Phân công lao động theo giới trong cộng đồng dân tộc Bru - Vân Kiều Nghiên cứu trường hợp ở hai xã Hướng Hiệp và Tà Long, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị - Pdf 26


Đại học quốc gia Hà nội
Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn Lê Thị Kim Lan

Phân công lao động theo giới trong cộng đồng
dân tộc bru - vân kiều
(Nghiên cứu trường hợp ở hai xã Hướng Hiệp và Tà Long,
huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị)
Luận án tiến sĩ xã hội học
Hà Nội, 2006

2.TS. Phạm Đình Huỳnh Hà Nội, 2006 1
Mục lục
1. TÍNH CẤP THIẾT VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 2
2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
2.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CứU NGOÀI NƯớC 5
2.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CứU TRONG NƯớC 7
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 10
3.1. MụC ĐÍCH NGHIÊN CứU 10
3.2. NHIệM Vụ NGHIÊN CứU 10
4. ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 10
5. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 11
6. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
7. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 15
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 17
1.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 17
1.1.1. Khái niệm giới 17
1.1.2. Khái niệm phân công lao động xã hội và phân công lao động theo giới. 17
1.1.3. Khái niệm vai trò giới 18
1.1.4. Khái niệm cộng đồng 18
1.2. MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG THEO GIỚI 19
1.2.1. Quan điểm của Xã hội học lao động về phân công lao động và phân công lao động theo giới. 19
1.2.2. Học thuyết Marx về phân công lao động theo giới 21
1.2.3. Lý thuyết cấu trúc - chức năng 28
1.2.4. Lý thuyết nữ quyền về phân công lao động theo giới 37

hội giữa phụ nữ và nam giới cũng nhƣ trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các xã
hội khác nhau. Trong những thập kỷ qua, vấn đề này đã thu hút sự quan tâm nghiên
cứu của nhiều nhà khoa học và các nhà làm chính sách. Các công trình nghiên cứu
về giới và các tài liệu thống kê kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong những năm qua đã
cho thấy rằng: Phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong lực lƣợng lao động xã hội.
Theo con số thống kê mới đây, phụ nữ nƣớc ta "chiếm 50,6% lực lƣợng lao động xã
hội" [130, tr. 1]. "Tỷ lệ nữ tham gia trong các ngành nông - lâm - ngƣ nghiệp chiếm
tới 72,8% trong phụ nữ có việc làm " [116, tr. 25]. Riêng ở địa bàn nông thôn, phụ
nữ "chiếm 53,3% lực lƣợng lao động và đƣợc đánh giá là làm ra 60% sản phẩm
nông nghiệp" [60, tr. 22]. Không những thế, "ngƣời phụ nữ thực hiện hơn 90% công
việc nội trợ trong gia đình nông thôn" [51, tr. 214 - 215]. Trong khi đó, họ là những
ngƣời có địa vị xã hội thấp hơn và hƣởng lợi ít hơn nam giới. Trong lĩnh vực kinh
tế, phụ nữ lao động chủ yếu trong các ngành nghề có thu nhập thấp, hoặc không
đƣợc trả tiền lƣơng (sản xuất nông nghiệp, công việc nội trợ, chăm sóc con cái ).
Trong lĩnh vực chính trị, họ chỉ chiếm một tỷ lệ rất thấp trong cán bộ lãnh đạo
Đảng, chính quyền và các đoàn thể. Tiếng nói của họ trong tiến trình xây dựng các
chủ trƣơng, chính sách, xây dựng các quyết định thƣờng rất yếu ớt. Nhìn tổng quan,
kể cả phạm vi toàn cầu và ở Việt Nam, PCLĐTG đang hàm chứa nhiều vấn đề cần
đƣợc giải quyết nhƣ: sự đánh giá và nhìn nhận lệch lạc về đóng góp của phụ nữ,
thiếu tính khoa học trong sử dụng lao động nam- nữ, bất bình đẳng ngay trong phân
công lao động (PCLĐ) đã làm hạn chế cơ hội phụ nữ có việc làm và có thu nhập
cao, ảnh hƣởng của hệ tƣ tƣởng phụ quyền trong sử dụng lao động, v.v
Về phƣơng diện đƣờng lối, chính sách, ngay từ sau khi giành đƣợc chính
quyền, Đảng và Nhà nƣớc ta đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề bình đẳng nam - nữ.
Điều này đƣợc thể hiện rõ trong hiến pháp, pháp luật, chủ trƣơng, chính sách của
Đảng và Nhà nƣớc ta. Nhờ các chủ trƣơng, chính sách đúng đắn ấy mà bất bình

