1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
NGUYỄN MINH TRƯỜNG
TRUYỆN NGẮN VỀ ĐỀ TÀI DÂN TỘC MIỀN NÚI
PHÍA BẮC (QUA CÁC TÁC PHẨM CỦA CAO DUY SƠN,
ĐỖ BÍCH THÚY VÀ NGUYỄN HUY THIỆP) CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.32
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS ĐOÀN ĐỨC PHƯƠNG
Chương 1: Truyện ngắn về để tài dân tộc miền núi phía Bắc trong
bức tranh truyện ngắn đƣơng đại ……………………………………….
10
1.1. Truyện ngắn và những sự đổi mới trong điều kiện xã hội đương đại
10
1.1.1 - Những chuyển biến về nội dung, khuynh hướng phản ánh …….
10
1.1.2. Khả năng mới trong việc thể hiện con người ……………………
16
1.1.3. Sự phong phú về hình thức nghệ thuật …………………………
18
1.2. Truyện ngắn về đề tài dân tộc miền núi phía Bắc - những bức tranh
sinh động về không gian văn hóa và cuộc sống …………………………
22
1.2.1. Khái quát về khu vực miền núi phía Bắc ………………………
22
1.2.2. Truyện ngắn về đề tài vùng núi phía Bắc và vấn đề truyền thống
- hiện đại …………………………………………………………………
25
1.2.3. Những nét chấm phá về bức tranh đời sống văn hóa vùng núi
phía Bắc ……………………………………………………………………
36
Chương 2: Hình tƣợng cuộc sống và con ngƣời miền núi phía Bắc qua
truyện ngắn của Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Huy Thiệp
40
3.1.2 - Nghệ thuật tạo tình huống ………………………………………
73
3.1.3 - Tính chất cốt truyện …………………………………………….
75
3.2 - Nghệ thuật trần thuật …………………………………………………
76
3.2.1 - Người kể chuyện ………………………………………………
76
3.2.2 - Nghệ thuật miêu tả nhân vật ……………………………………
76
3.3 - Ngôn ngữ và giọng điệu ……………………………………………
77
3.3.1 - Ngôn ngữ dung dị, độc đáo ……………………………………
77
3.3.2 - Giọng điệu trần thuật khách quan, đa diện về điểm nhìn ……….
77
Kết luận ………………………………………………………………….
79
Tài liệu tham khảo …………………………………………………….
81
5
6
bên suối của Cao Duy Sơn (giải B năm 2008) Có thể nói, những tác phẩm
văn học này đã thực sự góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần
của người dân trên các làng bản vùng cao, trở thành nhân tố quan trọng
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Bằng tài năng và những trải nghiệm
của mình, đội ngũ những tác giả tâm huyết với đề tài dân tộc miền núi phía
Bắc đã cho ra đời những tác phẩm hay, có nội dung lành mạnh, mang tư
tưởng nhân văn cao.
Thế nhưng, có một thực tế đáng trăn trở hiện nay là những tác phẩm văn
học viết về đề tài văn học dân tộc miền núi nói chung, đề tài dân tộc miền
núi phía Bắc nói riêng dù được giới chuyên môn đánh giá cao nhưng lại có
ít độc giả quan tâm, tìm đọc và hơn nữa hoạt động nghiên cứu về đối tượng
này vẫn còn để ngỏ, có chăng chỉ là những bài viết phê bình nhỏ lẻ đăng
trên các tờ báo chuyên ngành, thiếu hẳn tính toàn diện, hệ thống, chưa
tương xứng với đóng góp của đội ngũ các nhà văn đối với nền văn học
nước nhà. Từ những luận cứ đó, chúng tôi thấy rằng, việc dành thời gian
nghiên cứu các tác phẩm viết về đề tài dân tộc miền núi là nhiệm vụ cấp
thiết để làm sáng tỏ một số vấn đề lí luận về quan niệm nghệ thuật, cảm
hứng sáng tác, đề tài, chủ đề của các nhà văn.
