Nghiên cứu nhóm từ biểu hiện hoạt động thị giác của con người trong tiếng Việt và tiếng Pháp - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN THỊ HƯỜNG NGHIÊN CỨU NHÓM TỪ BIỂU THỊ HỌAT ĐỘNG
THỊ GIÁC CỦA CON NGƯỜI
TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG PHÁP LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Hà Nội - 2009

3
MỤC LỤC

Trang
PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU
3
1. Lí do chọn đề tài
4
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
6
3. Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu
7
4. Phương pháp nghiên cứu
8
4.1. Phương pháp miêu tả
8
4.1.1. Thủ pháp phân tích nghĩa tố
8
4.1.2. Thủ pháp thống kê
10
4.2. Phương pháp so sánh - đối chiếu
10
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG
11

động thị giác của con người trong tiếng Việt
40
2.2.3. Miêu tả trường từ vựng của trường nghĩa
45
Chương 3: So sánh trường từ vựng - ngữ nghĩa biểu thị
hoạt động thị giác của con người trong tiếng Việt và
tiếng Pháp
48
3.1. Số lượng từ thuộc trường nghĩa
48
3.2. Sự tương ứng về từ trong trường nghĩa ở tiếng Việt và
tiếng Pháp
49
3.3. Các nghĩa tố trong trường nghĩa miêu tả các từ chỉ
hoạt động thị giác của con người trong tiếng Pháp
56
3.4. Trường từ vựng của trường nghĩa hoạt động thị giác
của con người trong tiếng Pháp
71
PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN
75
TÀI LIỆU THAM KHẢO
78


phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống văn hoá - lịch sử từ thế
hệ này sang thế hệ khác”.
Ngôn ngữ vốn tồn tại như một chỉnh thể thống nhất, có quy luật nội
tại chặt chẽ, với các tầng bậc đơn vị khác nhau. Các đơn vị ấy được tổ chức
thống nhất theo một quy luật riêng, theo trình tự từ thấp đến cao. Các quy luật
nhận thức, tư duy của các dân tộc vốn có những nét tương đồng. Tuy nhiên,
những suy nghĩ giống nhau của những người nói các ngôn ngữ khác nhau lại
được thể hiện dưới các hình thức khác nhau của ngôn từ, của chữ viết.
Vốn từ của ngôn ngữ vô cùng lớn, phong phú và đa dạng. Người ta
không thể nào nghiên cứu một cách thấu đáo toàn bộ hệ thống từ vựng và ngữ
nghĩa của nó cùng một lúc. Bằng thực tế nghiên cứu, nhiều nhà ngôn ngữ học
đã chỉ ra rằng: cần thiết phải chia nhỏ hệ thống lớn ấy thành những hệ thống
con để thuận lợi hơn cho việc nghiên cứu. Thực tế, mọi ngôn ngữ đều có thể
phân thành những nhóm từ vựng “có quan hệ gần gũi về một ý nghĩa cụ thể,
riêng biệt có ý nghĩa rất lớn, giúp chúng ta vạch ra được những cấu trúc nghĩa
cơ bản, từ đó làm cơ sở cho việc tìm hiểu chung về ngữ nghĩa của ngôn ngữ”.
Hiện nay, trường từ vựng - ngữ nghĩa đang là một lĩnh vực thu hút
được sự quan tâm chú ý của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học. Trên thế
giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, đã có rất nhiều công trình nghiên
cứu về trường từ vựng - ngữ nghĩa như: trường về các bộ phận cơ thể
người, các nhóm từ chỉ cảm xúc, chỉ màu sắc, chỉ quan hệ họ hàng, chỉ hiện
tượng địa lý, những từ chỉ sự nói năng, suy nghĩ, vận động, những từ gắn
liền với xúc giác, khứu giác và các giác tri giác nhờ các giác quan của con
người.

