vấn đề xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc miền núi phía bắc nước ta - Pdf 11

LUẬN VĂN:

Vấn đề xây dựng ý thức bảo vệ môi
trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc
miền núi phía Bắc nước ta

mở đầu

1. Lý do chọn đề tài
Lý luận và thực tiễn đã khẳng định rằng: tự nhiên - xã hội - con người là một
chỉnh thể thống nhất. Con người là một bộ phận của tự nhiên, con người và xã hội loài
người chỉ có thể tồn tại và phát triển được trong mối quan hệ mật thiết và gắn bó hài hòa với
môi trường tự nhiên. Môi trường sống vừa là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển; vừa là nơi
diễn ra các hoạt động như: lao động, nghỉ ngơi, hưởng thụ, cảm nhận văn hóa và thẩm mỹ
mang tính đặc trưng của con người với tư cách là một thực thể sinh học - xã hội. Nói cách
khác, ý nghĩa đặc biệt quan trọng - không thể thay thế - của môi trường đối với con người và

kinh tế - xã hội, trong đó đặc biệt là ý thức bảo vệ môi trường (hay còn được gọi là ý thức
sinh thái). Điều này được biểu hiện cụ thể ở những hành vi ứng xử không còn phù hợp
của con người đối với môi trường sống xung quanh mình. Có thể khẳng định rằng, mọi
sự cố gắng để cải thiện, bảo vệ môi trường sống ở miền núi phía Bắc sẽ khó đạt được
hiệu quả như mong muốn, chừng nào còn chưa tạo ra được sự chuyển biến tích cực, cách
mạng trong nhận thức của người dân. Bởi vì, Ph. Ăngghen đã nhận xét: Tất cả cái gì thúc
đẩy con người hành động, đều tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ. Điều đó cho thấy,
việc nghiên cứu: Vấn đề xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các
dân tộc miền núi phía Bắc nước ta hiện nay để hướng đến một sự phát triển bền vững là
rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng cả về phương diện lý luận, lẫn phương tiện thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ giá trị vô cùng to lớn của môi trường đối với sự tồn tại, phát triển
của con người và xã hội loài người, bảo vệ môi trường trở thành vấn đề chung của toàn
cầu và là khẩu hiệu hành động của thời đại. Chính vì vậy, nhiều cuộc hội nghị, hội thảo
khoa học ở các cấp độ quốc tế, khu vực và quốc gia về bảo vệ môi trường đã được tiến
hành, nhiều tổ chức, các công ước quốc tế, nghị định thư và chương trình nghiên cứu môi
trường được xây dựng, triển khai hoạt động.
ở Việt Nam, vấn đề bảo vệ môi trường được Đảng, Nhà nước và các nhà khoa
học đặc biệt quan tâm, nhất là kể từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới và đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cùng với sự ra đời của Luật bảo vệ môi trường (năm
1993), hàng loạt văn bản dưới luật liên quan đến vấn đề này được ban hành và tổ chức
thực hiện trên phạm vi cả nước. Đặc biệt, tại Hội nghị khoa học toàn quốc về môi trường
được tổ chức lần thứ nhất vào năm 1998 và nhiều hội nghị, hội thảo cấp quốc gia khác,
các nhà khoa học và lãnh đạo Sở Khoa học - Công nghệ - Môi trường các địa phương đã
phân tích khá chi tiết hiện trạng môi trường với những biểu hiện đa dạng của nó, đề xuất
những giải pháp nhằm ngăn chặn thảm họa môi trường có thể xảy ra. Chỉ thị về "Tăng
cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của Bộ