Hơn nữa, việc nghiên cứu hệ thống văn học nói chung, các tác phẩm
truyện ngắn nói riêng về đề tài dân tộc miền núi còn mang ý nghĩa thời sự
thực tiễn nhất là trong giai đoạn hiện nay khi Đảng và Nhà nước đang dành
rất nhiều quan tâm đến sự phát triển mọi mặt của các khu vực miền núi cả
nước trong đó có khu vực miền núi phía Bắc. Với công trình nghiên cứu
này, mong muốn lớn nhất của chúng tôi đó là góp phần gợi ra một cách
nhìn đầy đủ hơn về bức tranh văn học đương đại nói chung, truyện ngắn về
đề tài dân tộc miền núi nói riêng. Hơn nữa, thông qua việc phân tích, nhận
xét về những truyện ngắn của cả 3 nhà văn, chúng tôi có thể đưa ra thêm
một số kiến giải mới về sự vận động và phát triển của thể loại này giữa
nhịp sống gấp gáp, hối hả của xã hội hôm nay.
văn viết “truyện đường rừng” là những “nhà văn mới mẻ” vì “đã cách
mệnh lối tả cảnh trong văn học Việt Nam hiện đại” ở nhiều bình diện và
trước hết là thể tài “các ông cùng rung động ngũ quan, sống bằng cảm
8
giác. Bởi vậy, các ông thích tả những cảnh cổ lỗ, những nhân vật thô sơ,
man dã. Tài liệu viết của các ông là rừng núi âm u, là Mán, Thổ, Sơn
Nhân”
Trên báo “Khuyến học” số 2 ngày 15 September 1935, trong bài viết
Tiểu thuyết và những nhà tiểu thuyết hiện nay, nhà nghiên cứu Lê Tràng
Kiều đã nhắc đến hàng loạt cây bút tiểu thuyết, trong đó đề cao “sự sáng
tạo mãnh liệt” của Thế Lữ và Lưu Trọng Lư ở thể tài dân tộc miền núi. Tác
giả đề cao tập “Vàng và máu” viết về miền núi “chứa chan thi vị” và rất
tâm đắc với “trí tưởng tượng rất dồi dào dám viết những cảnh thần tiên
huyễn hoặc” của Lưu Trọng Lư.
Tiếp đó, trong bộ sách Nhà văn hiện đại (1942), nhà nghiên cứu Vũ
Ngọc Phan cũng dành nhiều trang viết cho các nhà văn viết về đề tài miền
núi, ở đó chỉ ra cả những ưu điểm và hạn chế của các tác giả, tác phẩm. Từ
đó chúng ta có thể thấy rằng, ngay từ trước năm 1945, một số cây bút lý
luận, phê bình đã quan tâm tới mảng sáng tác về miền núi và có những phát
hiện ban đầu về thành tựu của các nhà văn ở mảng hiện thực này, tuy vậy
các nhà nghiên cứu chưa đi sâu khảo sát vào bức tranh toàn cảnh của truyện
viết về miền núi mà chú ý nhiều hơn về những yếu tố kỳ ảo
Một thời kỳ dài khoảng 30 năm từ 1945 đến 1975 do hoàn cảnh của
chiến tranh kéo dài nên mặc dù có khá nhiều các tác phẩm văn xuôi trong
đó có truyện ngắn viết về đề tài dân tộc miền núi nói chung, khu vực miền
núi phía Bắc nói riêng của các tác giả như Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Huy
Tưởng, Ma Văn Kháng, Lương Quy Nhân, Hoàng Nó nhưng việc nghiên
cứu bị gián đoạn. Các bài phê bình xuất hiện trong thời kỳ này hầu hết có
dung lượng ngắn để đăng trên các ấn phẩm báo chí dưới hình thức giới
phần khẳng định một phong cách truyện ngắn độc đáo của Nguyễn Huy
Thiệp. Với những tác phẩm khác đặc biệt là các công trình khóa luận tốt
nghiệp, luận văn thạc sỹ của sinh viên và học viên cao học thì truyện ngắn
của Nguyễn Huy Thiệp lại được tiếp cận một cách sâu sắc, tỉ mỉ hơn từ
những điểm nhìn khác nhau về nghệ thuật lựa chọn, xây dựng tính cách
nhân vật, cách thức sử dụng ngôn ngữ, biểu tượng, phương pháp điển hình
hóa đối tượng, nhân vật người kể chuyện Tuy nhiên có một khía cạnh mà
10
tất cả những công trình, tác phẩm nghiên cứu về Nguyễn Huy Thiệp chưa
đề cập, hoặc chỉ giới thiệu thoáng qua đó là đề tài về dân tộc miền núi phía
Bắc trong các truyện ngắn của ông mà chúng tôi sẽ khai thác ở trong luận
văn này.
