ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ THANH LOAN
GIỌNG ĐIỆU GIỄU NHẠI TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM
GẦN ĐÂY CỦA HỒ ANH THÁI, TẠ DUY ANH, CHÂU DIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TÔN PHƯƠNG LAN HÀ NỘI - 2009
1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………
3
1. Lý do chọn đề tài …………………………………………………………
3
2. Lịch sử vấn đề … …………………………………………………………
4
2.1. Về giọng điệu giễu nhại của Hồ Anh Thái .………………………………
4
2.1.Thái độ giễu nhại đối với những vấn đề của đời sống, xã hội…………….
35
2.1.1. Lên án những nguy cơ làm biến dạng và tha hóa đối với con người…
35 2
2.1.2. Đau xót trước những chuẩn mực bị đánh tráo…………………………
45
2.1.3. Phơi bày mặt khuất của đời sống trí thức……………………………….
48
2.1.4. Những góc tối trong các lĩnh vực khoa học, giáo dục, văn học nghệ thuật
53
2.2. Thái độ giễu nhại đối với con người có những mảnh tính cách bất bình thường
64
2.2.1. Giễu cợt nhưng đau xót, bất lực trước con người sùng ngoại, háo danh,
thực dụng ……………………………………………………………………
65
2.2.2. Cảnh báo nỗi bất an trước con người phi nhân tính…………………….
67
2.2.3. Vừa giận vừa thương con người tự nhiên bản năng…………………….
69
Chương 3: Giọng điệu giễu nhại và những vấn đề nghệ thuật liên quan
74
3.1. Điểm nhìn trần thuật và giọng điệu giễu nhại ……………………………
74
3.1.1. Giới thuyết về điểm nhìn trần thuật……………………………………
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Từ sau 1975, đặc biệt là từ 1986 với chính sách đổi mới của Đảng
và Nhà nước, tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị cho tới văn hóa, xã hội
đều có sự chuyển biến tích cực. Hòa chung với xu thế ấy, văn học nghệ thuật
cũng không ngừng tự đổi mới với những bước chuyển mình đáng ghi nhận mà
trước hết là đổi mới trong quan niệm nghệ thuật, cảm hứng nghệ thuật, cách
thức chọn đề tài. Được cổ xúy bởi hoàn cảnh đất nước, hiện thực khách quan,
ý thức dân chủ tăng cao, nhà văn dần hướng ngòi bút của mình vào những vấn
đề góc cạnh, nhạy cảm và mang tính thời sự hơn. Cảm hứng sự thật dần rõ nét
trong dòng chảy văn học đương đại với nhiều hướng tìm tòi cách tân trong
phương thức thể hiện. Giọng điệu giễu nhại với sự trở lại khá ấn tượng, đầu
tiên chỉ là một nét chấm phá trong dàn đồng ca bên cạnh giọng trữ tình hoặc
khách quan truyền thống (chỉ với tư cách là một nét tô điểm thêm, làm mềm
đi cái hiện thực được phản ánh, bớt chút căng thẳng cho người đọc khi tiếp
nhận tác phẩm), tiến đến vị trí tham gia lĩnh xướng bản hòa âm giọng điệu và
trở thành một trong những thủ pháp thể hiện hiệu quả cảm hứng phê phán thời
kì mới.
1.2. Tiểu thuyết vốn là thể loại mang trên mình gánh nặng thời đại. Cả
quá trình phát triển lâu dài đã minh chứng sức sống lâu bền của gã khổng lồ
trong văn học này. Tiểu thuyết đủ sức vóc chuyên chở tất cả những vấn đề
của xã hội, con người với đủ mọi chiều kích. Do vậy, tìm hiểu những vấn đề
nghệ thuật trong tiểu thuyết không bao giờ là đủ nếu chúng ta muốn nắm bắt
và đam mê nó. Nhưng cũng chính vì sự cực thịnh, mà lẽ dĩ nhiên sẽ có lúc sức
tàn. Thực tế, ở phương Tây hiện nay đang có những khủng hoảng trong thể
loại này, nhiều học giả đã đặt ra câu hỏi về cái chết của tiểu thuyết. Do vậy,
4
làm thế nào để tránh cái chán nản đáng muộn phiền đối với những thứ quen
được công bố thời gian gần đây.