Vì vậy, góp phần vào việc giải quyết vấn đề môi trường sinh thái ở vùng núi phía Bắc từ
khía cạnh xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc khu vực
này là cần thiết. Đó cũng là lý do chủ yếu để chúng tôi chọn và triển khai đề tài này trong
luận văn thạc sĩ triết học của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích:
Từ bình diện triết học xã hội, luận văn làm rõ thực trạng ý thức của đồng bào các
dân tộc miền núi phía Bắc trong việc bảo vệ môi trường, đồng thời đưa ra một số giải
pháp cơ bản, có tính định hướng đối với việc xây dựng ý thức bảo vệ môi trường cho
đồng bào các dân tộc ở vùng lãnh thổ này.
- Nhiệm vụ: Với mục đích trên, luận văn phải giải quyết các nhiệm vụ sau:
+ Một là, dựa trên quan điểm mác-xít về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã
hội và ý thức xã hội, luận văn phân tích và làm rõ ý nghĩa, tính tất yếu của việc xây dựng
ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho nhân dân hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
+ Hai là, phân tích thực trạng ý thức của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc
nước ta trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, chỉ ra những nguyên nhân cơ bản dẫn đến
thực trạng đó.
+ Ba là, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng ý thức bảo vệ môi
trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài vấn đề xây dựng thức
bảo vệ môi trường trong đời sống xã hội và phát triển kinh tế hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn là xây dựng ý thức bảo
vệ môi trường của đồng bào các dân tộc vùng núi phía Bắc.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn được triển khai dựa trên cơ sở những quan điểm của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện của Đảng về vấn đề môi

cảnh báo về mức độ nghiêm trọng, sự tiếp tục gia tăng theo chiều hướng xấu của
những vấn đề môi trường.
Vậy, khái niệm môi trường là gì? Trước hết, cần phải khẳng định rằng,
đây là một khái niệm rộng và tương đối phức tạp. Chính vì vậy, tùy thuộc vào
cách nhìn nhận mối quan hệ của thực thể (sinh thể) với các điều kiện xung quanh
và phạm vi xem xét, nghiên cứu, khái niệm môi trường được hiểu theo nhiều
nghĩa khác nhau:
Thứ nhất, môi trường được hiểu là toàn bộ thế giới vật chất, với tất cả sự
đa dạng, muôn màu muôn vẻ của nó và luôn tồn tại khách quan. Môi trường hiểu
theo nghĩa như vậy thường được gọi là môi trường toàn cầu, môi trường trái đất
và những điều kiện bao quanh trái đất. Nó bao gồm khí quyển, thủy quyển và
thạch quyển (địa quyển).
Thứ hai, môi trường được hiểu là môi trường sống, là phần của thế giới
vật chất đã và đang tồn tại sự sống, hay còn được gọi là sinh quyển. Môi trường
sống bao gồm trong đó những điều kiện vô cơ và hữu cơ liên quan trực tiếp hoặc
gián tiếp đến sự tồn tại, phát triển của các sinh thể.
Thứ ba, môi trường sống còn được hiểu là môi trường sống của con
người và xã hội loài người. Nó bao gồm sinh quyển và những điều kiện xã hội.
Nói cách khác, đó là môi trường tự nhiên - xã hội, hay môi trường tự nhiên -
người hóa, môi trường sinh thái nhân văn.
Trên thực tế, cho đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, cả trên
thế giới và ngay tại Việt Nam, bàn đến các khía cạnh của vấn đề này và đề xuất
những cách định nghĩa khác nhau về khái niệm môi trường. Năm 1981, Tổ chức
giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra một định nghĩa về khái niệm
này như sau: Môi trường bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và nhân tạo,
trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác những tài
nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo để thỏa mãn những nhu cầu của mình. ở nước