Với Cao Duy Sơn và Đỗ Bích Thúy là hai nhà văn thuộc hai thế hệ
gần kề nhau và đều thành công nhờ những tác phẩm truyện ngắn viết về
mảng đề tài dân tộc miền núi phía Bắc. Có thể nói rằng các tác phẩm của
hai tác giả này đã giúp bạn đọc khám phá được rất nhiều về đặc trưng
phong tục, tập quán, văn hóa, lối sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở
vùng núi phía Bắc. Tuy mới chỉ xuất hiện trên văn đàn trong khoảng 10
năm trở lại đây nhưng tên tuổi của hai nhà văn Cao Duy Sơn và Đỗ Bích
Thúy đã được khẳng định và có vị trí trên văn đàn. Qua tìm hiểu, chúng tôi
thầy rằng, đa phần những bài nghiên cứu, những ý kiến đánh giá tác phẩm
của Cao Duy Sơn và Đỗ Bích Thúy là những bài đăng trên các báo, tạp chí
cũng như các chương trình phát thanh, truyền hình mà chưa có một công
trình quy mô hoặc một cuốn sách chuyên khảo riêng biệt. Chúng ta có thể
kể đến các bài viết nổi bật như: Cao Duy Sơn - Đàn trời cất tiếng ca vang”
(báo phát thanh VOV), Cao Duy Sơn - Bông hoa sen đang ngát (Báo điện
tử Evan), Cao Duy Sơn - Viết văn là một cuộc viễn du về nguồn cội (Báo
Thể thao Văn hóa) hay Nhà văn Đỗ Bích Thúy - Sự mềm mại quyết liệt
(Báo An ninh Thế giới cuối tháng), Nhà văn Đỗ Bích Thúy - Một người đã
cần thiết, chúng tôi có thể liên hệ với những tác phẩm viết cùng về đề tài
này trước và sau đó.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Để có được cái nhìn tổng quan về các truyện ngắn của cả 3 tác giả,
chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê, phân loại tập hợp các truyện
ngắn theo từng chủ đề khác nhau.
- Tiếp đó, chúng tôi dùng phương pháp phân tích, trích dẫn tác phẩm để
chứng minh cho từng luận điểm thuộc phạm vi đề tài. Từ việc khảo sát
truyện ngắn về đề tài dân tộc miền núi phía Bắc chúng tôi sẽ rút ra những
thành công và hạn chế trong sáng tác của từng tác giả.
12
- Phương pháp so sánh đồng đại, lịch đại được chúng tôi sử dụng trong
một số tình huống để tìm ra những đặc điểm riêng trong truyện ngắn cùng
một phạm vi đề tài, thể loại của 3 nhà văn này so với các tác giả trước và
sau đó.
- Phương pháp tổng hợp sẽ hỗ trợ chúng tôi trong việc rút ra những đánh
giá, nhận định chung nhất về thành tựu cũng như đóng góp của từng nhà
văn cũng như của cả 3 nhà văn này về phương diện nội dung, nghệ thuật
đối với mảng đề tài dân tộc miền núi phía Bắc nói riêng, nền văn học nước
nhà nói chung. Từ thực tiễn nghiên cứu, chúng tôi sẽ rút ra một số vấn đề
mang tính chất lý luận làm kinh nghiệm cho những công trình nghiên cứu
sau.