Tác phẩm của Hồ Anh Thái là đối tượng nghiên cứu của không ít các
bài viết, bài phê bình, các luận án, luận văn và khóa luận tốt nghiệp. Trong
đó, chất hài hước, hóm hỉnh, đùa cợt, trào tiếu nhưng chua cay được nhắc đến
khá nhiều và được coi như một đặc điểm nổi bật trong cảm hứng sáng tạo của
nhà văn này.
Sau một vài truyện ngắn có dư vị hài hước trong tập truyện ngắn Mảnh
vỡ của đàn ông, dư luận đã bắt đầu chú ý nhiều hơn đến chất giọng hài hước,
trào lộng của Hồ Anh Thái trong tập truyện ngắn Tự sự 265 ngày. Ngòi bút
hài hước, châm biếm lần này hướng vào giới công chức, mà tập trung nhất ở
những trí thức thời kỳ đổi mới. Trong bài Có ai chẳng muốn đùa, nhà văn
Ngô Thị Kim Cúc nhận xét: “Thật thú vị khi được dẫn đường bởi một người
hiểu chuyện, hóm hỉnh và biết đùa như thế. Ở đâu, với ai, trong chuyện gì, Hồ
Anh Thái cũng tìm ra được bao nhiêu là cái hài hước, đáng cười, mà lại cười
một cách rất đúng mực, chỉn chu, rất an toàn. Tưởng có thể cười mãi với Hồ
Anh Thái cho đến lúc buông sách ra” [65, tr. 231].
Sau khi nhận xét khá sắc sảo về cái tôi cô đơn của Hồ Anh Thái, Lê
Quang Toản trong bài Che giấu sự cô đơn cũng không quên nhắc đến cái chất
cười cợt, trào tiếu của tập truyện: “Hồ Anh Thái cần có nơi để đùa cợt, để xả
soupape hay là tác giả đã quá khéo léo che giấu sự cô đơn của mình trong
những tiếng cười rất đời” [65, tr. 239]. Vân Long trong Một giọng văn khác
đã viết: “Ở tập truyện ngắn này, nhà văn hình thành một giọng văn hoàn toàn
khác thời kỳ đầu: Trào lộng, châm biếm, hóm hỉnh và sắc sảo những câu
chuyện, những thói tật đáng cười trong xã hội. Đọc tập truyện này, người đọc
nhiều chỗ phải bật cười thành tiếng như đọc Số đỏ của Vũ Trọng Phụng,
truyện ngắn Nguyễn Công Hoan hay Azit Nêxin" [65, tr. 245]. Trên báo Nông
6
7
văn châm biếm, trào lộng; ngôn ngữ hoạt kê hiện đại Cái sự gây cười nhiều
hơn là ở những chi tiết đắt giá” [26].
Về cái cười trong văn Hồ Anh Thái, nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ
trong cuộc nói chuyện với Phạm Xuân Nguyên đã nhận xét: “Tôi không thấy
những chuyện tưởng chỉ để cười nếu đọc thoáng qua chỉ đơn thuần là
những chuyện cười cho vui, mà ở đây là cười ra nước mắt” [34].
Với tiểu thuyết, đặc điểm về chất giễu nhại trong giọng điệu lại càng
bộc lộ rõ nét hơn, đặc biệt với cuốn Cõi người rung chuông tận thế mà
chúng tôi đã chọn nghiên cứu trong đề tài này.
Tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế không phải ngay từ khi ra
đời đã được công chúng đón nhận nhiệt tình. Nét nổi bật ở tiểu thuyết này
theo nhiều người đánh giá là ở chất giọng đa thanh nhưng cũng không ít
người yêu thích giọng văn hài hước, trào lộng. Trong bài Cái ảo trên nền
thực, tác giả Vân Long viết: “Về mặt này, Hồ Anh Thái đặc biệt mài sắc được
giọng kể trào lộng, châm biếm có duyên giọng văn trào lộng, hóm hỉnh nhà
văn như chỉ dành cho nhân vật phản diện ” [44, tr.12]
Trần Duy Hiển trong Rung chuông cảnh tỉnh con người nhận xét:
“Đọc Cõi người rung chuông tận thế, người ta thấy nụ cười chua chát của
nhà văn trước mọi nhố nhăng của đời sống ” [60, tr. 325]. Ghi nhận tài năng
của lớp trẻ, nhà văn Ma Văn Kháng khẳng định trong Cái mà văn chương ta
còn thiếu rằng: “Tôi thích giọng văn của Hồ Anh Thái. Nó có cái thông minh,
hóm hỉnh, vừa sâu sắc vừa có tính truyền thống. Hơn nữa, cái này mới là cái
thật thích đây: Chất trào phúng, giễu nhại cay chua mà tâm thiện, chất này
văn chương ta thiếu quá. Không có tài, chịu đấy!” [60, tr. 326, 327]. Phạm
Chí Dũng trong bài Ám ảnh và dự cảm đăng trên báo Văn nghệ ngày
22/11/2003 nhận định: “Cõi người rung chuông tận thế có lẽ là một trong số
những sự phơi bày được văn học hóa thành công bởi ngoài yếu tố mạch 9
2.2. Về giọng điệu giễu nhại trong văn Châu Diên
Trước đây, Châu Diên dành nhiều tâm huyết cho sự nghiệp nghiên cứu
giáo dục. Sau hai tập truyện ngắn Mái nhà ấm (1959) và Con nhện vàng
(1962), dường như vào thời đổi mới, ông mới lại tái xuất văn đàn. Ông là nhà
văn rất chịu khó tìm tòi và có ý thức cách tân nghệ thuật tiểu thuyết. Sự độc
đáo được thể hiện qua các sáng tác của ông, đặc biệt là trong tiểu thuyết
Người sông Mê đã gây được thiện cảm và sự chú ý của nhiều người đọc, thu
hút sự quan tâm đánh giá từ phía các nhà phê bình.
Phạm Xuân Nguyên, trong Vị đắng của nụ cười, theo tuoitre.com.vn,
14/10/2005 nhận định: Chất giễu nhại trong văn Châu Diên được thể hiện qua
nét văn nhẹ nhàng. Chính cái vẻ tưởng như "thật thà, chân chất" ấy tạo cho
giọng văn ông màu sắc trào lộng, giễu nhại trong lành. “Cách viết của Châu
Diên khiến độc giả tủm tỉm cười khi đọc truyện, nhưng đọc xong có thể khóc
thầm lặng lẽ. Ý nghĩa thiên truyện cứ thế lắng sâu vào tâm trí” [49]. PGS. TS
Nguyễn Thị Bình cũng xem Người sông Mê là một trong những tiểu thuyết
có tính cách tân mạnh, thông qua “sử dụng phổ biến bút pháp nhại, bút pháp
huyền thoại trào lộng” tạo nên cái nhịp điệu, ngữ điệu hành văn như “nhại
cái nhịp điệu sống luẩn quẩn vô hướng của những con người nhỏ bé” [13, tr.
65]. Nhà nghiên cứu Mai Hải Oanh trong tiểu luận Nghệ thuật tổ chức điểm
nhìn trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới đăng trên Tạp chí NCVH số
10/2007 cũng chỉ ra “hiện tượng nhòe nhập điểm nhìn của người kể và điểm
nhìn nhân vật” đã xóa nhòa khoảng cách giữa người trần thuật và nhân vật,
khiến cho hai điểm nhìn trùng khít, khiến cho “bước vào thế giới sông Mê,
người kể chuyện cũng trở thành nhớ nhớ quên quên, mê mê tỉnh tỉnh như
nhân vật” [52, tr. 116]. Phan Huy Đường khi khi giới thiệu Người sông Mê
trên trang web amvc.free.fr cũng đánh giá cao kiểu tổ chức nghệ thuật của
Châu Diên với những lời lẽ hết sức trân trọng: “Khơi lên điều ấy là cưỡng lại
Thái), Người đi vắng, Thoạt kỳ thuỷ (Nguyễn Bình Phương), Đi tìm nhân
11
vật, Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Mẫu
thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), Lạc rừng (Trung Trung Đỉnh),… là
một trong “những tác phẩm mở đường cho thời kỳ đổi mới” của văn học [73].
