Chủ nghĩa nhân văn phục hưng và sự thể hiện nó trong một số tác phẩm bi kịch của william shakespeare - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------

NGUYỄN THỊ LAN

CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN PHỤC HƯNG VÀ SỰ
THỂ HIỆN NÓ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM
BI KỊCH CỦA WILLIAM SHAKESPEARE

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

Hà Nội, 2010
1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------

NGUYỄN THỊ LAN

CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN PHỤC HƯNG VÀ SỰ
THỂ HIỆN NÓ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM
BI KỊCH CỦA WILLIAM SHAKESPEARE

CHUYÊN NGHÀNH: TRIẾT HỌC

Mã Số : 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC


2.1.Thời đại Phục hưng ở Anh và con người Shakespeare ......................... 43
2.2. Hamlet, Otenlo, Vua Lia và Macbet những tác phẩm tiêu biểu của
W.Shakespeare thể hiện được tính nhân văn cao cả ................................... 58
2.3. Shakespeare - con người có cống hiến vĩ đại đối với chủ nghĩa nhân
văn Phục hưng ............................................................................................. 82
Chương 3. SỰ KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ CỦA CHỦ NGHĨA NHÂN
VĂN PHỤC HƯNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN KIỂU
MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ....................................................................................... 84

3.1. Định hướng về kế thừa và phát huy các giá trị của chủ nghĩa nhân văn . 84
3.2. Giải pháp kế thừa và phát huy các giá trị của chủ nghĩa nhân văn
Phục hưng trong việc xây dựng chủ nghĩa nhân văn kiểu mới ở Việt Nam
hiện nay ....................................................................................................... 86
KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 96

4


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử Triết học cũng như Mỹ học thành tựu nghiên cứu con
người có một giải tần rất rộng. Có những thời điểm sự sáng tạo theo quy luật
của cái Đẹp đã đưa con người đạt đến đỉnh cao đáng ghi nhớ, có thể kể tới Mỹ
học cổ đại Hy Lạp với thành tựu "con người là thước đo của muôn loài"
(Protagorat). Phục hưng với sự phát hiện "con người khổng lồ". Cận đại với
"con người trớ trêu đi tìm cái đẹp hài hoà". Thời đại xã hội chủ nghĩa Việt
Nam với con người tạo nên “dáng đứng tạc vào thế kỷ”, làm lay chuyển nhân
loại đi theo hướng nhân văn kiểu mới. Nhìn toàn cục, những thành tựu kể trên

Shakespeare nhà soạn kịch thiên tài của nước Anh nói riêng, của nhân loại nói
chung. Tư tưởng nhân văn chủ nghĩa của ông không chỉ mang lại sức sống
cho thời đại Phục hưng mà còn khơi nguồn cho dòng chảy nhân văn tạo nên
bước tiến bộ trong lịch sử loài người. Có thể nói, CNNV được hội tụ một cách
rõ nét, sâu sắc, qua các tác phẩm nghệ thuật của W.Shakespeare, nhất là các
tác phẩm bi kịch của ông. Với lẽ đó, luận văn đã chọn một số tác phẩm bi
kịch tiêu biểu của W.Shakespeare như Hamlet, Otenlo, Vua Lia và Macbet để
phân tích sự thể hiện tính nhân văn của thời đại.
Trong tiến trình hội nhập và đổi mới đất nước, dân tộc và con người
Việt Nam tất yếu phải tiếp xúc với các dân tộc và những nền văn hóa. Nhu
cầu xây dựng nước Việt Nam "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn" đòi hỏi phải phát
huy những trầm tích văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc để tạo nên những
phong thái riêng, những yếu tố riêng làm nên sự tự hào cho con người Việt
Nam trước cộng đồng thế giới, đồng thời chúng ta phải chủ động và triệt để
tiếp thu các thành tựu trí tuệ của nhân loại. Vấn đề là ở chỗ, làm thế nào để
trong khi tiếp thu, lĩnh hội, hợp tác với bạn bè thế giới, người Việt Nam vẫn
ngẩng cao đầu tự tin, giữ được phong thái riêng của mình, trong khi thực tiễn

6


xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới đã và đang đặt ra nhiều
vấn đề bức xúc đối với dân tộc : những giá trị truyền thống tốt đẹp đang bị
xuống cấp, những thói quen không còn phù hợp vẫn tồn tại và có xu hướng
lấn át cái tiến bộ, trật tự xã hội xuất hiện nhiều vấn đề cần nghiêm túc điều
chỉnh. Cùng với việc CNH - HĐH đất nước thì nhu cầu văn minh hóa, nhân
văn hóa, đồng bộ hóa xã hội cũng nảy sinh một cách tự nhiên. Trong đó, sự
nghiệp CNH - HĐH làm nền tảng vật chất, kỹ thuật để thực hiện thành công
việc văn minh hoá đất nước. Quá trình văn minh hóa đất nước là quá trình
thực hiện việc tăng trưởng kinh tế gắn liền với thực hiện công bằng và tiến bộ