5. Mục đích, ý nghĩa đóng góp của luận văn
Từ việc nghiên cứu, khảo sát các truyện ngắn viết về đề tài dân tộc miền
núi phía Bắc của 3 nhà văn: Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Huy
Thiệp, tác giả công trình muốn tạo ra một góc nhìn đầy đủ hơn về văn xuôi
nói chung, truyện ngắn đương đại Việt Nam nói riêng
Công trình sẽ chỉ ra những thành tựu sáng tác của các nhà văn viết về
mảng đề tài dân tộc miền núi phía Bắc, về thế giới thiên nhiên, phong tục
giai đoạn văn học nào và chính đội ngũ các nhà văn ở mỗi thế hệ, mỗi thời
kỳ đều nhận diện cũng như ý thức được tầm quan trọng của nhiệm vụ này.
Chiến thắng hào hùng năm 1975 mở ra một chặng đường mới cho
dân tộc Việt Nam, giai đoạn hòa bình, xây dựng, tái thiết đất nước. Chiến
tranh đã lùi vào quá khứ, tiếng kèn và cờ hoa thắng trận bớt rực rỡ, ồn ào.
Sau một quãng lùi lịch sử, một khoảng cách về thời gian, các truyện ngắn
được sáng tác trong thời kỳ này đã nhạt dần chất sử thi, bớt đi khí vị anh
hùng cao cả mà thay thế vào đó là giọng điệu thâm trầm, sâu lắng hơn với
những sắc màu tình cảm, cung bậc thể hiện và bình diện mới. Ở mọi thời
đại, bao giờ nhân vật của truyện ngắn cũng được đặt trong vô vàn các quan
hệ và các bình diện như tập thể - cá nhân, lý tưởng - hiện thực, tiền tuyến -
hậu phương, sống - chết, được - mất, cho - nhận, cống hiến - hưởng thụ, vì
người - vì mình, lý tưởng chung - số phận riêng, ra đi - trở về Nếu trong
chiến tranh, những con người ấy được khai thác thiên về khía cạnh dân tộc,
14
tập thể, lý tưởng, chiến trường, cống hiến thì trong thời bình, khám phá
của các nhà văn đã nghiêng về trục đối lập. Không gian trong các tác phẩm
cũng được chuyển từ rộng sang hẹp, từ không gian lịch sử sang không gian
đời tư, từ chiến trường về cuộc sống thường nhật. Cảm hứng của các cây
bút cũng có bước thay đổi từ vĩ mô xuống vi mô, từ cao xuống thấp, từ số
phận chung của đất nước, dân tộc đến số phận của những con người cụ thể.
Trong các truyện ngắn đã xuất hiện với mật độ dày đặc hơn tâm thế đối
thoại của các nhân vật, nó chứng tỏ sự xuất hiện của những quan niệm, tiêu
chuẩn, thang bậc giá trị mới khác hoàn toàn trước đó. Chẳng hạn khi các
nhà văn viết về chiến tranh và cái chết đã không còn là sự hồi sinh, thăng
hoa mà là cả nỗi lạnh lẽo, cô đơn, một nỗi buồn chiến tranh đeo đẳng. Tư
thế của người chiến sĩ không còn cao vời vợi để người đời ngưỡng vọng
mà là chính bản thân của họ với ý thức cụ thể, rõ ràng về giá trị của mình,
sẵn sàng chối bỏ mọi ánh hào quang, hư danh để tìm chỗ đứng, vị trí thật
tính thời sự ấy được truyện ngắn truyền tải thông các nghịch lý và các cặp
mâu thuẫn như lý tưởng - hiện thực, chiến tranh - hòa bình, cũ - mới, lừa
dối - sự thật, hiện thực - mộng mơ, chân thực - giả dối, nhớ - quên, được -
mất, cho - nhận, khát khao - thất vọng, quá khứ - hiện tại, hy sinh - đền
đáp Những quan hệ này tồn tại cùng trong một môi trường, một nhân vật,
một sự kiện tạo nên những tác phẩm đậm chất bi kịch.