7
Một trong những vai trò của ngôn ngữ là dùng để mô tả những gì
chúng ta nhận biết được từ thế giới bên ngoài thông qua các giác quan. Trong
các giác quan, có lẽ thị giác đóng vai trò quan trọng và chiếm tỷ lệ lớn trong
khối lượng thông tin của thế giới bên ngoài, được hấp thụ vào trong kho tàng

nhất. Mọi niềm vui, nỗi buồn, sự tức giận hay lo âu đều thể hiện trong “cửa sổ
tâm hồn” ấy. Bằng những hiểu biết còn khá khiêm tốn của mình, tôi mong
muốn bước đầu có thể khảo sát và nghiên cứu cấu trúc của nhóm từ biểu thị
hoạt động thị giác của con người trong sự so sánh giữa tiếng Việt và tiếng
Pháp. Qua đó nhằm phát hiện ra những điểm giống và khác nhau giữa hai
ngôn ngữ trong quá trình biểu thị cảm xúc ở mỗi quốc gia trong cùng một
trường nghĩa. Điều này có ý nghĩa rất sâu sắc cả về mặt lí luận lẫn thực tiễn,
đặc biệt là trong lĩnh vực dạy và học ngoại ngữ, dịch thuật. Học một ngôn ngữ
là học cả nền văn hoá của dân tộc ấy. Vì vậy, nghiên cứu ngôn ngữ gắn liền
với những biểu hiện văn hoá là vô cùng cần thiết. Đề tài nghiên cứu của tôi rất
mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình trong nghiên cứu
trường từ vựng - ngữ nghĩa.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cấu trúc nghĩa của nhóm từ biểu
thị hoạt động thị giác của con người trong tiếng Việt. Chúng ta có thể thấy từ
trong tiếng Việt vốn dĩ đã mang tính khái quát cao, đồng thời vẫn mang tính
mềm dẻo, uyển chuyển trong vận dụng.
Trên cơ sở tiếng Việt, tiến hành đối chiếu với cấu trúc nghĩa của
các từ trong tiếng Pháp; từ đó rút ra sự tương đồng và khác biệt của nhóm
từ này trong tiếng Pháp.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Ở đây, tôi chỉ dừng lại khảo sát và
nghiên cứu đặc điểm của các từ chỉ hoạt động của thị giác trong tiếng Việt và
tiếng Pháp. Các từ tiếng Việt được khảo sát, nghiên cứu và phân tích dựa trên
“Từ điển tiếng Việt” của Hoàng Phê. Các từ tiếng Pháp được xác định dựa
trên cơ sở các từ tiếng Việt dịch chuyển sang và khảo sát, phân tích dựa trên
Từ điển Việt - Pháp (Dictionnaire Vietnamien - franỗais), Từ điển Pháp -
Việt (Dictionnaire Franỗais - vietnamien), của Nhà xuất bản Khoa học Hà
Nội, Từ điển Pháp - Pháp - Việt của Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, 2005,
Từ điển Le Petit Larousse, Imprimerie Carteman - Tournai, 1992. Qua việc