3
đẳng giới từng bƣớc bị đẩy lùi. Sự phân biệt, đối xử với phụ nữ trong sản xuất và
các lĩnh vực khác từng bƣớc đƣợc khắc phục. Quyền và địa vị của phụ nữ trong gia

4
đến trường, được chăm sóc sức khoẻ. Nhu cầu chiến lược của họ là bình đẳng nam
- nữ, thay đổi một số khía cạnh về PCLĐTG theo hướng giảm gánh nặng công việc
đối với phụ nữ và trẻ em gái. Để hỗ trợ cho sự phát triển của phụ nữ và nam giới
Bru-Vân Kiều và đáp ứng nhu cầu của họ theo hƣớng tiến bộ và bình đẳng cần phải
có sự quan tâm, nghiên cứu về sự PCLĐ của họ để có các giải pháp thiết thực. Từ
nghiên cứu PCLĐTG ở cộng đồng Bru-Vân Kiều tỉnh Quảng Trị có thể đại diện cho
các vùng có đặc điểm kinh tế, xã hội tƣơng tự.
Hai là, ở Việt Nam trong những năm qua đã có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực
giới đƣợc tiến hành độc lập hoặc lồng ghép ở các địa bàn Bắc bộ, Trung bộ và Nam
bộ. Tuy nhiên nghiên cứu về sự PCLĐTG trong tiến trình phát triển vẫn là một
khuynh hƣớng mới đòi hỏi phải có những phân tích sâu hơn, nhiều hơn nữa để
có thể hiểu một cách thấu đáo các khía cạnh giới ở Việt Nam dựa trên các cơ sở
khoa học. Hơn nữa những nghiên cứu về sự PCLĐTG ở các cộng đồng dân tộc
thiểu số, đặc biệt là ở dân tộc Bru-Vân Kiều còn quá ít ỏi chƣa đáp ứng với yêu
cầu thực tiễn đề ra.
Ba là, bản thân tác giả đã có sự ấp ủ và nung nấu trong nhiều năm về ý
tƣởng khám phá quan hệ giới của cộng đồng Bru-Vân Kiều. Trong thời gian qua,
tác giả cũng đã có những nghiên cứu làm tiền đề cho việc triển khai đề tài này.
Chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu sự PCLĐTG của cộng đồng dân tộc Bru-
Vân Kiều vừa có ý nghĩa về mặt lý luận vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn. Nghiên
cứu này đƣợc tiến hành nhằm làm phong phú thêm lý thuyết xã hội học về giới, đặc
biệt là trong PCLĐTG, bình đẳng giới. Mặt khác nghiên cứu này cũng nhằm hiểu rõ
thực trạng các khía cạnh giới ở Việt Nam nói chung, ở cộng đồng dân tộc thiểu số
nói riêng trong điều kiện phát triển kinh tế thị trƣờng, từ đó tạo lập các cơ sở khoa
học cho việc đề xuất các kiến nghị và giải pháp về chủ trƣơng, chính sách đối với
phụ nữ và nam giới các dân tộc thiểu số trong đó có dân tộc Bru-Vân Kiều. Thông
qua đó góp phần cải thiện quan hệ giới ở Việt Nam và thực hiện chính sách đoàn
kết dân tộc của Đảng và Nhà nƣớc ta.
Để định hƣớng cho quá trình khám phá vấn đề, chúng tôi đặt ra các câu hỏi

nữ trung lƣu lớp trên chuyên đảm nhận các công việc nội trợ trong khi các ông
chồng của họ làm các công việc ngoài gia đình và có lƣơng, bà đã phát hiện ra rằng
sự PCLĐ ấy đã đem đến cho những ngƣời phụ nữ này sự "khốn khổ và thất vọng ,
một sự bất mãn không diễn đạt đƣợc bằng khái niệm" [9, tr. 4].