Một điều đặc biệt đó là văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 lại phát
triển theo hướng khác với xu thế chung. Nếu theo hướng phổ biến thì nó sẽ
phát triển từ bút ký - truyện ngắn - tiểu thuyết còn văn học Việt Nam lại
tiến theo chiều bút ký - tiểu thuyết - truyện ngắn. Giai đoạn bút ký gắn liền
với không khí mới mẻ của cuộc sống những ngày đầu hòa bình có đầy đủ
những mảng màu sáng, tối, đặc biệt là những vấn đề gai góc, những câu hỏi
bức thiết, trăn trở. Chúng ta có thể kể tới chùm các tác phẩm như Cái đêm
hôm ấy đêm gì của Phùng Gia Lộc, Lời khai của bị can của Trần Huy
Quang, Người đàn bà quỳ của Nguyễn Văn Ba, Thủ tục để làm người sống
của Minh Chuyên Từ bút ký chuyển sang tiểu thuyết tuy không theo
hướng đi chung nhưng lại khá liền mạch và phù hợp. Các nhà văn mới rời
chiến trường chưa lâu, một cuộc sống mới mở ra nhưng dư âm của quá khứ
16
bi tráng và hiện tại nghiệt ngã cứ đan xen, ám ảnh lẫn nhau. Chính hiện
thực phong phú được phơi bày kết hợp với vốn sống ngồn ngộn, đầy ắp đã
được truyền tải và dung chứa trong các tiểu thuyết như Trong cơn gió lốc
của Khuất Quang Thụy, Thời xa vắng của Lê Lựu, Bến không chồng của
Dương Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường,
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh Điều dễ nhận thấy là ở ngay những
tiểu thuyết này chất bút ký báo chí vẫn còn khá “đậm đặc”. Các sự kiện,
nhân vật gần như là có thật trong đời sống hàng ngày mà chưa được “gọt
rũa” để nghệ thuật hóa một cách triệt để. Những hiện thực phản ánh trong
các cuốn tiểu thuyết đã được độc giả và người đời biết đến khá rõ ràng, khi
đặc trưng và thế mạnh vốn có của mình đã phát triển một cách mạnh mẽ,
giữ vững vai trò như “người lính xung kích” trên mặt trận văn học nghệ
thuật. Và để có thể làm tròn vai trò đó, các tác giả viết truyện ngắn luôn có
ý thức là phải làm thế nào để đến được với bạn đọc một cách nhanh chóng
và ngắn gọn nhất.
Trương Hiền Lượng, nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc đã nhận xét:
“Thế giới bây giờ, nhịp điệu cuộc sống tăng nhanh, phương thức để người
ta có thể nhận tin, vui chơi và tiêu khiển không chỉ là đọc sách đơn thuần
Điều này khiến những người viết tiểu thuyết chúng tôi, vô tình hay hữu ý
phải suy nghĩ đến quy mô của tác phẩm mình viết, dài bao nhiêu mới dễ
tiếp thu ”. Quan sát sự chuyển động của truyện ngắn Việt Nam hiện đại,
chúng ta thấy có một xu hướng đã từng diễn ra đó là “tiểu thuyết hóa” thể
loại này. Nếu trước đây, truyện ngắn hướng tới cái chốc lát, khoảnh khắc
của đời sống thì nay nó làm nhiệm vụ đúc rút, tổng kết tức là truyện ngắn
mang dung lượng của tiểu thuyết. Khi xã hội càng phát triển, các vấn đề
nảy sinh càng phức tạp và đa dạng, trình độ cũng như nhu cầu thưởng thức
của độc giả không ngừng được nâng cao đòi hỏi truyện ngắn phải tạo cho
mình được sức chứa lớn hơn so với đặc điểm vốn có của thể loại nhưng lại
không được phá vỡ khuôn khổ, kéo dài văn bản, lấn sân tiểu thuyết. Tính
năng mới này của truyện ngắn được tác giả Phạm Hoa phát hiện ra là:
“Ngày nay thông tin được dồn nén nên truyện ngắn phải như một linh kiện
vi mạch. Dung lượng và hàm chứa, tôi nghĩ những điều đó rất quan trọng
18
trong văn xuôi. Tôi đã viết vài truyện ngắn mươi trang mà dung lượng là
dung lượng của tiểu thuyết hai trăm trang ”. Sức chứa có liên quan trực
tiếp đến vấn đề cấu trúc của tác phẩm chính bởi vậy một số nhà văn hiện
đại đã sáng tạo cho truyện ngắn của mình một cấu trúc tự do, không bị cốt
truyện quy định, không cần lối kết thúc có hậu và đến các chi tiết cũng
được sử dụng mang tính tượng trưng hơn. Cấu trúc những truyện ngắn đó
nay đang quan tâm đến "cái tôi" của mình, cái ẩn ức của tuổi trẻ và chuyện
tình yêu tay ba, tay tư nhiều hơn là những đề tài lớn, mang giá trị nhân
văn
1.1.2. Khả năng mới trong việc thể hiện con người
“Truyện ngắn có nhiều khả năng trong việc thể hiện quan niệm về con
người. Do dung lượng nhỏ, nắm bắt những nét bản chất nhất của cuộc sống
nên truyện ngắn có khả năng chuyển tải những vấn đề của thời đại, con
người một cách chính xác, nhạy bén. Cũng chính điều này đã khiến truyện
ngắn trở thành thể loại cho phép nhà văn thử nghiệm và triển khai những
khía cạnh mới mẻ, linh hoạt trong quan niệm nghệ thuật về con người ”
[25].