10
thuật ở nước ta còn gặp nhiều thiếu sót. Sở dĩ là do vốn tri thức từ vựng - ngữ
nghĩa về ngoại ngữ hay ngôn ngữ cần chuyển dịch là chưa thực sự đầy đủ,
nhiều khi quá trình dịch thuật còn diễn ra một cách khiên cưỡng, chưa phản
ánh đúng đặc trưng ngôn ngữ và văn hoá của dân tộc sử dụng ngôn ngữ ấy. Vì
vậy, việc tìm ra cấu trúc nghĩa của một nhóm từ trong hai ngôn ngữ sẽ giúp
chúng ta hiểu rõ hơn về nghĩa của các từ, sử dụng chúng một cách chính xác
hơn, đồng thời giúp cho việc dịch thuật từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia
trong cùng một trường nghĩa thuận lợi hơn.
Nhìn chung, có thể thấy rằng, động từ trong tiếng Việt quả thật là
một loại từ gói ghém trong nó và kéo theo nó khá nhiều vấn đề có liên quan
tới cả mặt lí luận lẫn thực tiễn của ngôn ngữ học nói chung, của Việt ngữ học
nói riêng. Theo tác giả Nguyễn Kim Thản, có lẽ rằng từ “khoảng trời” động từ
tiếng Việt, có thể nhìn thấy được nhiều hiện tượng của cả “bầu trời” tiếng
Việt không phải là điều quá đáng và nếu nói rằng từ những đặc điểm của tiếng
Việt có thể nhìn thấy nhiều đặc điểm của những ngôn ngữ cùng loại hình thì
không xa sự thật là bao nhiêu. Vì vậy, việc nghiên cứu động từ tiếng Việt vẫn
còn là những vấn đề khá phức tạp, cần phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu. Từ đó,
chúng ta có thể so sánh đối chiếu với động từ trong các ngôn ngữ khác.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tôi tập trung đi sâu
nghiên cứu động từ biểu thị hoạt động thị giác của con người trong tiếng Việt
và tiếng Pháp. Với hiểu biết còn hạn còn hạn chế của mình, tôi hy vọng đóng
góp một phần nhỏ bé trong việc nghiên cứu vấn đề này.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Phương pháp miêu tả
4.1.1. Thủ pháp phân tích nghĩa tố
Thủ pháp pháp phân tích nghĩa tố có vai trò quan trọng trong việc
xác định cấu trúc nghĩa của trường nghĩa. Thủ pháp này giúp chúng ta phân
chia nội dung nghĩa của từ thành các nghĩa tố khác nhau. Mỗi từ được cấu

“Nghĩa tố là bộ phận nhỏ nhất trong thông báo một đơn vị ngôn ngữ”
(GS.TS Nguyễn Thiện Giáp - Từ vựng học tiếng Việt, NXB Giáo dục, 2003).