Dựa vào những cách hiểu trên và từ góc độ triết học xã hội, theo chúng
tôi, có thể định nghĩa khái niệm môi trường như sau: Môi trường là một khái
niệm dùng để chỉ toàn bộ những điều kiện bao quanh một thực thể (sinh thể) hay
một nhóm thực thể nào đó, giữa những điều kiện bao quanh và thực thể luôn tồn
tại những mối quan hệ, ảnh hưởng và tác động lẫn nhau. Đối với con người và
xã hội loài người, các điều kiện bao quanh đó không chỉ là những điều kiện tự
nhiên mà còn bao gồm cả các điều kiện xã hội. Như vậy, nói đến bảo vệ môi
trường là nói đến môi trường sinh thái nhân văn - môi trường sống của con người
và xã hội loài người. Con người ở đây phải được hiểu trên cả hai mặt: là một thực
thể tự nhiên có những nhu cầu sống như mọi sinh vật khác, đồng thời là một thực
thể xã hội, mà xã hội chính là một bộ phận không thể tách rời của giới tự nhiên.
Tóm lại, có thể thấy rằng, khái niệm môi trường sống của con người và
xã hội loài người rất rộng, trong đó bao hàm cả các điều kiện tự nhiên lẫn những
điều kiện xã hội. Thực tế, con người - theo đúng nghĩa của từ này - không chỉ sống
bằng những nhu cầu mang tính bản năng tự nhiên, hơn thế, còn tồn tại, phát triển
trong hàng loạt mối quan hệ xã hội đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, với phạm
vi của một luận văn, vấn đề môi trường mà chúng tôi đề cập đến ở đây trước hết
và chủ yếu giới hạn ở khía cạnh các điều kiện tự nhiên. Nói cách khác, với tư
cách là một khái niệm công cụ, khái niệm môi trường được sử dụng trong luận
văn chủ yếu theo nghĩa là môi trường tự nhiên.
1.1.2. Vai trò của môi trường đối với đời sống của con người và xã hội
loài người
Như chúng ta đã biết, tự nhiên, con người và xã hội là các yếu tố thống
nhất trong một chỉnh thể không tách rời. Trong hệ thống đó, khó có thể xác định
rằng yếu tố nào là quan trọng nhất. Trên thực tế, mỗi yếu tố đều có vị trí và vai
trò nhất định. Trong mối quan hệ chặt chẽ và sự tác động qua lại giữa xã hội và
tự nhiên, yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng rất to lớn đối với sự tồn tại, phát triển của

nhiên, do vậy, là "quan hệ máu thịt". Môi trường là cơ sở tự nhiên của đời sống
con người, là tiền đề của nền sản xuất xã hội; mặc dù không giữ vai trò quyết
định song nó có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển xã hội. Trong "Bản thảo
kinh tế - triết học năm 1844", khi đánh giá vị trí, vai trò của tự nhiên đối với sự
phát triển của con người và xã hội, C. Mác đã khẳng định:
Công nhân không thể sáng tạo ra cái gì nếu không có giới tự
nhiên, nếu không có thế giới hữu hình bên ngoài. Đó là vật liệu, trong
đó lao động của anh ta được thực hiện, trong đó hoạt động lao động
của anh ta triển khai, từ đó và nhờ đó, lao động của anh ta sản xuất ra
sản phẩm. Giới tự nhiên cung cấp cho lao động tư liệu sinh hoạt theo
nghĩa là không có vật để cho lao động tác động vào thì lao động
không thể sống được; mặt khác, chính giới tự nhiên cũng cung cấp tư
liệu sinh hoạt theo nghĩa hẹp hơn, nghĩa là cung cấp tư liệu để tồn tại
về thể xác cho bản thân người công nhân [20, tr. 130].
Sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại trong thời
đại ngày nay đã mang lại cho con người những khả năng và sức mạnh to lớn, cho
phép con người có thể tạo ra những vật liệu mới, mà nguyên liệu để sản xuất vốn
không có sẵn trong tự nhiên. Tuy nhiên, xét đến cùng, những thành phần để tạo
nên những vật liệu mới đó cũng không thể lấy từ đâu khác ngoài giới tự nhiên.
Điều đó chứng minh rằng, tự nhiên luôn đóng vai trò là tiền đề, điều kiện tiên
quyết cho sự tồn tại và phát triển của con người. Dẫu rằng khi xã hội loài người
còn ở trong giai đoạn tiền sử, mông muội hay đã phát triển đến trình độ văn
minh, hiện đại như ngày nay (và sẽ tiếp tục phát triển hơn nữa) thì vai trò đó của
tự nhiên vẫn không thể thay thế, không bị mất đi.
Như vậy, tự nhiên là môi trường sống không thể thay thế của con người
và xã hội loài người - đó là điều chắc chắn và không có gì phải bàn cãi. Song, cần
phải thấy là vai trò đó của tự nhiên có tính lịch sử cụ thể. Nghĩa là vai trò của tự