Đọc các truyện ngắn hiện đại, chúng ta thấy có một đặc điểm khá rõ
ràng đó là càng ngày chúng càng ít trực tiếp miêu tả những sự kiện, vấn đề
lớn liên quan đến sự nghiệp chiến đấu và công cuộc sản xuất của dân tộc
mà lại thiên về miêu tả những chuyện “đời thường” xoay quanh số phận
của những con người cụ thể. Điều đó đã thể hiện một quan niệm nghệ thuật
mới của những người cầm bút trong việc khai thác nhân vật của mình, nhìn
nhận con người bằng quan niệm biện chứng trong sự tổng hòa các mối
quan hệ xã hội, ở đó mọi diễn biến tâm lý, tình cảm đều được bộc lộ trong
từng hoàn cảnh điển hình. “Nếu như văn xuôi luôn có lợi thế trong việc
phát hiện ra bản chất của con người đương thời thì truyện ngắn là người
lính xung kích ” [52, tr.110]. X. Mô-ôm, nhà văn người Anh cũng từng
viết: “Người ta không bao giờ biết hết mọi thứ cần biết về bản chất con
người. Người ta chỉ dám chắc là nó, cái bản chất ấy, sẽ không bao giờ thôi
dành cho người khác một sự bất ngờ ”. Đây chính là cái đích mà rất nhiều
các truyện ngắn hiện đại hướng tới. Những day dứt của số phận con người
20
nhiều khi lại thể hiện trong một anh họa sĩ với sự giằng xé lương tâm, tự
bạch và hối cải khi nhìn nhận ra sự vô tâm đến tàn nhẫn của mình (Bức
trong đó nhân vật đã ứng xử khi hành động hoặc diễn tả lại một diện mạo
bất thường của đời sống cho bạn đọc. Một số truyện chú trọng đến việc
tường thuật sống động các hành động, số truyện khác thì lại để tâm đến
việc thiết định một hình thái hay ghi dấu một ấn tượng cảm xúc sâu sắc, và
số truyện khác thì nhắm vào những sự kiện bình nhật nhưng chở mang ý
nghĩa thâm sâu ”. Trong bối cảnh xã hội mà khoa học kỹ thuật và công
nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ như vũ bão hiện nay thì nhu cầu thưởng
thức văn học nghệ thuật của con người cũng đứng trước rất nhiều sự lựa
chọn. Truyện ngắn với lợi thế đó là sự bao chứa những vấn đề lớn, những
thông điệp sâu sâu sắc trong một hình thức nhỏ, gọn gàng đã thực hiện rất
hiệu quả chức năng truyền tải thông tin của mình. Cũng tựa như nghệ thuật
“ý tại ngôn ngoại” của thi ca, truyện ngắn hiện đại có khả năng gợi lên rất
nhiều suy ngẫm xuất phát từ một hiện tượng đời sống điển hình. Truyện
ngắn hiện đại sẽ phá vỡ những chiều hướng êm ả và sự cân bằng ở một số
thể loại khác. Diễn biến cốt truyện không phải là một chuỗi liên tục những
sự kiện móc nối vào với nhau mà là một ám ảnh tâm hồn trong quá trình
biến chuyển lương tri trong những thời khắc có ý nghĩa nhất của đời người.
