, “Tiếng Việt cho người nước ngoài”,
"Việt Nam học và Tiếng Việt cho người nước ngoài", "Nghiên cứu về nội
dung và phương pháp dạy tiếng Việt"…v.v đã được tổ chức ở trong nước cũng
như ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều báo cáo trình bày tại các hội thảo, hội
nghị về vấn đề “Dạy và học tiếng Việt cho người nước ngoài” đã đề cập đến
nhiều nội dung chuyên sâu của ngôn ngữ học dạy tiếng và cũng đã đạt được
một số kết quả đáng khích lệ. Vấn đề “Tiếng Việt như một ngoại ngữ" càng
ngày càng thu hút được một số lượng đông đảo các nhà nghiên cứu, các nhà
sư phạm quan tâm và hơn hết là trong thời gian gần đây, nó đã được coi như
một ngành khoa học riêng biệt .
Ở Hàn Quốc, việc dạy và học tiếng Việt đã có một quá trình lịch sử
tương đối dài, hơn 40 năm (từ 1967). Đặc biệt là trong những thập niên gần

4
đây do nhu cầu về chính trị cũng như nhu cầu về kinh tế, xã hội, sự giao lưu
văn hoá của hai quốc gia, việc dạy và học tiếng Việt ở Hàn Quốc, đã có những
bước phát triển vượt bậc, nhu cầu học tiếng Việt được đẩy mạnh đáng kể.
Hiện nay, tiếng Việt đã được đào tạo một cách chính thức tại bốn trường Đại

- Trong tình hình thực tế của việc dạy tiếng Việt ở Hàn Quốc hiện nay,
giáo trình là một vấn đề quan trọng vì nó đóng vai trò là cầu nối, có tính chất
công cụ đối với người dạy và người học. Thông qua giáo trình, sách công cụ,
chúng ta có thể tìm hiểu về phương pháp, kĩ năng mà các nhà soạn thảo gửi
gắm trong đó. Hiện nay, có rất nhiều giáo trình dạy tiếng Việt cho người Hàn
Quốc, phong phú về chủng loại và đa dạng về hình thức. Đã có nhiều tác giả
tham gia vào công việc này với những định hướng khác nhau. Chính vì vậy có
một tình trạng phổ biến là giữa các giáo trình, sách công cụ, danh sách phần
ngữ âm học có số lượng khác nhau và tên gọi của các phần ngữ âm được đưa
ra là không đồng nhất. Trong đó nổi lên một vấn đề: đó là tính thống nhất và
tính chuẩn mực cho các giáo trình dạy tiếng. Điều này gây rất nhiều khó khăn
cho người dạy và người học đối với phần ngữ âm. Vì vậy, luận văn này thực
hiện khảo sát phần ngữ âm được cung cấp trong các giáo trình dạy tiếng Việt
tại Hàn Quốc ở các phần như sau:
- Danh sách các giáo trình có phần dạy ngữ âm tiếng Việt và phân loại
nhóm giáo trình dựa vào mức độ cung cấp phần ngữ âm tiếng Việt từ đơn giản
đến đầy đủ, chi tiết.
- Thống kê các phần ngữ âm được đưa ra ở mỗi giáo trình, dung lượng
dành cho phần ngữ âm trong mỗi giáo trình, rút ra đặc điểm.
Từ đó, luận văn rút ra những đặc điểm để nhận xét, đánh giá về phần
ngữ âm trong các giáo trình đó và đưa ra những ý kiến của cá nhân, đóng góp
vào việc củng cố và hoàn thiện việc xây dựng phần dạy ngữ âm tiếng Việt một
cách đầy đủ, chi tiết và dễ hiểu để đưa vào các giáo trình dạy tiếng Việt ở Hàn