vốn có của tự nhiên không những là những yếu tố cần thiết đối với sự sống của
con người, mà còn là những nguồn tài lực vô cùng tận cho sự phát triển của xã
hội, nếu như con người biết khai thác và sử dụng nó một cách khôn khéo, hợp lý"
[39, tr. 72].
Tự nhiên vừa là nguồn cung cấp tài nguyên, vừa là nơi thu nhận các hoạt
động của con người nhằm cải biến những tài nguyên đó thành các giá trị vật chất
và tinh thần phục vụ sự tồn tại, phát triển của con người, xã hội. Như chúng ta đã
biết, với các loài động vật khác chỉ biết lấy từ tự nhiên những sản phẩm có sẵn
như một hành vi kiếm sống mang tính bản năng, tự nhiên. Trái lại, con người là
một một sản phẩm hoàn thiện nhất của tự nhiên, là loại động vật cao cấp, có ý
thức. Con người, như quan niệm của triết học mác-xít, vừa là một thực thể tự
nhiên, vừa là một thực thể xã hội. Con người không chỉ biết sử dụng những sản
phẩm sẵn có của tự nhiên như giai đoạn sơ khai trong lịch sử hình thành và phát
triển, mà còn tác động vào tự nhiên, cải tạo tự nhiên vì những lợi ích của mình.
Do vậy, tự nhiên còn là môi trường diễn ra các hoạt động sống của con người,
trước hết là hoạt động lao động sản xuất, và nhờ vậy, con người duy trì được sự
tồn tại, phát triển của chính bản thân mình.
Tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất, các yếu tố tự nhiên, con người và xã
hội luôn liên hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau. Hoạt động của con người là một
quá trình "trao đổi chất" thường xuyên giữa con người với tự nhiên. Trong tác
phẩm "Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844", C. Mác viết:
Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người. Con người
sống bằng giới tự nhiên. Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của
con người, thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình
thường xuyên giao tiếp để tồn tại. Nói rằng đời sống thể xác và tinh
thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua
chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vì con

tạo hóa. Sống trong một môi trường tự nhiên hài hòa và đa dạng, con người sẽ có
một đời sống tinh thần phong phú, trong sáng. Nó làm cho con người thấy cuộc
sống có ý nghĩa và đáng yêu hơn.
Trong quá trình trao đổi chất giữa con người và tự nhiên, con người
không chỉ nhận từ tự nhiên những nguồn năng lượng cần thiết cho sự tồn tại, phát
triển của mình và xã hội mà còn thải vào tự nhiên các chất thải của hoạt động sản
xuất, sinh hoạt. Nói cách khác, môi trường tự nhiên không chỉ là nguồn cung cấp
các điều kiện sống mà còn đóng vai trò là nơi đồng hóa các phế thải do con người
thải ra. Người ta không thể hình dung được rằng, giả sử lượng chất thải khổng lồ
do các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người, từ trước tới nay, không được
xử lý mà cứ tích tụ lại thì cuộc sống của con người sẽ ra sao. May mắn thay, điều
đó đã không xảy ra, ít nhất là cho đến nay. Bản thân tự nhiên có cơ chế tự điều
chỉnh và làm sạch của nó. Chính là nhờ chức năng quan trọng này của môi
trường tự nhiên mà con người và xã hội loài người đã không phải sống ngập
chìm bên cạnh hàng loạt chất thải bỏ.
Cũng cần phải thấy rằng, tác động của con người, xã hội đối với tự nhiên
càng mạnh thì sự phụ thuộc của nó vào tự nhiên càng lớn. Đây là vấn đề có tính
quy luật của sự tác động qua lại giữa tự nhiên và xã hội. Thực tế cho thấy, từ chỗ
nhận thức chưa đúng về vai trò của tự nhiên, coi tự nhiên là kho của cải vô tận có
thể mặc sức sử dụng, con người đã tác động mạnh mẽ vào tự nhiên thông qua
hoạt động sản xuất và để lại những hậu quả to lớn nhiều khi không thể lường
trước mức độ cũng như tính chất nghiêm trọng của nó. Trong quá trình sản xuất,
tiêu dùng , hoạt động của con người không được kiểm soát chặt chẽ, điều chỉnh
phù hợp với quy luật khách quan. Do vậy, sự gia tăng các hoạt động của con
người đã tạo nên một sức ép vô cùng lớn đối với tự nhiên, vượt khỏi khả năng
chịu đựng của nó. Điều này thể hiện ở chỗ, với trình độ phát triển như hiện nay,
nền sản xuất xã hội có thể sử dụng hầu hết toàn bộ các nguồn vật chất vốn có của