6
Nghiên cứu của E. Boserup với tiêu đề: "Vai trò của phụ nữ trong phát triển
kinh tế "(1970) đã làm thay đổi nhận thức về PCLĐTG của con ngƣời. "Lần đầu
tiên Boserup đã xác định một cách có hệ thống và ở phạm vi thế giới sự phân công
lao động theo giới trong các nền kinh tế nông nghiệp" [99, tr. 45]. Những khám phá
của bà đã góp phần làm sáng tỏ hơn nữa bức tranh về PCLĐTG thông qua việc
phân tích và khẳng định vai trò quan trọng của lao động nữ trong các nƣớc thuộc
thế giới thứ ba, đặc biệt trong sản xuất lƣơng thực, thực phẩm cho toàn thế giới.
Tác giả Ann Oakley - ngƣời đầu tiên đƣa thuật ngữ giới vào xã hội học và
cũng là "một trong những nhà xã hội học đầu tiên phân tích các loại kỹ năng và
trách nhiệm xếp chồng đống dƣới quyền ngƣời nội trợ" [10, tr. 166]. Trong một số
nghiên cứu về phụ nữ và công việc nội trợ (1972) và công trình nghiên cứu "Xã hội
học về ngƣời nội trợ" (1974), thông qua việc phỏng vấn 40 phụ nữ nội trợ và các
nghiên cứu bổ trợ khác, bà đã đề cập đến sự bất bình đẳng trong PCLĐTG trong
công việc này và chỉ ra rằng ở nhiều nƣớc công việc nội trợ không công và không
đƣợc trả lƣơng phần lớn do phụ nữ đảm nhận, nam giới đã thoái thác công việc này.
Với tiêu đề: "Công việc của phụ nữ - Sự phát triển và phân công lao động
theo giới", E. Leacock, Helen I. Safa và những ngƣời khác (1986) một lần nữa đã
làm sáng tỏ những kết luận của Boserup về PCLĐTG và vai trò của phụ nữ trong
thế giới thứ ba. Không những thế nghiên cứu của họ đã mở rộng ra để xem xét sự
PCLĐTG cả trong xã hội nông nghiệp và xã hội công nghiệp. Các tác giả đã chứng
minh rằng dù trong xã hội nông nghiệp hay xã hội công nghiệp thì phụ nữ cũng bị
đặt những gánh nặng của công việc tái sản xuất ngoài hoạt động sản xuất để kiếm
sống, điều đó khiến cho họ thƣờng xuyên phải lao động quá sức.
Vào thập kỷ 90, Carolin O.N Moser đã cho ra đời tác phẩm "Kế hoạch hoá

phần lớn phụ nữ thế giới và ở nƣớc ta hiện nay. Từ đó tác giả đƣa ra một số định
hƣớng về tạo việc làm, tăng thu nhập để cải thiện đời sống của phụ nữ. "Phụ nữ
Mường và vai trò lao động của họ" (1991) của tác giả Nguyễn Ngọc Thanh đã khái
quát sự PCLĐ giữa phụ nữ và nam giới dân tộc Mƣờng trong sản xuất và tái sản
xuất cũng nhƣ địa vị xã hội thấp kém của phụ nữ trong cộng đồng này. Tác giả Đào
Thế Tuấn trong nghiên cứu có nhan đề "Phụ nữ trong kinh tế hộ nông dân" (1992)
cũng đã khẳng định vai trò to lớn của phụ nữ trong sản xuất, tái sản xuất. Tác giả
cho rằng cần phải thay đổi kiểu PCLĐTG hiện tại để giảm gánh nặng công việc và
nâng cao địa vị xã hội cho phụ nữ. Với tiêu đề "Khoán 10 với đời sống phụ nữ miền
núi" (1993), tác giả Nguyễn Phƣơng Thảo với cách nhìn tổng quan về tác động của