Đọc truyện ngắn của các tác giả hiện nay như Cao Duy Sơn, Hồ Anh Thái,
Nguyễn Thế Hoàng Linh, Nguyễn Danh Lam, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn
Ngọc Tư, Nguyễn Ngọc Thuần, Hồ Thị Ngọc Hoài ta thấy rằng, mạch kể
trong từng câu chuyện không đơn thuần chỉ là sự sắp xếp theo thời gian
tuyến tính mà còn theo một sơ đồ ma trận, gồm có nhiều chiều khác nhau
để từ đó người đọc có thể cùng một lúc nhận ra tất cả những chiều kích mà
mục đích truyện hướng vào.
Anh ta tập hợp những cuộc xung đột - cãi cọ và đôi khi cả những
điều dấm dớ trong đời sống thành một bức tranh ngôn từ có trình tự và khả
tri. Tác giả có thể đề cập đến những sự kiện có thực còn thô ráp của đời
sống, nhưng một tác giả sành sỏi sẽ tạo tác câu chuyện của mình thành một
nghệ phẩm. Những yếu tố chân thực của đời sống (true-to-life) có thể được
xử lý bằng nhiều cách khác nhau Dừ xử lý thế nào mặc lòng, người viết
những người tham gia giao tiếp, thì trong truyện ngắn đương đại, kiểu nói
“xấc xược” của lớp trẻ không còn quá lạ tai. Để phê phán một mảng xã hội
23
bộn bề, mọi chuẩn mực đạo đức bị đảo lộn, nhiều cây bút đã không ngại sử
dụng thứ ngôn ngữ trần thuật “thiếu văn hóa”. Ở Làng xi măng (Lê Minh
Khuê), giả sử không có lời chú thích của người trần thuật, hẳn không nhiều
độc giả “dịch” được bức điện tín: Bà mõm. Thối rồi. Về ngay! (bà ốm, mất
rồi, về ngay). Kiểu thông báo có tính chất mệnh lệnh với ngôn từ ít trang
trọng vẫn có thể là lời của con cái dành cho bậc sinh thành: “Bao giờ ổn
định con sẽ “cẩu” mẹ ra khỏi cái “làng Vũ Đại” (Gió đồng se sắt - Đỗ
Tiến Thụy). Đoạn văn sau đây trong Đại hùng kê (Hòa Vang) là bằng
chứng của một thứ ngôn ngữ giao tiếp đáng kinh hãi xuất hiện đậm đặc
trong truyện ngắn hôm nay: “Phéng mẹ nó một nhát với cái lão “hâm đơ”
viêm màng túi mãn tính cùng đời ấy cho xong phắt đi Chị mới sắp bốn
mươi cái lơ thơ tơ liễu buông mành, sợ gì? phây phây lắm, ngọt bột canh
Ajinô Môtô lắm…”. Có một sự đối nghịch rõ rệt nếu soi xét bằng con mắt
thực dụng giữa lão chồng hâm đơ và người vợ còn ngọt bột canh Ajinô
Môtô lắm. Lời khuyên như thuyết phục hơn nhờ ngôn ngữ phố phường thời
hiện đại. Trong hai thập niên trở lại đây, sự bùng nổ thông tin đã tác động
đến ngôn ngữ đời sống và để lại dấu ấn khá rõ ở ngôn ngữ trần thuật. Từ
ngữ chuyên môn trở nên phổ biến (các thuật ngữ y học, tên các loại bệnh
mới: HIV-AIDS, viêm não Nhật Bản, sarc, dịch cúm gia cầm…; các khái
niệm kinh tế tiền tệ: công ty cổ phần, thị trường chứng khoán, cổ phiếu…,
các ngôn từ đặc trưng thời đại kĩ thuật số, công nghệ thông tin: thư điện tử,
chat, truyền hình cáp, nối mạng, trực tuyến…). Những từ ngữ vốn chỉ mới
xuất hiện gần đây cũng ùa vào tác phẩm: cave (gái làm tiền), ô-sin (người
giúp việc), gay (người đồng tính), sếp (cấp trên), víp (nhân vật quan
trọng)… Ngôn ngữ thời đại a còng (@) được sử dụng như những phương
tiện biểu đạt mới. Xuất hiện cả dạng ngôn ngữ không dấu của người trần