đó nguyên tắc chủ đạo là sự đồng tiến hóa giữa con người và tự nhiên, đòi hỏi
trong quá trình mưu cầu hạnh phúc của mình, con người không chỉ khai thác tự
nhiên mà nhiệm vụ không kém phần quan trọng, thậm chí có ý nghĩa quyết định
sự sống còn, là cần phải biết giữ gìn, bảo vệ môi trường tự nhiên; tạo lập môi
trường nhân tạo phù hợp với quy luật khách quan của sự phát triển xã hội và tự
nhiên, phù hợp với nhu cầu của cuộc sống con người; xây dựng mối quan hệ hài
hòa giữa tự nhiên và xã hội vì lợi ích chung, lâu dài của xã hội loài người. Để
biến quan niệm mới về sự phát triển trở thành hiện thực, trước hết con người cần
phải có ý thức bảo vệ môi trường sinh thái.
1.2. ý thức bảo vệ môi trường và ý nghĩa của việc xây dựng ý thức
bảo vệ môi trường
1.2.1. ý thức xã hội và ý thức bảo vệ môi trường
Để có sự nhận thức đúng đắn về ý thức bảo vệ môi trường, trước hết, cần
phải trở lại với những quan niệm của triết học mác-xít về các khái niệm cơ bản
như ý thức, ý thức xã hội.
theo quan niệm của triết học mác-xít, ý thức là sản phẩm đặc biệt của sự
tác động qua lại giữa hai hệ thống vật chất: con người và thế giới hiện thực khách
quan. ý thức chỉ có thể là ý thức của con người, được hình thành và phát triển
thông qua lao động và ngôn ngữ. Nói cách khác, nguồn gốc trực tiếp quyết định
sự ra đời và phát triển của ý thức chính là thực tiễn xã hội. C. Mác và Ph.
Ăngghen đã khẳng định rằng, "ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là
tồn tại được ý thức và tồn tại của con người là quá trình sinh sống hiện thực của
con người" [19, tr. 37]. ý thức chính là sự phản ánh tự giác hiện thực khách quan,
hay nói như Lênin, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng vào nghiên
cứu lĩnh vực đời sống xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã chỉ ra
rằng, ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, ý thức xã hội bao gồm

Ba là, ý thức xã hội có tính kế thừa.
Bốn là, giữa các hình thái ý thức có sự tương tác và ảnh hưởng lẫn
nhau.
Năm là, ý thức xã hội có sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội thông
qua ý thức cá nhân của con người.
Dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa con người với xã hội và giữa con người
với tự nhiên, triết học mác-xít đã phân loại ý thức xã hội thành các hình thái khác
nhau. Cụ thể, đó là các hình thái: chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, ý thức
thẩm mỹ, ý thức tôn giáo và khoa học. Một vấn đề đặt ra ở đây là, ý thức bảo vệ
môi trường (hay ý thức sinh thái) là gì, nó có phải là một hình thái của ý thức xã
hội không và biểu hiện của nó như thế nào trong thực tiễn đời sống xã hội?
Hiện nay, trong các công trình nghiên cứu khoa học, các văn bản liên
quan đến môi trường, chúng ta thường gặp các thuật ngữ như ý thức sinh thái, ý
thức bảo vệ môi trường Theo chúng tôi, các thuật ngữ, khái niệm này là ngang
bằng, tương đương nhau về mặt nội dung. Có thể hiểu ý thức bảo vệ môi trường
(hay ý thức sinh thái) là sự nhận thức một cách tự giác của con người về tự nhiên
và thái độ, trách nhiệm của con người đối với môi trường sinh thái được hình
thành trên cơ sở những tri thức, sự hiểu biết của con người về tự nhiên và vị trí,
vai trò của con người trong mối quan hệ với tự nhiên
Cần phải thừa nhận rằng rằng, cho đến nay, việc xác định ý thức bảo vệ
môi trường (hay ý thức sinh thái) có phải là một hình thái ý thức xã hội hay
không vẫn đang là một vấn đề rất phức tạp. Trong hệ thống các hình thái của ý
thức xã hội mà triết học Mác - Lênin đưa ra không có ý thức sinh thái. Song, có
lẽ cũng không nên vì thế mà cho rằng nó không phải là một dạng thức, một hình
thái của ý thức xã hội. Bởi vì, một mặt, những vấn đề môi trường chỉ mới nảy
sinh trong khoảng giữa thế kỷ XX; mặt khác, triết học Mác - Lênin, như các nhà
kinh điển khẳng định, luôn luôn là một hệ thống mở, đòi hỏi phải được thường