8
Nghị quyết 10 đối với cộng đồng miền núi đã chỉ ra rằng phụ nữ miền núi là ngƣời
giữ vai trò chủ chốt trong sản xuất nhƣng họ là ngƣời chịu nhiều thiệt thòi và có địa
vị xã hội thấp hơn nam giới. Tác giả Lê Thị Quý với đề tài: "Vai trò của phụ nữ
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam" (1994) đã cho thấy cƣờng độ lao động quá
cao của phụ nữ dƣới tác động của cơn lốc thị trƣờng để mƣu sinh và những mặt trái
của thực trạng ấy. Đề tài: "Phân công lao động theo giới trong gia đình nông dân"
(1997) của Lê Ngọc Văn đã chỉ ra mô hình PCLĐTG ở khu vực nông thôn trong
thời kỳ kinh tế thị trƣờng. Với xu thế nam giới đƣợc khuyến khích chuyển sang các
hoạt động tạo thu nhập tiền mặt, phụ nữ gắn với công việc tái sản xuất và sản xuất
các sản phẩm tiêu dùng của gia đình. Sự PCLĐ ấy đã tạo ra sự bất lợi cho phụ nữ
trong nâng cao học vấn, sức khỏe và vị thế xã hội của họ. Nghiên cứu "Về sự phân
công lao động ở các gia đình phụ nữ nghèo miền Trung" của Bùi Thị Thanh Hà
(1997) đã chỉ ra rằng trong gia đình phụ nữ nghèo, phụ nữ đóng vai trò chủ yếu
không chỉ trong công việc gia đình mà còn cả trong công việc sản xuất ngoài đồng
ruộng mặc dầu nam giới có sự chia sẻ ở mức độ nhất định. Với tiêu đề "Gia đình
phụ nữ nghèo: Phân công lao động và mối quan hệ giữa các thành viên"(1997), tác
giả Ngô Thị Ngọc Anh đã khảo sát 500 phụ nữ nghèo thành thị và chứng minh rằng
họ là những ngƣời trụ cột trong việc nuôi sống gia đình và các công việc nội trợ,

tục của người Tà Ôi, Cơ Tu, Bru-Vân Kiều ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế" của
Nguyễn Văn Mạnh (chủ biên), Nguyễn Xuân Hồng và Nguyễn Văn Thông (2001).
Trong các nghiên cứu này các tác giả tập trung phản ánh về cội nguồn, hệ thống tổ
chức xã hội cũng nhƣ các luật tục của ngƣời Bru-Vân Kiều. Sự PCLĐTG và quan hệ
của chúng với các yếu tố văn hoá cũng có đƣợc đề cập nhƣng rất mờ nhạt.
Dƣới góc độ Xã hội học và Giới, các nghiên cứu về PCLĐTG ở dân tộc Bru-
Vân Kiều, đặc biệt là tác động của yếu tố kinh tế, văn hoá đến sự PCLĐ ấy rất hiếm
hoi. Trong khuôn khổ dự án "Quản lý tài nguyên vùng gò đồi dựa vào cộng đồng",
nhóm tác giả trƣờng Đại học Nông Lâm Huế với đề tài nhánh:"Vai trò giới trong
đời sống của cộng đồng dân tộc Vân Kiều"(1996) đã phân tích vai trò giới trong
một số hoạt động cụ thể của sản xuất và tái sản xuất. Tuy nhiên nghiên cứu này vẫn
chƣa có đủ căn cứ để đƣa ra kết luận về vai trò giới trong các lĩnh vực nói trên. Bản
thân chúng tôi trong những năm qua cũng đã có một số nghiên cứu về các khía cạnh
giới của cộng đồng Bru-Vân Kiều nhƣ: "Giới trong nông nghiệp và phát triển nông
thôn" (Lê Thị Kim Lan và Lê Thị Lan Hƣơng, 2002); "Phân công lao động theo
giới trong sản xuất của dân tộc Bru-Vân Kiều" (Lê Kim Lan, 2005).

10
Vì vậy, việc chọn đề tài này vừa là một hƣớng nghiên cứu mới, vừa là một
khó khăn lớn đối với tác giả trong việc kế thừa các thành quả có trƣớc để hoàn
thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình.

3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Mục đích nghiên cứu
Xác định mô hình PCLĐTG của cộng đồng dân tộc Bru-Vân Kiều. Tìm hiểu
sự tác động của các yếu tố kinh tế, văn hóa đến sự PCLĐTG thông qua đó đƣa ra
các khuyến nghị nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế và nhu cầu chiến lƣợc của giới, góp
phần cải thiện mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế -
xã hội ở địa phƣơng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

PCLĐ truyền thống: phụ nữ đảm nhận chính trong sản xuất nông nghiệp và công việc
tái sản xuất. Nam giới đảm nhận chính trong lâm nghiệp và công việc cộng đồng.
- Các yếu tố kinh tế và văn hoá vừa có tác động duy trì mô hình PCLĐTG
mang tính truyền thống của ngƣời Bru-Vân Kiều vừa làm biến đổi mô hình này.
Nhƣng khuynh hƣớng làm biến đổi khuôn mẫu truyền thống đang diễn ra rất mờ nhạt
- Mặc dầu phụ nữ Bru-Vân Kiều là ngƣời có đóng góp đáng kể trong lao
động và thu nhập nhƣng địa vị xã hội của họ thấp hơn nam giới.

6. PHƢƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. Phƣơng pháp luận
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử với chức năng
phản ánh qui luật vận động và phát triển của tự nhiên và xã hội đã đóng vai trò là
thế giới quan và phƣơng pháp luận cho các khoa học nói chung và cho xã hội học
về giới nói riêng. Đây cũng là nền tảng phƣơng pháp luận của luận án này. Các
quan điểm duy vật biện chứng, quan điểm lịch sử cụ thể sẽ đƣợc vận dụng trong quá
trình xem xét các hiện tƣợng có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự PCLĐTG
của cộng đồng dân tộc Bru-Vân Kiều.
Các lý thuyết xã hội học và xã hội học về giới nhƣ: lý thuyết cấu trúc - chức
năng, lý thuyết vai trò, lý thuyết văn hoá và xã hội hoá cùng với hệ thống khái
niệm: vị thế xã hội, vai trò xã hội, cộng đồng, hành động xã hội, phân công lao động
xã hội, bình đẳng xã hội là cơ sở cho quá trình nghiên cứu của chúng tôi.
Đặc biệt là các lý thuyết giới và hệ thống khái niệm của nó về PCLĐTG, vai
trò giới, tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực và lợi ích, nhu cầu chiến lƣợc và nhu

12
cầu thực tế, bình đẳng giới cũng trở thành cơ sở phƣơng pháp luận quan trọng
đƣợc vận dụng thích hợp trong công trình nghiên cứu này.
6.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong công trình này, chúng tôi kết hợp các phƣơng pháp nghiên cứu định
tính, phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng và các phƣơng pháp khác.

đƣợc tổ chức tại cấp thôn. Mỗi xã chọn 1
thôn và mỗi thôn có hai nhóm: nhóm nam
và nhóm nữ (nam và nữ thảo luận riêng để
họ không bị chi phối lẫn nhau). Mỗi nhóm
có từ 8 đến 13 ngƣời tham gia. Đối tƣợng
tham gia thảo luận là phụ nữ và nam giới
trong độ tuổi lao động, có nhiều kinh
nghiệm trong sản xuất và hiểu biết về đời
sống cộng đồng. Chủ đề chính là "PCLĐTG
và địa vị của phụ nữ và nam giới Bru-Vân Kiều". Cuộc thảo luận đã diễn ra dựa trên
bảng hƣớng dẫn TLNTT cấp thôn (xem phụ lục 4).
6.2.1. Phương pháp phỏng vấn sâu
Có 40 trƣờng hợp đã đƣợc phỏng vấn sâu, phân theo 2 nhóm đối tƣợng:
* Nhóm thứ nhất gồm 20 ngƣời hiểu biết và tham gia các hoạt động trong
cộng đồng, có kinh nghiệm sản xuất, những ngƣời tham gia công tác lãnh đạo, quản
lý ở địa phƣơng, ngƣời làm các công việc đặc biệt nhƣ thầy cúng, già làng, bà đỡ.
* Nhóm thứ hai gồm 20 phụ nữ và nam giới lao động đại diện cho các hộ có
mức sống khác nhau, thuộc nhóm nghề khác nhau. Mỗi cuộc phỏng vấn diễn ra trong
khoảng 60 đến 90 phút với một bảng hƣớng dẫn phỏng vấn cá nhân (xem phụ lục 5).

6.2.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng
Trong nghiên cứu định lƣợng chúng tôi sử dụng phỏng vấn cấu trúc. Phỏng vấn
cấu trúc hay "phỏng vấn tiêu chuẩn đƣợc thực hiện trên cơ sở của một bảng hỏi hoàn
thiện ngƣời đi phỏng vấn sử dụng một bảng hỏi đã đƣợc chuẩn hoá để đƣa ra câu hỏi
và ghi nhận lại các thông tin từ ngƣời trả lời" [98, tr. 282]. Đây là phƣơng pháp chủ yếu
để chúng tôi thu thập các thông tin định lƣợng trong công trình nghiên cứu này.
* Chọn mẫu: Trên cơ cở các đặc trƣng về khu vực cƣ trú, giới tính, tuổi tác,
mức sống, trình độ học vấn của tổng thể nghiên cứu, chúng tôi xác định cơ cấu mẫu
là 300 (mức độ tin cậy là 99,7%, sai số không vƣợt quá 10%). Về địa bàn cƣ trú,
căn cứ vào tổng dân số hiện có của hai xã chúng tôi chọn ở Tà Long là 100, Hƣớng