2.3. Về giọng điệu giễu nhại trong văn Tạ Duy Anh
Tạ Duy Anh khởi nghiệp văn chương với tác phẩm trình làng: Bước
qua lời nguyền tháng 4 năm 1989 “làm cháy báo Văn nghệ trên tất cả các
sạp cả nước”. Motip Romeo - Juliet với mối thù của hai dòng họ trên vai và
tình yêu trong tim trong bối cảnh nông thôn Việt Nam những năm 1950-1970
đầy máu và nước mắt cùng với cái tên Tạ Duy Anh càng trở nên nổi tiếng khi
GS. Hoàng Ngọc Hiến mượn tên truyện của anh để khái quát: “Có một dòng
văn học bước qua lời nguyền” [32].
Với 20 tập truyện trong đó có bốn tiểu thuyết, một tập tản văn trong
khoảng 20 năm cầm bút, chừng đó đủ để nói lên sức lao động của một nhà
văn. Mỗi thể loại, mỗi câu truyện, đều để lại một dấu ấn Tạ Duy Anh trong
lòng độc giả.
Tác giả Thụy Khuê trong bài Tạ Duy Anh, người đi tìm nhân vật nhận
định: “Mười năm, kể từ Bước qua lời nguyền, đến truyện dài Lão Khổ
(1992) rồi tiểu thuyết Đi tìm nhân vật (hoàn tất năm 1999), Tạ Duy Anh đã
phát triển hai luận đề chính trong tiểu thuyết của mình: Lời nguyền và tội ác”
[36]. Nếu trong Lão Khổ là một bút pháp hiện thực phê phán cổ điển với hình
ảnh lão Khổ, bần cố nông chính hiệu, chính tự tay mình đắc lực xây dựng nên
cái khổ của chính mình thì đến Đi tìm nhân vật, nhà văn họ Tạ đã thử nghiệm
một lối viết đa âm với hình tượng nhân vật là những mảnh ghép của trò chơi
xếp hình rải rác khắp trong tác phẩm. Chu Quý chỉ được hiểu thông qua thao
tác của người đọc: nhặt nhạnh những mảnh vỡ của “tôi”, của nhà văn Bân
ông nhận được nhiều sự quan tâm vủa các nhà nghiên cứu. Dù có nhiều ý kiến
trái chiều về những đứa con tinh thần của nhà văn, song số đông vẫn thống
nhất xem Tạ Duy Anh là một nhà văn có nhiều cố gắng cách tân trong nghệ
13
thuật mà tiêu biểu là Thiên thần sám hối và Giã biệt bóng tối. Ngay khi Giã
biệt bóng tối đến tay độc giả, viện Văn học đã tổ chức một buổi tọa đàm, bàn
về vai trò, vị trí cuốn tiểu thuyết này trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam
đương đại đủ thấy ảnh hưởng của sáng tác này tới diện mạo vốn rất đa dạng
của nền văn học nước nhà.
Thiên thần sám hối là món quả thơm ngon trong năm mất mùa tiểu
thuyết 2004, gặt hái thành công cho Tạ Duy Anh với gần 20.000 bản in. Tin
tức trên mạng chỉ có giá trị làm tăng thêm sự tò mò cộng với hâm mộ những
giá trị mà người ta đã mặc định sẵn. Theo lời tác giả Việt Hoài trong bài Tạ
Duy Anh giữa lằn ranh thiện - ác, “Thiên thần sám hối vẫn bán chạy ngoài
sạp cũng như trong siêu thị sách và hoàn toàn có thể sẽ được tái bản một lần
nữa”. Với lối kết cấu chặt và gọn, có thêm sự uyển chuyển và linh hoạt, cuốn
tiểu thuyết được viết như cuốn tự truyện của một hài nhi này “khiến ai đọc nó
cũng có thể tìm thấy mình trong đó và hầu hết là giật mình, không tự vấn
lương tâm thì cũng tự xấu hổ mà âm thầm đỏ mặt, nhưng nó cũng không quá
nghiệt ngã, ráo riết mà vẫn mở đường cho nhân vật - người đọc một lối thoát
lương tâm” [32].