6
Quốc nhằm tạo hiệu quả cao trong việc dạy và học tiếng Việt cho người Hàn
Quốc nói riêng.

3. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhằm mục đích góp phần hiệu chỉnh

lượng các đơn vị ngữ âm, danh mục các giáo trình, sách công cụ ), phương
pháp miêu tả, phương pháp phân tích, và phương pháp so sánh - đối chiếu để
tìm hiểu những đặc trưng cơ bản của nội dung ngữ âm trong các giáo trình đó.
Mặt khác, chúng tôi cũng phân tích, so sánh giữa các giáo trình để tìm ra
những nét tương đồng hay khác biệt.
- Danh sách các giáo trình, sách công cụ được xác lập phục vụ cho quá
trình khảo sát và nghiên cứu trong khuôn khổ luận văn gồm:
1. Tiếng Việt cơ sở, Kim Ki Tae, 1970, Nxb Trường Đại học ngoại ngữ
Hàn Quốc.
2. Tiếng Việt thực dụng, Hội nghiên cứu ngoại ngữ du lịch, 1992, Nxb
Chungrim, Hàn Quốc.
3. Tiếng Việt cơ sở, Hội nghiên cứu Ngoại ngữ, 1993, Nxb Myungji,
Hàn Quốc.
4. Tiếng Việt cơ sở, Choi Jae Hyun - Nguyễn Đức Dân, 1994, Nxb
SamJisa, Hàn Quốc.
5. Luyện phát âm tiếng Việt, Kim Ki Tae, 1994, Nxb Tường Đại học
Ngoại ngữ Hàn Quốc.
6. Bước đầu học tiếng Việt , Hội nghiên cứu ngoại ngữ, 1995, Nxb
Myungji, Hàn Quốc.
7. Hội thoại tiếng Việt trung cấp, Kim Ki Tae, 1996, Nxb Samjisa,
Hàn Quốc.
8. Tiếng Việt hội thoại thiên niên kỳ, Moon Jong Ryung, Sung Ji Eun,
Oh Mi Kyung/Hoang Tuy Phung, 2001, Nxb Donginrang, Hàn Quốc.
9. Hội thoại tiếng Việt dễ dàng, Kim Jong-wook, Park Yeon-kwan,
Nguyễn Bá Thành, 2002, Nxb trường đại học ChungWoon, Hàn
Quốc.

8
10. Ngữ pháp Tiếng Việt, Kim Ki Tea - Đoàn Thiện Thuật, 2002, Nxb
SamJisa, Hàn Quốc.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1. Quá trình dạy tiếng thực chất bao gồm hai nội dung cơ bản, một là
truyền thụ hay cung cấp cho người học những tri thức ngôn ngữ đích (target
language) và hai là, hướng dẫn và luyện tập để người học hình thành và phát
triển đến thuần thục thói quen sử dụng các tri thức ấy trong các trạng huống
giao tiếp khác nhau. Nói cách khác, nếu đứng từ phía người học, kết quả tiếp
thu một ngôn ngữ nước ngoài là được thể hiện ra trên hai mặt: vốn tri thức và
mặt kĩ năng. Gắn liền với nội dung thứ nhất là quá trình dạy (hay cung cấp)
cho người học những cơ chế được xây dựng bằng vật liệu ngôn ngữ như các
đơn vị thuộc các cấp độ khác nhau trong cơ cấu một thứ tiếng, bao gồm ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp, tu từ Còn, gắn liền với nội dung thứ hai là việc
hướng dẫn và rèn luyện cho người học các dạng hoạt động trong nói năng của
các đơn vị thuộc các cấp độ đó, như: cách thức tổ chức các đơn vị theo kiểu
đặc trưng riêng cho thứ tiếng đang tiếp nhận, các biến thể xuất hiện khi hành
chức hay hoạt động trong thực tiễn lời nói ; bao gồm cả việc phục hồi và khắc
phục những khiếm khuyết mà ở nội dung thứ nhất người học chưa có điều
kiện để hoàn thiện. Thái độ xử lí đối với hai nội dung cơ bản trên đây là xuất
phát điểm để hình thành nên các khuynh hướng trong tâm lí học giảng dạy và
phương pháp luận dạy tiếng nói chung .
Hai nội dung được chia tách trên chỉ mang tính lí thuyết. Còn trong thực
tế, chúng thường lại đặt điều kiện cho nhau, không phân biệt rạch ròi. Vốn tri
thức ngôn ngữ luôn được thâu nhập và củng cố qua sử dụng thông qua những
kĩ năng như: nghe - nói - đọc và viết. Và ngược lại, kĩ năng chỉ có thể được
nhận ra và nâng cao khi thật sự có đủ vốn tri thức về các yếu tố ngôn ngữ đang
dùng. Trong thực tế, khi nói người học tiếng nước ngoài có một tri thức ngôn
ngữ nào đó, là hàm ý rằng anh ta đã đưa được cái tri thức ấy vào guồng quay