Khía cạnh chính trị của ý thức bảo vệ môi trường sinh thái không chỉ tác
động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế, xã hội mà nó liên quan trực tiếp đến sự hình
thành, phát triển của chính bản thân ý thức bảo vệ môi trường. Quan niệm mới về
sự phát triển bền vững, trong đó nguyên tắc cơ bản là sự đồng tiến hóa giữa con
người và tự nhiên, đòi hỏi con người phải chú ý, quan tâm nhiều hơn đến khía
cạnh chính trị của ý thức sinh thái. Bởi lẽ, đó là một trong những cơ sở quan
trọng tham gia vào sự điều chỉnh hoạt động của con người theo hướng tích cực,
tự giác vì mục tiêu bảo vệ, gìn giữ và "chung sống thân thiện" với môi trường
sinh thái.
Hai là, khía cạnh pháp luật trong ý thức bảo vệ môi trường sinh thái.
Trong bối cảnh môi trường sống của con người đã và đang đứng trước nguy cơ bị
khủng hoảng, mất cân bằng sinh thái , cần thiết phải có những quy định thống
nhất, chặt chẽ nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong quá trình tác động
vào môi trường tự nhiên. Trên bình diện quốc tế, những quy định chung đó là các
công ước giữa các nước về môi trường (ví dụ như Công ước chung về thay đổi khí
hậu của Liên hợp quốc, Công ước về đa dạng sinh học ); ở cấp độ quốc gia là các
văn bản pháp luật (Luật bảo vệ môi trường năm 1993, Luật tài nguyên nước (1998),
Luật khoáng sản năm 1996 ).
Pháp luật có vai trò hết sức quan trọng đối với việc bảo vệ môi trường, là cơ
sở, công cụ pháp lý để nhà nước quản lý và điều tiết các hoạt động bảo vệ môi
trường vì lợi ích chung của các cộng đồng dân cư, của toàn xã hội. Bằng pháp
luật, với những quy định được thể hiện dưới hình thức văn bản và có hiệu lực
khác nhau, nhà nước điều chỉnh việc bảo vệ môi trường, đáp ứng yêu cầu của quá
trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền được sống trong môi trường
trong sạch của mỗi người, mỗi cộng đồng và toàn dân tộc. ở đây, ý thức pháp luật
của công dân về bảo vệ môi trường có tầm quan trọng đặc biệt, nó thể hiện sự
nhận thức của mỗi người và thái độ của họ đối với các quy định chung của pháp