Giã biệt bóng tối đến tay bạn đọc năm 2008 cũng là một hiện tượng
mang tên Tạ Duy Anh thu hút không ít sự quan tâm của dư luận cũng như
giới phê bình. Phùng Gia Thế trong bài Sự bế tắc của một lối viết nhận định
trong Giã biệt bóng tối, “tác giả đã thể hiện khá rõ sự bế tắc, loanh quanh
của mình trong việc đi tìm lối đi cho tiểu thuyết” ở những bình diện: chủ đề
cũ, trong khi cái nhìn không mới; không có cái mới về chất trong sự gia tăng
giễu nhại của họ một cách hệ thống và đặt chúng trong tương quan so sánh.
Do vậy, chúng tôi chọn đề tài này, một mặt tiếp thu thành tựu của người đi
trước, mặt khác chúng tôi sẽ thử sức đi sâu hơn để nghiên cứu vấn đề trên một
hướng nhìn tương đối mới: Đặt sáng tác của họ trong toàn cảnh của nền văn
15
học trong thời kỳ đổi mới nhằm khẳng định sự vận động, đổi mới và phát
triển của nền văn học Việt Nam sau chiến tranh.
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh và Châu Diên là những nhà văn viết cả tiểu
thuyết, truyện ngắn. Chúng tôi sẽ khảo sát giọng điệu giễu nhại chủ yếu qua 4
cuốn tiểu thuyết sau:
Cõi người rung chuông tận thế (2003)
Thiên thần sám hối (2000)
Giã biệt bóng tối (2007)
Người sông Mê (2003)
Chọn bốn tác phẩm này bởi đây là 4 cuốn tiểu thuyết có thể coi là tiêu
biểu, đặc sắc nhất nếu nhìn từ giọng điệu giễu nhại.
Ngoài ra, luận văn còn đặt các tác phẩm này trong mối tương quan với
các sáng tác khác trong quá trình sáng tạo của các nhà văn đó, cũng như trong
mối tương liên với các tác phẩm khác, của các tác giả khác cùng dòng này
trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị
Hoài, Y Ban để thấy được đóng góp của họ cũng như xu thế phát triển của
văn xuôi thời kỳ đổi mới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau:
- Phương pháp thống kê
Chương 2: Giọng điệu giễu nhại - một phương thức thể hiện cảm hứng
phê phán của nhà văn với hiện thực
Chương 3: Giọng điệu giễu nhại và những vấn đề nghệ thuật liên quan
17
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
GIỌNG ĐIỆU GIỄU NHẠI TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM SAU 1975
1.1. Giới thuyết về giọng điệu giễu nhại
1.1.1. Giới thuyết về giọng điệu
Thuật ngữ “giọng điệu” tồn tại ở phạm vi chủ yếu là trong văn học.
Nhưng muốn thấu tỏ nó một cách toàn vẹn, trước hết nên hiểu nó với vai trò
là một yếu tố để nhận biết mỗi cá nhân con người. Với tư cách này, “giọng”
phản ánh thái độ, tình cảm, tâm trạng, nhận thức của con người trong một thời
điểm nào đó, thể hiện qua cách lựa chọn ngôn ngữ và sử dụng ngữ điệu, với
sự can thiệp của trường độ, cường độ, âm sắc, âm lượng của nó. “Ngữ điệu là
hình thức biểu hiện của lời nói, thể hiện qua cách lên giọng, xuống giọng,
nhấn mạnh,…” [48, tr. 113].