10
của thực tiễn hoạt động ngôn từ chứ không hàm ý chỉ là khối kiến thức ngôn

phương Tây [20].
Thực ra, trước, cùng và sau A. de Rhodes, ở Việt Nam cũng đã xuất
hiện một cách xử lí khác đối với hệ âm thanh tiếng Việt. Đó là lối cấu tạo chữ
theo kiểu phiên thiết của các nhà Nho Việt Nam. Phiên thiết là nguyên tắc
cấu tạo chủ yếu của chữ Nôm dựa trên chất liệu văn tự tượng hình của người
Hán để ghi các âm thanh tiếng Việt. Khác với A. de Rhodes, các nhà Nho với
trực cảm của một người Việt, họ đã nhận ra một âm tiết Việt ít nhất phải bao
chứa: một phần đầu và một phần đi theo sau, gọi là vần. Theo cái trực cảm
này, âm tiết Việt được quan niệm là một khối trọn vẹn không chia cắt tuyến
tính như A. de Rhodes đã hình dung. Cách tiếp cận này, về sau cũng đã tìm
thấy cơ sở khoa học của nó ngay trong quan niệm về âm vị học siêu đoạn tính
(suprasegmental) của người phương Tây, J. Firth [17].
Như vậy, về mặt lịch sử, có thể thấy rằng hệ thống âm thanh tiếng Việt
đã từng được tri giác và ứng dụng theo cả hai cách tiếp cận khác nhau: đoạn
tính và siêu đoạn tính. Chúng tôi cho rằng, ở mỗi tiếp cận đã trình bày đều có
những mặt mạnh và yếu của mình. Chúng nên bổ sung cho nhau hơn là loại
trừ nhau. Hơn nữa, cũng nên lưu ý là cả hai cách này đều đã tồn tại và đã được
thực tiễn xã hội Việt Nam chấp nhận. Chúng có khả năng ứng dụng ngang
nhau nếu xét trên quan điểm thực dụng. Do đó, một hình dung đầy đủ về hệ
thống âm thanh tiếng Việt, rõ ràng hệ thống đó phải bao chứa cả những hiện
tượng âm thanh đoạn tính (segmental facts) lẫn những hiện tượng ngôn điệu
(prosodies) hay siêu đoạn tính (suprasegmental facts). Các hiện tượng âm
thanh đoạn tính gồm âm tiết, cấu trúc và các thành tố cấu thành âm tiết; còn
thuộc về những hiện tượng ngôn điệu tiếng Việt có thể kể đến thanh điệu, nhịp
điệu, trọng âm và ngữ điệu v.v.
Ở một khía cạnh khác, ngôn ngữ của con người trong quá trình hành
chức, như chúng ta đã thấy luôn được tồn tại theo hai dạng cơ bản: ngôn ngữ

12
nói và ngôn ngữ viết. Song hai dạng tồn tại này không xuất hiện đồng thời.

2.1.1. Âm tiết và cấu trúc âm tiết
Như chúng ta đã biết, tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập.
Trong tiếng Việt, âm tiết là đơn vị ngôn ngữ hết sức đặc biệt, có tính độc lập
cao. Nó là đơn vị rất dễ nhận diện trong phát âm (âm thanh hoá) lẫn trong
cách viết (kí tự hoá). Khi phát âm, mỗi âm tiết bao giờ cũng được thể hiện rất
rõ ràng và được phát âm tách rời với những tiếng đi cạnh nó. Khi viết, mỗi âm
tiết được ghi thành một chữ rời với các chữ khác. Ví dụ, trong câu: "Mẹ vừa
mới đi làm về", bất kì người Việt nào cũng nhận ra 6 tiếng tách rời nhau,
tương ứng với 6 khối chữ tách rời nhau được thể hiện khi viết. Đó là: "mẹ",
"vừa", "mới", "đi", "làm", "về".
2.1.2. Cấu trúc âm tiết tiếng Việt
Âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất. Nó là khúc đoạn âm thanh nhỏ
nhất có thể phân cắt được trong chuỗi lời nói được con người phát ra. Tuy
nhiên, nhờ vào các thủ tục phân xuất âm vị học và hình thái học, mỗi âm tiết
tiếng Việt còn có thể được chia tách thành các bộ phận nhỏ hơn âm tiết. Các
bộ phận này được gọi là các thành phần (hay thành tố) âm tiết. Theo Đoàn
Thiện Thuật trong "Ngữ âm học tiếng Việt", việc chia tách này được tiến hành
theo hai bậc như mô hình sau: T H A N H Đ I Ệ U