12
Có nhiều cách thức khác nhau để phân tích nghĩa tố trong nội dung
nghĩa của từ. Chúng ta có thể dựa vào từ điển tường giải để phân tích các
nghĩa tố, cũng có thể phân tích nghĩa tố bằng cách đối lập từng cặp từ với
nhau để tìm ra các nghĩa tố tồn tại trong nội dung nghĩa của từ.
Khi xác định thành phần nghĩa tố của một đơn vị từ vựng, người ta
đề cập đến những loại nghĩa tố khác nhau, bởi từ vừa là đơn vị từ vựng, vừa là
đơn vị ngữ pháp, nó cũng có thể bao hàm cả một số sắc thái tu từ đặc biệt. Do
đó, trong một từ cần phải chia ra những nghĩa tố từ vựng và nghĩa tố ngữ
pháp, đồng thời phân tích thành tố nghĩa có quan hệ với việc phân tích cú
pháp.
Thủ pháp phân tích nghĩa tố không áp dụng với những từ cô lập. Kết
cấu của nghĩa tố chỉ có thể rõ ràng nếu chúng ta xem xét từ trong mối quan hệ
với những đơn vị ngôn ngữ khác.
4.1.2. Thủ pháp thống kê
Trong luận này, ngoài thủ pháp phân tích nghĩa tố chúng tôi còn
áp dụng thủ pháp thống kê để thống kê miêu tả các từ trong trường nghĩa.
Thủ pháp thống kê sẽ giúp chúng ta có được những thông tin định
lượng về cấu trúc nghĩa cũng như đặc trưng của trường từ vựng - ngữ nghĩa
miêu tả hoạt động của mắt trong hai ngôn ngữ: tiếng Việt và tiếng Pháp.
4.2. Phương pháp so sánh - đối chiếu
Phương pháp so sánh - đối chiếu là một hệ thống các thủ pháp phân
tích được sử dụng để phát hiện cái chung và cái riêng trong các ngôn ngữ
được so sánh. Phương pháp so sánh - đối chiếu tạo ra khả năng phát hiện
những đặc điểm kết cấu của các ngôn ngữ khác nhau.
Nhiệm vụ của việc so sánh - đối chiếu trường từ vựng - ngữ nghĩa là
xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các ngôn ngữ về mặt cấu trúc, hoạt
14
Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN
1.1. LÍ THUYẾT VỀ TRƯỜNG NGHĨA
Lí thuyết trường nghĩa (theory of semantic fields) xuất phát từ những
tiền đề của trường phái Humboldt mới và phần nào từ những tư tưởng của F.
de Saussure về tính hệ thống của ngôn ngữ và những phương pháp cấu trúc
trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố ngôn ngữ. Có nhiều cách
hiểu khác nhau về khái niệm trường nghĩa, nhưng có thể quy vào hai khuynh
hướng chủ yếu.
Khuynh hướng thứ nhất quan niệm trường nghĩa là toàn bộ những
khái niệm mà các từ trong ngôn ngữ biểu hiện. Đại diện cho khuynh hướng
này là L. Weisgerber và J. Trier. Hai ông chịu nhiều ảnh hưởng của học
thuyết về “hình thái bên trong của ngôn ngữ” của Humboldt mới trong ngữ
nghĩa học. Đây là trường phái chủ trương sự phân chia từ vựng của ngôn ngữ
bị quy định trước “bởi hình thái bên trong của ngôn ngữ”. Cơ sở ngôn ngữ
học của Weisgerber là khái niệm thế giới trung gian của ngôn ngữ. Ông thay
thế sự phân tích các từ bằng sự phân tích các khái niệm trong “tinh thần” của
một ngôn ngữ nào đó. Ông thừa nhận sự thống nhất giữa mặt bên ngoài (ngữ
âm) và mặt bên trong (khái niệm) của ngôn ngữ nhưng ông lại coi sự thống
nhất đó có tính chất song song hoàn toàn và đơn giản. Do đó, ông phủ nhận
hiện tượng đa nghĩa và đồng nghĩa của các đơn vị từ vựng. Nhiều từ (các tên
riêng) là ở ngoài ngôn ngữ. L. Weisgerber không giải thích sự khác nhau của
những mô hình cấu tạo từ mà coi đó là kết quả của sự khác nhau trong tư duy
các dân tộc.
Lí thuyết trường của J. Trier phù hợp với luận điểm của Weisgerber
về sự tồn tại trong ngôn ngữ những phạm vi khái niệm được tổ chức một cách
có hệ thống. Lý thuyết trường nghĩa xuất phát từ những tiền đề của trường

Nguyễn Thiện Giáp đã trình bày rất cụ thể về khuynh hướng này như sau:
Ipsen đã căn cứ vào hình thái và chức năng của các từ để xây dựng
trường nghĩa. Theo ông, trường nghĩa bao gồm các từ có quan hệ họ hàng
với nhau về tiêu chí hình thái và ý nghĩa. Ví dụ: những tên gọi kim loại
trong các ngôn ngữ Ấn - Âu đều có hình thái giống trung và hoạt động ngữ

16
pháp tương tự nhau. Người ta thường gọi những trường nghĩa kiểu này là
“trường từ vựng - ngữ pháp”.
M. Konradt - Hicking lại xây dựng trường nghĩa căn cứ vào các từ
ghép. Mỗi kiểu trường nghĩa, trong đó từ rời với tư cách thành tố của từ ghép
đóng vai trò là thành viên của trường. Theo ông, trong phạm vi một trường từ
vựng duy nhất, tức là trong các từ ghép, chỉ có thể tập hợp các từ thuộc cùng
một phạm vi biểu tượng. Ví dụ: cặp từ đồng âm Eule “con chim” và Eule
“cái bàn chải” của tiếng Đức nằm trong hai trường cấu tạo từ khác nhau.
Eule “con chim”
Eule “cái bàn chải”
Eulennest “tổ cú”
Keheule “bàn chải bàn”
Eulenaugen “mắt cú”
Handeeule “bàn chỉ tay”
Ở đây, các thành tố Nest, Augen đã nhập vào lĩnh vực những biểu
tượng gắn liền với chim chóc, còn các thành tố Keh, Hande lại thuộc về các
biểu tượng gắn liền với bàn chải.
Một kiểu trường nghĩa khác gọi là “trường từ vựng - cú pháp” do
Mỹller và Porzig xây dựng trường nghĩa căn cứ vào các ý nghĩa ngữ pháp của
các quan hệ. Các ông cho rằng ý nghĩa của từ lệ thuộc vào những liên hệ cú
pháp. Vì vậy, trường của các ông là những quan hệ đơn giản gồm động từ
hành động và danh từ chủ thể hành động hay danh từ bổ ngữ, tính từ và
danh từ