* Sách tiếng Việt
1. Đặng Thai Mai (1949) : Chủ nghĩa nhân văn Phục hưng dưới thời kỳ
văn hóa Phục hưng. Tập thi luận và tài liệu.
Trong tác phẩm này, tác giả đã giới thiệu một cách tương đối toàn diện
và có sự phân tích một cách sâu sắc về những điều kiện phát sinh, các yếu tố,
các nhân vật cùng nhiều tác phẩm tiêu biểu của phong trào văn hóa Phục
hưng. Đồng thời, trong cuốn sách này, tác giả cũng phân tích vai trò, ảnh
hưởng của CNNV Phục hưng đối với các thời kỳ lịch sử sau này. Tác phẩm
cho thấy “Chủ nghĩa nhân văn Phục hưng có tính khoa học” và “tiến triển
theo sự giác ngộ của nhân dân, quần chúng và xã hội” [28,3]. Tác phẩm
mang đậm tính chất văn học, ngôn từ gọt rũa, chau chuốt, mang tính tư tưởng
cao, có nhiều giá trị.
2. VP.Vonghin (1956) : Chủ nghĩa nhân văn Phục hưng và chủ nghĩa
xã hội.
Cuốn sách trình bày “nguồn gốc, nội dung, thực chất và quá trình phát
triển của CNNV qua các thời đại từ thế kỷ XIV đến nay, phân tích mối quan
hệ giữa CNNV và chủ nghĩa xã hội” [43,3]. Theo quan điểm của Vonghin một nhà bác học người Nga nổi tiếng những năm 1950 - trong cuốn sách tác
giả đã đưa ra quan điểm về CNNV theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Đồng
8


thời, tác giả cũng nêu lên vai trò của CNNV các thế kỷ XVI và XVII “đối với
thời đại của nó có một giá trị tiến bộ không ai chối cãi được”[43, 8]. Trong
tác phẩm này, ông cũng phân tích vắn tắt quan điểm của các đại biểu như
T.More, Voltaire…
Tuy nhiên, cuốn sách chưa luận chứng một cách hệ thống các thành tựu
và hạn chế của CNNV, chưa nêu bật các giá trị xã hội và tầm vóc tư tưởng mà
CNNV xác lập nên trong thời đại Phục hưng. Những nội dung viết về CNNV
của tác giả còn sơ lược…
3. PGS.TS Lê Nguyên Cẩn (biên soạn) : Tác giả tác phẩm văn học

thông tin, tư liệu quý giá, có thể sử dụng để nghiên cứu tổng hợp về thời kỳ
này. Tuy nhiên, những công trình mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu lịch sử,
thống kê. Đây chưa phải là những chuyên luận nghiên cứu sâu về thời kỳ
Phục hưng và CNNV.
3. Kenneth Muir (1985) : Interpretations of Shakespeare : Bristish
accademy Shakespeare lectures.
Cuốn sách bằng tiếng Anh này tập hợp những bài giảng của các nhà
phê bình nổi tiếng cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX bình luận về sự thể hiện
trong nghệ thuật kịch của W.Shakespeare bao gồm : Những nội dung cơ bản
như : tư tưởng chính trị của W.Shakespeare, các tác phẩm kịch nổi tiếng của
ông, cách thể hiện nội dung và nghệ thuật trong các tác phẩm Hamlet, Otenlo,
Vua Lia, Macbet… Mặc dù cuốn sách không trực tiếp nói về vấn đề mà luận
văn bàn đến, nhưng những bài giảng của các nhà phê bình được viết khoa học,
dễ hiểu là nguồn tư liệu quan trọng cho đề tài mà luận văn đang nghiên cứu.
Như vậy, từ trước đến nay chưa có một công trình nào trùng với luận
văn về cả tên gọi và tính chất khoa học.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích của luận văn
10


Luận văn nghiên cứu bản chất triết học của CNNV thời kỳ Phục hưng.
Từ đó, tập trung đi sâu vào nghiên cứu một số tác phẩm bi kịch Hamlet,
Otenlo, Vua Lia và Macbet của W. Shakespeare. Những tác phẩm biểu hiện sâu
sắc tư tưởng nhân văn của W.Shakespeare và nội dung của CNNV. Trên cơ sở
đó, luận văn mạnh dạn đề xuất một số giải pháp kế thừa để xây dựng CNNV
kiểu mới ở Việt Nam hiện nay.
* Nhiệm vụ của luận văn
- Luận văn nghiên cứu bối cảnh xã hội, những tiền đề cho sự ra đời của
CNNV Phục hưng