Qua cầu nhớ người, Hiu hiu gió bấc… Đến với văn Ngọc Tư, độc giả có
thể hình dung rất rõ về vùng đất Nam Bộ. Từ những mé đìa lục bình, đám
trâm bầu, chòm quao, trái giác nấu canh chua bông súng đến cách gọi tên
nhân vật (anh Hai Nhớ, dì út Thu Lý, dì Tư, út Thà, Sáu Tâm…) hay lời ăn
tiếng nói thường ngày (trời đất, đúng chóc hà, nói gì lãng xẹt vậy ta, nói
chơi hoài, như vầy, chút đỉnh…) đều gợi lên dáng hình thiên nhiên, con
25
người xứ sở miền Nam. Có thể nói, với ngôn ngữ trần thuật mang đậm dấu
ấn văn hóa vùng miền, truyện ngắn Việt Nam thời kì đổi mới không những
nhiều dáng vẻ mà còn rất gần gũi với đời sống con người.
Tính chất đa thanh trong ngôn ngữ trần thuật hôm nay xuất phát từ
việc tổ chức đồng thời những tiếng nói khác nhau. Sự xen lẫn của lời thoại
nhân vật vào lời kể và đặc biệt là hình thức lời nửa trực tiếp đã góp phần
làm mới nghệ thuật kể chuyện, cho thấy ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý
của các cây bút truyện ngắn đương đại. Trong những nỗ lực cách tân, việc
đổi mới ngôn ngữ trần thuật là một thành công không thể phủ nhận của
truyện ngắn Việt Nam từ sau 1986. Với cách vận dụng linh hoạt ngôn ngữ
đời sống, ngôn ngữ vùng miền; và nhất là với cách tổ chức đồng thời nhiều
tiếng nói khác nhau, người trần thuật có vai trò quan trọng trong việc cấu
trúc tác phẩm, dẫn dắt mạch truyện. Khảo sát các phát ngôn trong văn bản
truyện kể, độc giả có thể phần nào hình dung dược diện mạo của người trần
thuật. Hơn thế, thông qua ngôn ngữ trần thuật người đọc còn có thể nhận
diện những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ truyện ngắn hôm nay.
1.2. Truyện ngắn về đề tài dân tộc miền núi phía Bắc - những bức
tranh sinh động về không gian văn hóa và cuộc sống
Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số trong thời kỳ đổi mới đã có
những bước phát triển mạnh, đáp ứng được phần nào nhu cầu thưởng thức
của độc giả. Có thể nói văn học nghệ thuật đã thực sự góp phần làm phong
phú thêm đời sống tinh thần của người dân trên các làng bản vùng cao, trở
lưng về hướng Đông lần lượt từ Đông sang Tây là vòng cung Sông Gâm,
Ngân Sơn, Bắc Sơn, Đông Triều. Núi mọc cả trên biển, tạo thành cảnh
quan Hạ Long nổi tiếng. Vùng Đông Bắc có nhiều sông chảy qua, trong đó
các sông lớn là sông Hồng, sông Chảy, sông Lô, sông Gâm (thuộc hệ thống
sông Hồng), sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam (thuộc hệ thống sông
Thái Bình), sông Bằng, sông Bắc Giang, sông Kỳ Cùng Về phạm vi hành
chính, vùng Đông Bắc bao trùm các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Hà
Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc
Giang và Quảng Ninh. o địa hình cao, ở phía Bắc, lại có nhiều dãy núi hình
cánh cung mở ra ở phía bắc, chụm đầu về Tam Đảo, nên vào mùa Đông,
vùng này có gió Bắc thổi mạnh, nên rất lạnh. Vùng núi ở Lào Cai, Hà
Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn có thẻ có lúc nhiệt độ xuống 0°C và có mưa