cùng một lúc. Những liên hệ về mặt ngữ nghĩa giữa các đơn vị từ vựng không
hiện ra trực tiếp giữa các từ được lựa chọn một cách ngẫu nhiên. Tuy nhiên,
những liên hệ ngữ nghĩa ấy sẽ hiện ra khi các từ được đặt trong những hệ
thống con thích hợp. Nói cách khác, “tính hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng
và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những
tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng” (Đỗ Hữu Châu). Những tiểu hệ thống
ngữ nghĩa ấy được gọi là trường nghĩa.

18
Như vậy, lí thuyết trường nghĩa là một trong những lí thuyết ngữ
nghĩa đã và đang được vận dụng một cách rộng rãi để nghiên cứu từ vựng của
rất nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Ưu điểm của lí thuyết này ở chỗ nó cho phép
chúng ta nghiên cứu từ vựng của một ngôn ngữ trong sự so sánh với các ngôn
ngữ khác (cùng hoặc không cùng nguồn gốc và loại hình). Hiện nay, người ta
đang cố gắng xây dựng những lí thuyết trường nghĩa dựa trên các tiêu chí
ngôn ngữ học. Trường nghĩa không phải là phạm vi các khái niệm nào đó nữa
mà là phạm vi tất cả các từ có quan hệ lẫn nhau về nghĩa. Những trường nghĩa
được xây dựng trên cơ sở các từ như thế cũng có nhiều kiểu khác nhau. Mặc
dù có nhiều quan điểm đa dạng về những vấn đề cá biệt nhưng vẫn có thể
nhận thấy hai con đường chủ yếu trong việc khảo sát các trường nghĩa.
Theo thuật ngữ của GS.TS Nguyễn Thiện Giáp, chúng ta có các loại
trường nghĩa sau:
Các trường đối vị: Thuộc vào các trường đối vị là những lớp hạng
các đơn vị từ vựng đa dạng, có chung một tiêu chí ngữ nghĩa nào đó: các
nhóm từ vựng - ngữ nghĩa của các từ, các từ đồng nghĩa, các từ trái nghĩa,
toàn bộ các ý nghĩa liên hệ lẫn nhau của từ đa nghĩa, hệ thống cấu tạo từ, các
từ loại và các phạm trù ngữ pháp của chúng.
Các tiêu chuẩn để thống nhất các từ thành một nhóm từ vựng - ngữ
nghĩa duy nhất có thể rất khác nhau. Weisgerber (1962) đã viết: “Trường từ
vựng hoạt động với tư cách là cái toàn thể, do đó để nhận thức ý nghĩa của

lượng và kết cấu của nhóm đồng nghĩa với tính cách là trường ngữ nghĩa
được quy định bởi chỗ chúng ta lấy nghĩa vị - hình thức từ nào làm hạt nhân.
Các từ trái nghĩa không phải cái gì khác là các lớp hạng ngữ nghĩa của các từ
(hình thức từ) mà các thành phần của chúng gắn bó với những sự đối lập có
tính trái ngược. Cần phân biệt 4 kiểu trái nghĩa:
i) Quan hệ tương phản: đây là những nhóm từ chỉ tham số với nghĩa
kích thước, số lượng, cường độ, đại lượng. Ví dụ: cao - thấp, dài - ngắn, nhiều
- ít, to - nhỏ, nóng - lạnh, mỏng - dày
ii) Quan hệ ngược hướng. Ví dụ: ra - vào, lên - xuống, tiến - lùi
iii) Quan hệ mâu thuẫn. Ví dụ: đúng - sai, trái - phải, sống - chết, yêu -
ghét, tốt - xấu
iiii) Quan hệ nghịch đảo. Ví dụ: mua - bán