ÂM ĐẦU

V Ầ N

ÂM ĐỆM

ÂM CHÍNH


bằng sự vắng mặt hình thức biểu hiện trên chữ viết.
Âm tiết tiếng Việt bao gồm nhiều thành phần khác nhau và đường
phân chia các thành phần này cũng đậm nhạt khác nhau hay nói chính xác hơn
thì chúng thuộc vào các tầng bậc cấu trúc khác nhau. Đường ranh giới phân
chia giữa âm đầu, vần và thanh điệu là rất rõ ràng, còn đường ranh giới phân
chia các bộ phận trên trong nội bộ vần (âm đệm, âm chính, âm cuối) là sức mờ

15
nhạt. Tuỳ thuộc vào mức độ đậm nhạt hay khả năng độc lập của các yếu tố,
âm tiết tiếng Việt được chia thành hai bậc cấu trúc:
- Bậc 1 gồm thanh điệu, âm đầu và vần là các yếu tố có tính độc lập
cao, kết hợp lỏng.
- Bậc hai gồm các thành tố của vần: âm đệm, âm chính và âm cuối là
các yếu tố có tính độc lập thấp, kết hợp khá chặt.
Có thể hình dung cấu trúc hai bậc của âm tiết tiếng Việt dựa trên đặc
trưng phân giới đậm/nhạt qua sơ đồ sau:

Âm tiết

Bậc 1
Âm đầu Vần Thanh điệu

Bậc 2
Âm đệm Âm chính Âm cuối

Âm vị học hiện đại đi sâu vào nghiên cứu các thuộc tính có bên trong
từng âm vị và mối liên kết của chúng để cấu trúc nên các đơn vị âm vị học lớn
hơn một âm vị hoặc tiết vị. Trong quan niệm này, âm tiết được coi là sự cố kết
của hai đường phân bố của các nét siêu đoạn và chiết đoạn vốn có trong từng
cấu trúc tiết vị (đối với các ngôn ngữ phương Đông, nhất là các ngôn ngữ có

ÂM TIẾT
Cấu trúc chiết đoạn
Cấu trúc siêu đoạn
C1
R
T
J
V
C2
J1
J2

17

Ví dụ 1. Phân tích cấu trúc của các âm tiết: "thiền" và "thuyền" ťwiеn
Cấu trúc chiết đoạn
Cấu trúc siêu đoạn
ť


tăn
Cấu trúc chiết đoạn
Cấu trúc siêu đoạn
t
ø

Thanh /1/
+ căng
tan
Cấu trúc chiết đoạn
Cấu trúc siêu đoạn
t
an
Thanh /1/
ø

a
n

19
a. [+chặn] xét về mặt cấu âm
b. Chứa năng lượng ít
c. Trường độ ngắn
Về số lượng, tiếng Việt có 23 phụ âm là âm đầu; trong đó có phụ âm
/p-/ được xác lập như là một âm vị phụ âm "thiếu" (có bối cảnh xuất hiện hạn
chế: Sapa, đèn pin ). Chúng được phân bố như sau:

BỘ VỊ


c
k
ʔ
hữu thanh
b
d

vang (mũi)
m
n

ɲ
ŋ XÁT

ồn
vô thanh
f
s
ʂ

χ
h
hữu thanh
v

+ môi + môi + quặt lưỡi
- hữu thanh + mũi

Sự thể hiện các âm vị phụ âm đầu tiếng Việt hiện đại bằng chữ viết có
thể trình bày tóm tắt trong bảng dưới đây:

Stt
ÂM VỊ
CON CHỮ
Stt
ÂM VỊ
CON CHỮ
1
/p-/
p
13
/ʈ-/
tr
2
/b-/
b
14
/ʂ-/
s
3
/m-/
m
15
/ʐ-/
r

9
/n-/
n
21
/ɣ-/
g, gh
10
/s-/
x
22
/ʔ-/
(khuyết)
11
/z-/
d, gi
23
/h-/
h
12
/l-/
l

Bảng 1.3 Các âm vị phụ âm đầu tiếng Việt hiện đại bằng chữ viết
2.1.3.2. Âm chính
Các nguyên âm có chung đặc điểm [-chặn]. Đặc trưng quan trọng nhất
của hệ thống các âm chính tiếng Việt, chính là nét [+ NÂT] (nguyên âm tính).
Đảm nhiệm vị trí âm chính, tiếng Việt có 16 âm vị nguyên âm; trong đó có 13

ɔ ɔ
ĐÔI
ie
ɯə
uo

Bảng 1.4 Sự phân bố của các nguyên âm - âm chính tiếng Việt
Về mặt âm vị học, hệ nét khu biệt của hệ thống các nguyên âm - âm
chính gồm:
1. [+ NÂT] 4. [± sau] 7. [± dài]
2. [± đơn] 5. [± cao]
3. [± trước] 6. [± thấp]
Ví dụ: Biểu diễn hệ nét khu biệt của các âm chính: / ɔ, i, uo /

+ NÂT + NÂT +NÂT
/-ɔ-/ + thấp /-i-/ + cao /-uo-/ + sau
+ sau + trước - đơn
- dài 22
Sự thể hiện bằng chữ viết của các âm vị nguyên âm tiếng Việt được
thể hiện trong bảng dưới đây:

Stt
ÂM VỊ
CON CHỮ - VÍ DỤ
Stt
ÂM VỊ
CON CHỮ - VÍ DỤ

6
/ɯ/
ư
14
/ɔ/
o, oo
7
/ə/
ơ
15
/ɔ/
o (ong, óc)
8
/ə/
â
16
/uo/
uô, ua

Bảng 1.5 Các âm vị nguyên âm tiếng Việt thể hiện bằng chữ viết

2.1.3.3. Âm cuối
Đảm nhiệm vai trò âm cuối trong tiếng Việt gồm 6 phụ âm, 2 bán phụ
âm và 1 âm vị zê-rô [-ø]. Danh sách và chân dung các âm cuối tiếng Việt được
biểu diễn trong bảng dưới đây:

BỘ VỊ
PHƯƠNG THỨC

TRƯỚC

+PÂT - NÂT +PÂT
/-p/ -NÂT /-n/ + mũi /-j/ +NÂT
- mũi -trước +trước
+trước -sau

Sự thể hiện bằng chữ viết của các âm vị trong vai trò âm cuối tiếng
Việt được thể hiện trong bảng sau:

Stt
ÂM VỊ
CON CHỮ
Stt
ÂM VỊ
CON CHỮ
1
/-p/
P
6
/- ɳ /
ng, nh
2
/-t/
t
7
/-u/
u, o
3
/-k/
c, ch
8

và tròn môi âm tiết hoá.
a. Thanh điệu
Tiếng Việt là ngôn ngữ có hệ thống thanh điệu tương đối phức tạp, về
số lượng, gồm 6 đơn vị. Chúng khu biệt nhau theo 2 đặc trưng chủ yếu: cao độ
và đường nét cao độ. Dưới đây là danh sách và sự thể hiện bằng các dấu
thanh của hệ thống các thanh điệu tiếng Việt:

STT
THANH ĐIỆU
KÍ HIỆU
DẤU THANH
VÍ DỤ
1
Thanh không dấu
1
a (khuyết)
ta, lang, nam
2
Thanh huyền
2
à
và, lời, làng
3
Thanh ngã
3
ã
đã, ngữ, lãng
4
Thanh hỏi
4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status