Giọng điệu trong văn học được coi là một phạm trù thẩm mỹ thể hiện
tài năng và khả năng sáng tạo của tác giả. Nó liên quan đến các yếu tố tạo nên
văn phong bao gồm: cách diễn đạt, hình tượng, cú pháp, âm thanh, nhịp điệu.
Giọng điệu vừa biểu hiện một thái độ về đối tượng thẩm mĩ trong tác phẩm
văn học vừa là thái độ của người phát ngôn văn học đối với người nghe.
Giọng điệu trong tác phẩm văn chương thuộc lĩnh vực hình thức nhưng là
“hình thức mang tính nội dung”, vì qua hình thức có thể hiểu được nội dung.
dựng hệ thống luận điểm cho luận văn.
M. Bakhtin quan niệm giọng điệu giống như “một yếu tố cốt tử tạo nên
những mối quan hệ mở của tiểu thuyết, và chính nó - cái giọng điệu “nhiều
bè” ấy - là sản phẩm tất yếu của một quá trình đối thoại đang diễn ra liên tục,
không ngừng, có mặt khắp nơi trong đời sống” [23, tr. 12]. Về cơ bản, M.
Bakhtin cho rằng, giọng điệu văn chương thể hiện qua lời văn và văn cảnh
chứa chất cuộc đối thoại. Tính đa thanh thấm sâu vào từng bộ phận của lời
văn, từng từ một. Ngoài ra, giọng điệu còn được thể hiện qua phong cách
19
ngôn ngữ, các phương ngữ mang dáng vẻ lập trường cụ thể. Giọng điệu thể
hiện khác nhau ở từng thể loại, nhưng chỉ có văn xuôi nghệ thuật mới đủ điều
kiện xuất hiện giọng điệu đa thanh, khi mà ngôn ngữ của nó là ước lệ, lời văn
có tính chất “tự phê phán”. Ngôn ngữ tiếp nhận đối tượng và biến đối tượng
thành một bộ phận trong lời nói của mình. Ở đây, tính chất đánh giá về lời
người khác được thể hiện triệt để. Giọng điệu - theo ông - không chỉ tuân thủ
yêu cầu về thể loại mà còn chịu sức ép của truyền thống và thời đại.
Chúng tôi cũng tiếp nhận lý thuyết về giọng điệu của Gerard Genette -
nhà nghiên cứu người Pháp - người được xem là “chuyên gia hàng đầu về
thuật kể chuyện, hay nói đúng hơn, ông là ông tổ của những thuật ngữ liên
quan tới trần thuật” [82, tr. 75]. Giọng điệu là thuật ngữ trần thuật được ông
đưa ra trong cuốn sách Diễn ngôn mới của truyện (1983). Genette cho rằng
nghệ thuật kể chuyện là kết quả trực tiếp của điểm nhìn trần thuật, kéo theo
đó là những giọng điệu khác nhau. Chính G.Genette cũng là người phát hiện
ra lý thuyết “sự di động của điểm nhìn” và để nhìn nghệ thuật là trả lời câu
hỏi “nhân vật nào mà điểm nhìn hướng vào phối cảnh kể chuyện?” khác hoàn
toàn với câu hỏi “ai là người kể?” (theo [55; tr. 91]).
Văn chương là nghệ thuật của ngôn từ. Giọng điệu văn chương, cũng
bài hát được hát cùng lúc với bài hát khác”. Nhại theo Từ điển tiếng Việt
được dùng như nhái với ý nghĩa động từ, tức là bắt chước, ví dụ như nhái
điệu bộ của ai. Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa nhại là “một thể văn
châm biếm dùng sự bắt chước để chế giễu một tác phẩm hoặc cả một trào lưu
nghệ thuật. Phương tiện chủ yếu của nhại là bắt chước phong cách. Hai kiểu
nhại chủ yếu (đôi khi tách thành những thể tài riêng) là kiểu khôi hài trong đó
đối tượng thấp được trình bày bằng một phong cách cao và kiểu chế nhạo
trong đó đối tượng cao được trình bày bằng một phong cách thấp. Sự chế
nhạo có thể nhằm vào phong cách, có thể nhằm vào đề tài, có thể nhằm vào
những thủ pháp thi ca đã trở thành khuôn sáo, lỗi thời hoặc những hiện tượng
21
đời sống vốn dung tục không xứng với thi ca. Có thể có lối nhại một thi pháp,
một tác giả, một thể loại, một thế giới quan ” [28, tr. 155].