con người, muốn tiếp tục tồn tại và phát triển, phải quan tâm hơn đến khía cạnh
đạo đức trong ý thức bảo vệ môi trường, phải hướng tới đạo đức sinh thái mới
nhằm điều chỉnh một cách tự giác hoạt động của mình.
Bốn là, khía cạnh văn hóa thẩm mỹ của ý thức bảo vệ môi trường. Như
trên đã nói, theo quan niệm của triết học mác-xít, con người không chỉ là một
thực thể sinh vật mà hơn thế, còn là một thực thể xã hội và bản chất của nó là
"tổng hòa các mối quan hệ xã hội". Thực tế, để tồn tại và phát triển, con người -
theo đúng nghĩa của từ này - không chỉ có nhu cầu được thỏa mãn về mặt đời
sống vật chất, mặc dầu nó là tiền đề đầu tiên và cơ bản nhất, mà còn có những
nhu cầu về đời sống tinh thần. Chính sự hài hòa và những cái đẹp của thế giới tự
nhiên là một bộ phận không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Có thể nói,
khía cạnh văn hóa thẩm mỹ của ý thức bảo vệ môi trường là một giá trị định
hướng khiến cho hoạt động cải tạo tự nhiên của con người, ngoài ý nghĩa tìm
kiếm lợi ích nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất, còn vươn tới thực hiện lý tưởng
thẩm mỹ theo quy luật của cái đẹp. Nói cách khác, bảo vệ môi trường là hành
động tự giác mang lại những lợi ích toàn diện, cả về vật chất lẫn tinh thần cho
con người.
1.2.2. Vai trò, ý nghĩa của việc xây dựng ý thức bảo vệ môi trường đối với
sự phát triển lâu bền
Như trên đã trình bày, ý thức xã hội có tính độc lập tương đối của nó so
với tồn tại xã hội. Vì thế, nó không chỉ chịu sự quy định của tồn tại xã hội, mà
còn tác động trở lại đối với tồn tại xã hội. Với tư cách là sự phản ánh hiện thực
sinh thái, là một dạng đặc biệt của ý thức xã hội, ý thức bảo vệ môi trường có vai
trò, ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển. Điều này được biểu hiện tập trung
trên một số khía cạnh sau:
Thứ nhất, ý thức bảo vệ môi trường là cơ sở điều khiển một cách tự giác
(có ý thức) mối quan hệ giữa con người và tự nhiên.

Chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một
kẻ xâm lược đi thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên
ngoài giới tự nhiên, mà trái lại, chúng ta, với tất cả xương thịt, máu
mủ và đầu óc chúng ta, là thuộc về giới tự nhiên, chúng ta nằm trong
lòng giới tự nhiên, và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với tự nhiên
là ở chỗ chúng ta, khác với tất cả các sinh vật khác, là chúng ta nhận
thức được quy luật tự nhiên và có thể sử dụng được những quy luật đó
một cách chính xác [17, tr. 654-655].
Như vậy, có thể khẳng định rằng, để điều khiển được mối quan hệ giữa
con người và tự nhiên, trước hết, con người phải tự giác "nhận thức được quy
luật tự nhiên", và trên cơ sở đó, "sử dụng được những quy luật đó một cách chính
xác" trong quá trình hoạt động thực tiễn của xã hội, trong đó, lĩnh vực cơ bản và
quan trọng nhất là sản xuất vật chất. Trước đây, con người vẫn giữ một quan
niệm cũ cho rằng, tự nhiên là một kho của cải vô tận, có thể mặc sức khai thác,
sử dụng không bao giờ hết. Song, thực tế lại không phải như con người đã lầm
tưởng. Sự cạn kiệt của nhiều nguồn tài nguyên không tái tạo được như đất đai,
khoáng sản, các nguồn năng lượng như than đá, dầu mỏ đã chứng tỏ rằng, các
tài nguyên thiên nhiên dù phong phú, giàu có và trữ lượng lớn đến đâu chăng nữa
cũng không phải là vô hạn. Những tri thức và sự hiểu biết mới, chính xác và
đúng đắn hơn về tự nhiên đã buộc con người phải khai thác, sử dụng tài nguyên
thiên nhiên một cách tiết kiệm và hợp lý hơn. Cũng vậy, cùng với sự phát triển
của nền sản xuất xã hội, con người đã đổ vào tự nhiên một khối lượng lớn mọi
dạng phế thải sản xuất và sinh hoạt, khiến cho cảnh quan môi trường bị biến
dạng, ô nhiễm ngày càng nặng nề và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của
con người. Sự phát triển của khoa học đã cung cấp những cơ sở chứng minh rằng
cơ chế điều chỉnh, sự thống nhất, tính toàn vẹn và trạng thái cân bằng động của
toàn bộ sinh quyển là một chu trình sinh học. Vì thế, con người đang tích cực tìm
những giải pháp hiệu quả để xử lý và giảm thiểu lượng chất thải đổ vào môi
trường, nhất là các loại chất thải độc hại, chất thải rắn có thời gian phân hủy dài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status