Phƣơng pháp này dùng để bổ trợ cho các phƣơng pháp nói trên. Trong điều
kiện làm việc trực tiếp với một cộng đồng thiểu số có nhiều ngƣời mù chữ, không
biết nói tiếng phổ thông thì phƣơng pháp quan sát rất quan trọng để thu thập, bổ
sung và kiểm tra thông tin.

15
Đối tƣợng và nội dung quan sát là một số các hoạt động liên quan đến sản
xuất, tái sản xuất, các công việc cộng đồng do phụ nữ và nam giới Bru-Vân Kiều
thực hiện (ví dụ quan sát một cuộc họp thôn: số nam - nữ có mặt, vị trí ngồi, thái độ
lắng nghe ý kiến phụ nữ của nam giới trong cuộc họp, v.v ). Phần lớn chúng tôi sử
dụng phƣơng pháp quan sát công khai, quan sát có tham dự và không tham dự (ví
dụ: để hiểu đƣợc công việc lấy nƣớc và giặt giũ của phụ nữ, chúng tôi sử dụng
phƣơng pháp quan sát có tham dự).
Quan sát kết hợp với ghi chép hoạt động của phụ nữ và nam giới trong hộ là
một trong những hƣớng khai thác thông tin của chúng tôi. Trên cơ sở lựa chọn mỗi xã
3 hộ (1 hộ nghèo, 1 hộ trung bình và 1 hộ khá) chúng tôi đã quan sát và ghi chép lại
những công việc hàng ngày của phụ nữ và nam giới lao động chính trong hộ. Việc
ghi chép không thông báo cho đối tƣợng biết để các hoạt động của họ diễn ra bình
thƣờng. Thông tin đƣợc thu thập trên bảng hƣớng dẫn ghi chép công việc hàng ngày
(xem phụ lục 7).

7. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Trên cơ sở kế thừa những thành quả các nghiên cứu lý luận và thực
nghiệm về PCLĐTG của các tác giả đi trƣớc, chúng tôi hy vọng rằng với công
trình này lần đầu tiên quan hệ giới của cộng đồng Bru-Vân Kiều sẽ đƣợc
khám phá một cách khá toàn diện và sâu sắc thông qua PCLĐTG và địa vị xã
hội của họ. Nghiên cứu đã làm rõ bức tranh về PCLĐTG ở một địa bàn miền
núi, ít chịu ảnh hƣởng của nền kinh tế thị trƣờng và cũng lần đầu tiên ở Việt
Nam, trong khuôn khổ một công trình nghiên cứu xã hội học về giới, các lý
thuyết và phƣơng pháp của xã hội học và xã hội học về giới đã đƣợc vận dụng


17
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1. Khái niệm giới
Giới (Gender) là một trong những khái niệm then chốt của Xã hội học về
giới. Để tránh sự nhầm lẫn thƣờng xảy ra trong việc hiểu và sử dụng thuật ngữ
"Giới" và "Giới tính", ngƣời ta đem so sánh ý nghĩa của hai khái niệm này. Diana
Kendall, Jane Lothian Murray và Rick Linden cho rằng: "Giới tính đề cập đến sự
khác biệt về kết cấu sinh học giữa giống đực và giống cái" [151, tr. 336]. Khái niệm
giới hoàn toàn khác với khái niệm giới tính. Có thể hiểu: "Giới đề cập đến sự khác
nhau về cấu trúc xã hội và văn hóa giữa giống đực và giống cái tìm thấy trong ý
nghĩa, niềm tin và sự kết nối thực tiễn với đàn ông và đàn bà" [151, tr. 337].
Cũng có thể định nghĩa: "Giới là một thuật ngữ Xã hội học bắt nguồn từ môn
Nhân loại học nói đến vai trò trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội qui định cho nam
và nữ, bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia, các nguồn và lợi ích.
Giới đề cập đến các qui tắc tiêu chuẩn theo nhóm tập thể chứ không theo thực tế cá
nhân. Vai trò giới đƣợc xác định theo văn hoá, không theo khía cạnh sinh vật học và
có thể thay đổi theo thời gian, theo các xã hội và các vùng địa lý khác nhau. Khi
sinh ra chúng ta không mang theo các đặc tính giới mà chúng ta học đƣợc những