20
Về nguyên tắc, mối quan hệ trái nghĩa là mối quan hệ đối xứng: một
trong hai từ trái nghĩa thuộc một cặp nào đó phức tạp hơn về mặt ngữ nghĩa
so với từ kia. Những từ có quan hệ tương phản thể hiện sự đối lập về mức độ
của các thuộc tính, phẩm chất của sự vật, hiện tượng.
Đặc biệt, người ta cũng coi là trường nghĩa cả những kết cấu ngữ nghĩa
của các từ nhiều nghĩa. Giữa các nghĩa khác nhau của một từ nhiều nghĩa
thường có một yếu tố ngữ nghĩa chung tạo nên cái gọi là trục ngữ nghĩa.
Toàn bộ các nghĩa khác nhau của một từ tạo ra một trường nghĩa nhỏ nhất
[34 - 35].
Người ta còn xếp cả từ loại, tiểu loại vào những nhóm từ vựng - ngữ
nghĩa. Từ loại cũng thuộc trường đối vị, tức là các lớp hạng ngữ nghĩa - ngữ
pháp của các từ, bởi vì các từ thuộc vào một từ loại hoặc một tiểu loại cũng có
cùng một ý nghĩa khái quát chung. Chẳng hạn, ý nghĩa sự vật ở danh từ, ý
nghĩa hành động ở động từ, ý nghĩa tính chất ở tính từ. Bởi vì các nghĩa tố cú
đoạn và các vị trí cú đoạn tương ứng với chúng là cơ sở của sự đồng nhất của
các lớp từ này, cho nên có người gọi chúng là các lớp cú đoạn. Với tư cách là

các nghĩa vị cụ thể riêng biệt mà bằng các lớp đối vị của chúng (các trường
đối vị).
Sự phân tích các trường nghĩa sẽ bắt đầu sau khi phân xuất được
chúng. Nhiệm vụ của việc phân tích trường nghĩa là xác định tính hệ thống
của những liên hệ về nghĩa giữa các yếu tố trong trường.
Trong luận văn chúng tôi khảo sát chính là kiểu trường đối vị. Các từ
vị có liên hệ với nhau về mặt ngữ nghĩa, cụ thể là cùng chỉ các hoạt động thị
giác của con người.
1.2. PHÂN BIỆT TRƯỜNG NGHĨA VÀ TRƯỜNG TỪ VỰNG
Có người quan niệm trường nghĩa là cả những kết cấu ngữ nghĩa của
các từ nhiều nghĩa. Giữa các nghĩa khác nhau của một từ nhiều nghĩa thường
có một yếu tố ngữ nghĩa chung tạo nên cái gọi là trục ngữ nghĩa. Nhưng có lẽ
quan điểm này đã nhầm lẫn sang cái gọi là trường từ vựng. Một điều cần thiết
khi nghiên cứu các trường từ vựng - ngữ nghĩa là phải phân biệt cho được
trường nghĩa và trường từ vựng.
Mặc dù trường từ vựng được xác định thông qua một trường nghĩa
cụ thể thì nó vẫn bao hàm nhiều đơn vị từ vựng thuộc các trường nghĩa khác

22
và các trường nghĩa này cũng tham gia xác định các trường từ vựng khác. Do
vậy, một trường từ vựng, vốn có phạm vi giới hạn mập mờ: một trường từ
vựng nối với nhiều trường từ vựng khác và đến lượt chúng, các trường từ
vựng này cũng nối với nhiều trường từ vựng khác nữa và kết quả là các
trường từ vựng có thể tạo nên một mạng lưới bao hàm tất cả kho từ vựng của
một ngôn ngữ.
Igor A Mel’cuk và một số nhà ngôn ngữ học khác phân biệt rõ
trường nghĩa (champ sémantique) và trường từ vựng (champ lexical). Các ông
định nghĩa về trường nghĩa như sau:
“Trường nghĩa là tập hợp các đơn vị từ vựng có chung một thành tố
nghĩa có giá trị nhận diện một trường nghĩa”.