Trong văn học, nhại được xem là hình thức phê bình châm biếm hoặc
là hình thức chế giễu khôi hài bằng cách bắt chước phong cách và bút pháp
của một nhà văn hoặc một nhóm nhà văn đặc biệt để nhấn mạnh đến sự non
yếu của nhà văn ấy hoặc những quy ước bị lạm dụng của trường phái ấy. Nhại
khác với trò hài hước (burlesque) ở độ sâu từ sự xâm nhập kỹ thuật của nó
vào đối tượng nhại và bởi độ sâu từ sự bôi bác được dùng để xử lý những vấn
đề được đề cao trong bút pháp tầm thường, nhại thật sự bóc trần một cách tàn
nhẫn những mánh lới của bút pháp lẫn tư tưởng của những nạn nhân của nó,
nhưng nhại không thể thực hiện được nếu không có sự đánh giá thấu đáo tác
phẩm mà nó chế giễu.
Xét rộng hơn, trong văn học còn xuất hiện những kiểu nhại khác như
nhại chính các đối tượng phản ánh của văn học. Kiểu nhại này đa dạng cả về
đối tượng nhại và cấp độ nhại. Các vấn đề về thể chế chính trị, văn hóa khoa
học, văn chương nghệ thuật, đạo đức lối sống, thói hư tật xấu của con người ở
tiến bộ. Giễu nhại có mối liên hệ mật thiết với phạm trù cái hài và các khái
niệm tương liên: châm biếm, trào phúng.
Cái hài là phạm trù mỹ học, nằm trong tương quan với phạm trù cái bi.
Cái hài phản ánh một hiện tượng phổ biến của thực tế đời sống vốn có khả
năng tạo ra tiếng cười ở nhiều cung bậc và sắc thái khác nhau. Đó là sự mâu
thuẫn, sự không tương xứng mà người ta có thể cảm nhận được về phương
diện xã hội – thẩm mĩ như hình thức với nội dung, mục đích và phương tiện,
bản chất và hiện tượng trong đó, hoặc chính bản thân mâu thuẫn, hoặc
những mặt của nó đối lập với lý tưởng thẩm mĩ cao đẹp. Sức mạnh của cái
hài được tạo nên từ ba yếu tố: bản chất mang tính hài của đối tượng; sự cường
điệu những đường nét, kích thước và liên hệ chúng trong quá trình được phản
ánh; và cái ý nhị, sắc bén của người phát hiện, miêu tả nó. Rõ ràng, giễu nhại
23
là một phần tử trong tập hợp mang tên cái hài và cũng là phần tử độc đáo bởi
nó tạo nên hiệu quả thẩm mĩ sâu sắc cho cái hài bằng thủ pháp giễu cợt và mô
phỏng riêng biệt.
Trào phúng theo nghĩa nguyên là dùng từ, câu, lời chua chát, mỉa mai
để cười nhạo kẻ khác, chế giễu thói rởm đời. Trong văn học, trào phúng gắn
liền với phạm trù cái hài hàm chứa nhiều cung bậc hài hước, châm biếm (mỉa
mai, phóng đại, khoa trương, hài hước, ) với sự khác nhau về mức độ, tính
chất và phương thức thể hiện nhằm chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phê phán
những cái tiêu cực trong xã hội. Trong khi đó, giễu nhại phương thức đặc
trưng: mô phỏng, giễu cợt để tạo tiếng cười đả kích, châm biếm đối tượng.
Châm biếm được hiểu với tư cách là một dạng của văn học trào phúng,
dùng lời lẽ sắc sảo, cay độc, thâm thúy để vạch trần thực chất xấu xa của đối
tượng phản ánh. Châm biếm khác hài hước ở mức độ gay gắt của sự phê phán
và ý nghĩa sâu sắc của hình tượng nghệ thuật.