Gắn với PCLĐTG là vai trò giới, hay nói cách khác, vai trò giới là kết quả
của sự PCLĐTG. Có thể hiểu: "Vai trò giới là vai trò mà con ngƣời đƣợc xã hội
mong đợi thực hiện do chỗ họ là đàn ông hay đàn bà trong một nền văn hoá
riêng" [74, tr. 7].

1.1.4. Khái niệm cộng đồng
Có nhiều cách định nghĩa về cộng đồng. Theo cách nhìn sinh thái học, cộng
đồng liên quan một cách đơn giản đến một nhóm gồm nhiều cá thể có tƣơng tác lẫn
nhau và sống ở một nơi nào đấy [18, tr. 1]. Một định nghĩa khác cho rằng: "Cộng
đồng là một nhóm ngƣời sống trong một môi trƣờng, có những điểm tƣơng đối
giống nhau, có những mối quan hệ nhất định với nhau và do đó tự tổ chức thành
một thực thể cộng đồng hoặc thực thể xã hội" [18, tr. 1]. Hoặc cộng đồng "là một
kiểu tổ chức xã hội đƣợc hình thành trong một quá trình lịch sử lâu đời. Đó là sự cố
kết, sự thống nhất của mọi thành viên trên cơ sở của sự cùng chia sẻ về mặt trách

19
nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi thành viên trong một phạm vi lãnh thổ nhất
định" [103, tr. 121 - 122]. Chúng tôi dùng cách định nghĩa thứ hai bởi cách định
nghĩa này mang tính khái quát cao và gần với đặc trƣng cộng đồng mà chúng tôi
nghiên cứu.
Nhƣ vậy, để hiểu đƣợc cộng đồng cần phải tiếp cận với nguồn thông tin từ
các cá nhân và các tổ chức vi mô nhƣ hộ, gia đình và các nhóm xã hội cấu thành nó.

1.2. MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG THEO GIỚI
1.2.1. Quan điểm của Xã hội học lao động về phân công lao động và phân công
lao động theo giới.
Xã hội học lao động là khoa học nghiên cứu về các khía cạnh xã hội của hoạt
động lao động sản xuất của con ngƣời. Theo Marcovits Danhilo, xã hội học lao
động nghiên cứu về “mối quan hệ tƣơng tác giữa những ngƣời quản lý và những
ngƣời chịu quản lý, thái độ của ngƣời lao động đối với các phƣơng tiện lao động -

Nếu trong cơ cấu lao động có cơ cấu giới tính và PCLĐ xã hội có PCLĐTG thì
các nguyên lý mà Durkheim đƣa ra đã định hƣớng cho việc xem xét sự tác động của
các yếu tố nhƣ trình độ phát triển kinh tế xã hội đối với PCLĐ và PCLĐTG cũng
nhƣ bản chất của quá trình phân công lao động.
Không những thế, PCLĐ còn gắn liền với các vấn đề xã hội nhƣ phần tầng xã
hội, bình đẳng hay bất bình đẳng xã hội. Theo A.Comte: “Phân công lao động là sự
chuyên môn hóa nhiệm vụ lao động nhằm thực hiện chức năng ổn định và phát triển
xã hội. Phân công lao động không đơn thuần là sự chuyên môn hóa lao động mà
thực chất gắn liền với sự phân hóa xã hội, phân tầng xã hội và bất bình đẳng xã hội
(dẫn theo Lê Ngọc Hùng) [45, tr.253]. Quan điểm này chúng ta sẽ gặp trong học
thuyết của Marx và Engel khi các ông cũng cho rằng sự PCLĐ là nguyên nhân của
bất bình đẳng xã hội mà trƣớc hết là bất bình đẳng giới, bởi vì theo các ông sự
PCLĐ xã hội đầu tiên là PCLĐ giữa nam và nữ.
Các nhà lý thuyết xã hội học lao động còn chỉ ra các yếu tố tác động đến sự
phân công lao động xã hội. Theo M.Weber, khi phân tích hành động xã hội của con
ngƣời (bao gồm các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế), ông nhấn mạnh đến sự chi
phối của hệ thống các giá trị, chuẩn mực và đạo đức mà chủ thể hành động theo
đuổi. Durkheim nhấn mạnh đến các yếu tố nhƣ sự cung cấp các nguyên liệu, mật độ