Theo ông, tính không chặt chẽ thể hiện ở ba điểm sau:
i) Ranh giới không được xác định cụ thể.
Bản thân nội dung của một trường nghĩa không được xác định rõ. Ví
dụ: Trong tiếng Pháp, từ vị “doigt” (ngón tay), nez (mũi), bouche (miệng)
có thuộc về cùng trường nghĩa là “bộ phận cơ thể hay không? Vì “doigt”
(ngón tay) là một phần của “main” (bàn tay), “main” (bàn tay) lại là một phần
của “bras” (cánh tay). Chỉ có “bras” (cánh tay) là có thể định nghĩa một cách
dễ dàng như một bộ phận của cơ thể.
ii) Các từ vị có thể thuộc về nhiều trường nghĩa.
Một từ vị có thể thuộc về nhiều trường nghĩa khác nhau. Ví dụ: từ vị
“bistouri”, “scalpel” (dao mổ) thuộc trường nghĩa “dụng cụ để cắt” nhưng
cùng thuộc trường nghĩa “dụng cụ phẫu thuật”. Từ vị “avion” (máy bay) cùng
thuộc về các trường nghĩa “giao thông”, “chiến tranh”, “thể thao”
iii) Sự chồng chéo của các trường nghĩa.
Mặc dù trường từ vựng được xác định thông qua một trường nghĩa cụ
thể thì nó vẫn bao hàm nhiều đơn vị từ vựng thuộc các trường nghĩa khác và
các trường nghĩa này về phần mình cũng tham gia xác định các trường từ
vựng khác. Do đó, một trường từ vựng theo bản chất tự nhiên của nó, vốn có
giới hạn mập mờ: một trường từ vựng nối với nhiều trường từ vựng khác và
đến lượt chúng, các trường từ vựng này nối với nhiều trường từ vựng khác

24
nữa và kết quả là các trường từ vựng có thể tạo nên một mạng nhện bao hàm
tất cả kho từ vựng của một ngôn ngữ. Đây chính là điều khiến cho công việc
của nhà từ vựng học trở nên hấp dẫn nhưng cũng rất khó khăn. Vì không thể
xem xét tất cả các đơn vị từ vựng nên nhà từ vựng học phải chấp nhận thoả
hiệp tốt nhất có thể, tức là xem xét các trường từ vựng chia nhỏ và dễ xử lý.
Ví dụ: trường nghĩa “meuble” (đồ gỗ) gồm các từ vị “table” (bàn),
“tabouret” (ghế đẩu), “banc” (ghế băng), “lit” (giường), “chaise” (ghế),
“armoire” (tủ), “vaisselier” (tủ bát)

tiếng Việt.
TT
Các từ biểu thị hoạt động thị giác
Đơn vị từ vựng phái sinh
1
Nhìn
+ Nhìn âu yếm
+ Nhìn hau háu
+ Nhìn soi mói
+ Nhìn khinh bỉ

Trích đoạn Miêu tả trường nghĩa hoạt động thị giác của con người trong tiếng Việt SỰ TƯƠNG ỨNG VỀ TỪ TRONG TRƯỜNG NGHĨA Ở TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG PHÁP TRƯỜNG TỪ VỰNG CỦA TRƯỜNG NGHĨA HOẠT ĐỘNG THỊ GIÁC CỦA CON NGƯỜI TRONG TIẾNG PHÁP
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status