6. Đóng góp của luận văn
Luận văn đã nghiên cứu được bản chất cũng như biểu hiện của CNNV
trong một số tác phẩm bi kịch của W.Shakespeare.
7. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn được thực hiện nhằm tìm ra tiến trình phát triển của tư tưởng
nhân văn và đặc trưng phát triển của CNNV trong các tác phẩm bi kịch của
W.Shakespeare
Luận văn có thể được sử dụng làm tư liệu giảng dạy, nghiên cứu, tham
khảo trong những nội dung có liên quan đến chủ nghĩa nhân văn, đến tư tưởng
và các tác phẩm kịch của W.Shakespeare về những vấn đề con người và sự
tiến bộ, phát triển của xã hội loài người.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn có 3 chương và 7 tiết.

12


Chương 1
BẢN CHẤT CỦA CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN PHỤC HƯNG
1.1. Thời đại và những tiền đề của chủ nghĩa nhân văn Phục hưng
Châu Âu thời hậu kỳ Trung cổ đã có những biến đổi về mọi mặt. Từ
trong lòng xã hội phong kiến, sức sản xuất phát triển nhanh chóng, công
nghiệp tiến bộ vượt bậc, do sự phân công lao động giữa các ngành nghề và
các vùng sản xuất đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế hàng hoá - điều kiện cơ
bản cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản. Giai cấp tư sản với thế lực kinh tế
ngày càng mạnh đang gặp phải trở lực phong kiến - Giáo hội bảo thủ - bức
tường già cỗi còn rất kiên cố. Những đòi hỏi bức thiết cho sự ra đời của chủ
nghĩa tư bản như một ngòi nổ đang chờ bung phá. Những điều kiện để châm
ngòi nổ đã được chuẩn bị trên nhiều phương diện như : kinh tế xã hội, văn

Những truyền thống văn hóa được các nhà nhân văn cổ đại Hy Lạp, La
Mã đã nêu cao như :
- Truyền thống trân trọng, đề cao con người trái ngược với thái độ miệt
thị, coi rẻ con người của thời kỳ Trung cổ.
- Truyền thống đấu tranh cho tự do của con người, trái ngược với nền
chuyên chế độc tôn của phong kiến và Giáo hội.
Vì thế phong trào văn hoá Phục hưng trong khi hướng về cổ đại để học
tập những truyền thống tốt đẹp đó, đã luôn phê phán, tố cáo Trung cổ phong
kiến và nhà thờ đồng thời nói lên nhu cầu, khát vọng của con người mới, vạch
rõ và biểu dương những khả năng, triển vọng của con người mới, xã hội mới.
Con người mới là những con người sẽ xây dựng xã hội mới, con người
mà thời đại Phục hưng đang cần đến. Đó là “những con người khổng lồ…
khổng lồ về tư tưởng, về nhiệt tình và về tính cách, khổng lồ về tài năng mọi
mặt và về sự hiểu biết sâu rộng” [25,106]. Kiểu người “khổng lồ” đó trên thực
tế đã xuất hiện như Leonadơvanxi, nhà hoạ sỹ kiêm bác học, kiêm kỹ sư…
15


Đó là Anbe Đuyree, vừa là học sỹ, vừa là nhà điêu khắc, nhà kiến trúc.
Copenic người đề xuất ra lý thuyết mới về hệ mặt trời. Những Crixtop Colong,
những Vacxco đơ Gama, những Magielang… đã có công trong các cuộc phát
kiến địa lý… Trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật, đó là những nhân vật
Gacgangchuya và Phangtagruyen của Rabơle, đó là bác sỹ Fauxt trong vở
kịch của Maclovơ, đó là Hamlet, Otenlo… của W.Shakespeare, là David của
Mikenlanggelo, nàng Monalisa của Leonadơvanxi….
Cuộc vận động tư tưởng, văn hóa Phục hưng đã gặt hái được những
thành công, đã đơm hoa kết trái tốt đẹp, phong phú vô cùng. Nó đã làm cho
tây Âu như bừng thức giấc sau “đêm trường Trung cổ” đưa những nước này
tiến nhanh, tiến mạnh vào lịch sử Cận đại. Văn hoá Phục hưng vì vậy được
thừa nhận là một trong những nền văn hoá rực rỡ của loài người.