21
dân số.v.v…Nhìn chung kể cả các yếu tố xã hội và yếu tố tự nhiên (nhƣ tuổi tác,
giới tính và các đặc điểm sinh học khác) cũng liên quan đến PCLĐ xã hội đặc biệt
yếu tố giới tính luôn luôn tạo ra sự khác nhau về lao động giữa nam và nữ.
J.Macionis bình luận “Nói chung lúc ấy phân tầng giới tính biểu hiện rõ trong vấn
đề nam giới có khuynh hƣớng nắm giữ các nghề nghiệp quyền thế trong khi phụ nữ
chỉ làm việc trong các công việc tƣơng đối không quyền lực “[73, tr. 402]. Sự phân
công lao động theo giới ấy một mặt ngƣời ta căn cứ vào các đặc điểm sinh học (nhƣ
nam giới có cơ bắp khỏe nên họ có thể cày cuốc); nhƣng phần lớn chúng xuất phát
từ quan niệm xã hội về vị thế, vai trò của nam và nữ mà quan niệm ấy ăn sâu vào
văn hóa trở thành các giá trị, chuẩn mực, khuôn mẫu và đƣợc xã hội hóa qua nhiều

trong mối quan hệ với vấn đề quan hệ sản xuất và trình độ của lực lƣợng sản xuất.
Quan điểm này đã đƣợc Engels trình bày rõ trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia
đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước". Marx và Engels cho rằng: PCLĐTG là
hình thức PCLĐ xuất hiện sớm nhất trong lịch sử và khi ý thức bộ lạc hay quần cƣ
phát triển nhờ tăng năng suất, tăng thêm dân số thì "sự phân công lao động cũng
phát triển, lúc đầu chỉ là sự phân công lao động trong hành vi theo giới tính và
về sau là phân công lao động tự hình thành hoặc hình thành một cách tự nhiên
nhƣ những thiên tính bẩm sinh (nhƣ thể lực chẳng hạn)" [70, tr. 44 - 45]. Hơn
nữa PCLĐ nói chung gắn với quan hệ sở hữu, bởi vì: "những giai đoạn phát triển
khác nhau của phân công lao động cũng đồng thời là những hình thức khác nhau
của sở hữu tùy theo mối quan hệ của họ với tƣ liệu lao động, công cụ lao động
và sản phẩm lao động" [70, tr. 31].
Điều cần lƣu ý là trong khi lấy vấn đề sở hữu tƣ liệu sản xuất làm trung tâm
cho sự giải thích của mình, Marx và Engels luôn luôn đặt sự PCLĐTG trong mối
quan hệ với thiết chế gia đình, hôn nhân và tác động của sự phát triển lực lƣợng sản
xuất mà cụ thể là yếu tố kỹ thuật và trình độ của ngƣời lao động. Bởi vì, theo quan
điểm của Marx, gia đình là hình ảnh thu nhỏ của xã hội: " vì nó có quan hệ ngay từ
đầu với những lao động nông nghiệp, nó chứa đựng những hình thức thu nhỏ, tất cả
những mâu thuẫn sau này sẽ phát triển rộng lớn trong xã hội và trong nhà nƣớc của
xã hội đó" [69, tr. 96]. Và tinh thần của các ông là "Lịch sử của phụ nữ phụ thuộc
chủ yếu vào lịch sử của các kỹ thuật" [6, tr.2].
Có thể nói Marx và Engels là một trong những ngƣời đã khám phá mối
quan hệ giữa yếu tố kinh tế và sự PCLĐTG thông qua sự tác động của yếu tố kinh
tế đối với PCLĐTG (tác động của chế độ sở hữu, của tiến bộ kỹ thuật và thu nhập).

23
Marx và Engels đã đặt ra giả thuyết rằng: trong các xã hội tiền sử, với hình
thức gia đình theo kiểu hôn nhân quần hôn, quan hệ tính giao không phân biệt huyết
thống đã làm cho những đứa trẻ sinh ra không thể xác định đƣợc ai là cha của
chúng. Mặt khác trong thời kỳ mà Morgan và Engels gọi là "mông muội" và "dã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status