gọi là Cinquecentô, tuy rằng các danh từ đó chưa có một danh từ nào nói
được đầy đủ hết ý nghĩa. Đó là thời đại bắt đầu từ nửa cuối của thế kỷ XV.
Chính quyền nhà vua, dựa vào bọn tư sản thành thị, đã đập tan thế lực của
giai cấp quý tộc phong kiến và đã lập ra những nước quân chủ lớn chủ yếu
dựa trên dân tộc tính, trong khuôn khổ các nước quân chủ đó, các quốc gia
châu Âu cận đại và xã hội tư sản cận đại đều phải phát triển; và trong khi
giai cấp tư sản và giai cấp quý tộc còn đương đối chọi với nhau thì cuộc
chiến tranh nông dân ở Đức đã báo trước những cuộc đấu tranh giai cấp sau
này bằng cách đưa lên vũ đài không những là người nông dân khởi nghĩa mà
thôi - điều này không còn phải là mới lạ nữa - mà đằng sau họ còn là những
người báo hiệu cho giai cấp vô sản hiện đại, tay cầm cờ đỏ, miệng đòi quyền
công hữu tài sản” [25, 112]. Và Ph.Ănghen đánh giá “đó là bước ngoặt tiến
bộ, vĩ đại nhất, từ trước đến bây giờ loài người chưa từng thấy” [25,113].
Bước ngoặt đã diễn ra trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, tôn giáo, tư
tưởng khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật. Nó làm biến đổi sâu sắc đời
sống vật chất và tinh thần của xã hội Tây Âu, phơi bày tính chất trì trệ, lạc
hậu, lỗi thời của những thiết chế tinh thần và vật chất của chế độ phong kiến
và Nhà thờ Trung cổ. Nó tạo nên một đà phát triển mới cho các lĩnh vực nói
17


trên, khiến cho xã hội Tây Âu vào nửa sau của thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII
thực sự đã mang bộ mặt mới, khởi sắc phồn vinh, đầy khí thế.
1.1.2. Sự hình thành và phát triển của công thương nghiệp
Vùng bắc Italia là một trung tâm kinh tế và một trung tâm văn hóa phát
triển mạnh thế kỷ XIV. Ở đó các quốc gia - đô thị như Vơnizơ, Giênơ,
Plorăngxơ... đã chứng kiến một thời kỳ phát đạt của công thương nghiệp.
Trên cơ sở một nền kinh tế công thương nghiệp phát triển như vậy, một nền
văn hóa nghệ thuật mới, phong phú, rực rỡ đã đơm hoa kết trái. Chính vì vậy
mà Italia trở thành cái nôi của phong trào văn hóa Phục hưng.

có thể thoả mãn được nhu cầu đang lên theo sự mở mang nhiều thị trường mới...
Từ khi những con đường biển mới được phát hiện, việc buôn bán giờ
đây chuyển hướng ra các đại dương là chính nên các đô thị ven biển trở thành
những điểm kinh tế tấp nập chưa từng thấy : Vơnizơ, Gienevơ, Baccơlon,
Lixbon... Trong các đô thị này đã xuất hiện những tổ chức kinh tế mới. Ở
Anve Sở giao dịch được thành lập, trước cửa có tấm biển : Vì lợi ích của
thương nhân các dân tộc và các chủng tộc. Hầu hết những việc trao đổi, mua
bán đều thông qua sở giao dịch này. Tiền vốn của sở rất to, có thể mua hàng
hóa từ Ấn Độ hay từ châu Mỹ sang. Sở cũng cho vay lãi. Vua chúa các nước
thường là con nợ của sở.
Đến đầu thế kỷ XVI, một kiểu tổ chức thương nghiệp nữa ra đời :
Nghiệp đoàn thương mại nghiệp đoàn này do những người cùng họ hàng tổ
chức ra và mang những cách gọi khác nhau. Ví dụ : ở Italia, đó là Ragio, ở
Đức đó là Firma, ở Anh đó là Partnership. Vào giữa thế kỷ XVI, khi việc
buôn bán giữa các lục địa phát triển mạnh thì các thương đoàn Đông Ấn của
Hà Lan được độc quyền buôn bán với Ấn Độ. Các ngân hàng lần lượt được
xây dựng ở Giene, Vơnizơ, ở Amxtexđam… và ngày càng cải tiến thể thức
gửi tiền, rút tiền… Chữ số Arập thay thế chữ số La Mã trong việc tính toán.
Khối lượng tiền lưu thông trên thị trường ngày càng tăng. Nói riêng ở châu
Âu thì từ năm 1400 đến năm 1690, ước tính đã từ 800 triệu lên tới 3.300 triệu.
Việc tăng nhanh khối lượng tiền tệ này đã dẫn tới những cuộc khủng hoảng

20


giá cả trầm trọng. Chẳng hạn cuộc khủng hoảng giá cả trầm trọng ở vùng
Angđaluzi, cửa ngõ đón nhận vàng bạc từ châu Mỹ đổ về.
Sự phát triển của thương nghiệp đã thúc đẩy công kĩ nghệ mở mang
nhanh chóng. Các công trường thủ công, các xí nghiệp sản xuất tập trung một
số lượng lao động lớn đã hình thành, công nghiệp khai thác đóng tàu, kỹ nghệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status