1
ĐA
̣
I HO
̣
C QUÔ
́
C GIA HA
̀
NÔ
̣
I
TRƢƠ
̀
NG ĐA
̣
I HO
̣
C KHOA HO
̣
C TƢ
̣
NHIÊN
Nguyễn Thùy Chi
̣
I
TRƢƠ
̀
NG ĐA
̣
I HO
̣
C KHOA HO
̣
C TƢ
̣
NHIÊN
Nguyễn Thùy Chi
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ
ĐẤT ĐAI Ở QUẬN TÂY HỒ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên nga
̀
nh: Địa chính
Mã số: 604480
LUÂ
PHẠM HÀNH CHÍNH, XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LNH
VỰC ĐẤT ĐAI 9
1.1. Khái niệm và đặc điểm vi phạm hành chính 9
1.1.1. Khái niệm, phân loại vi phạm pháp luật 9
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính 15
1.2. Khái niệm, đặc điểm, các yếu tố cấu thành, các loại hành vi vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai . 20
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 20
1.2.2. Các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 21
1.2.3. Các loại hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 24
1.3. Các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 25
1.3.1. Khái niệm, đặc điểm của hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực đất đai. 25
1.3.2. Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 27
1.3.3. Hình thức và mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. . 30
1.4. Tình hình vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai ở một số quận, huyện
khác: 46
1.4.1. Quận Cầu Giấy: 46
1.4.2. Quận Ba Đình: 46
1.4.3. Huyện Đông Anh 47
1.4.4. Huyện Từ Liêm 48
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
HÀNH CHÍNH TRONG LNH VỰC ĐẤT ĐAI Ở QUẬN TÂY HỒ 50
2.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội và đất đai quận Tây Hồ 50
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 50
4
2.1.2. Các nguồn tài nguyên 53
2.1.3. Đặc điểm kinh tế - xã hội 55
2.1.4. Hiện trạng sử dụng đất: 56
6
MỞ ĐẦU
mà còn là nguyên nhân của những tranh chấp, mâu thuẫn gay gắt trong nội bộ nhân
dân và xã hội; nhiều khi chuyển hoá thành vụ việc hình sự, thành điểm nóng, thậm
chí trở thành vấn đề chính trị. Về mặt thực tiễn, do chủ quan, coi thƣờng những vi
phạm nhỏ nên xử lý không kiên quyết, thiếu nghiêm minh dẫn đến tình trạng coi
thƣờng pháp luật, vi phạm ngày càng tràn lan, khó kiểm soát. Trong bối cảnh đó
nghiên cứu về vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất
đai góp phần lập lại trật tự kỷ cƣơng, phòng, chống vi phạm, tăng cƣờng quản lý
nhà nƣớc về đất đai thực sự có ý nghĩa cấp bách cả về lý luận cũng nhƣ thực tiễn đặt ra.
Tây Hồ là một trong những quận có diện tích đất đai lớn, đƣợc thành lập
trên cơ sở sát nhập 03 phƣờng của quận Ba Đình và 05 xã của huyện Từ Liêm
nên quản lý nhà nƣớc về đất đai vừa có nét của quận nội thành lại có những nét
của huyện ngoại thành trong quá trình phát triển đô thị. Ngoài ra với đặc thù có
5/8 phƣờng có đê sông Hồng, số hộ dân nằm trong vùng thóat lũ và hành lang
bảo vệ đê tƣơng đối nhiều, công tác quản lý nhà nƣớc về đất đai gặp rất nhiều
khó khăn. Sau 15 năm thành lập quận, quận Tây Hồ đã đạt đƣợc những kết quả
đáng kể trong công tác quản lý nhà nƣớc về đất đai. Tuy nhiên tình trạng vi
phạm pháp luật đất đai còn phổ biến, tình trạng lấn chiếm, tự chuyển đổi mục
đích sử dụng đất hiện còn phổ biến, việc sử dụng đất của một số tổ chức, hộ gia
đình, cá nhân còn lãng phí, chƣa thực sự hiệu quả. Việc xử lý các vi phạm trên
chƣa kịp thời, gây bức xúc trong nhân dân. Chính vì vậy, làm thế nào để hạn chế
các vi phạm hành chính về đất đai, và việc xử lý vi phạm hành chính về đất đai
tuân thủ đúng pháp luật có ý nghĩa hết sức quan trọng.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm phòng, chống vi phạm và xử lý các vi
phạm hành chính về đất đai ở quận Tây Hồ hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa và phân tích lý luận chung về vi phạm pháp luật và vi phạm
hành chính.
8
9
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ VI
PHẠM HÀNH CHÍNH, XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
LNH VỰC ĐẤT ĐAI
1.1. Khái niệm v đặc điểm vi phạm hnh chính
1.1.1. Khái niệm, phân loại vi phạm pháp luật
a. Khái niệm, cấu thành vi phạm pháp luật
+ Khái niệm vi phạm pháp luật
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, là các quy tắc hành vi, hay còn
gọi là tiêu chuẩn của hành vi con ngƣời. Hành vi là những phản ứng, cách ứng xử
đƣợc biểu hiện ra bên ngoài của con ngƣời trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất
định. Mỗi hành vi đều đƣợc hình thành trên cơ sở nhận thức và kiểm soát của chủ
thể, mà chủ thể ý thức đƣợc và chủ động thực hiện nó. Những hoạt động của con
ngƣời không thể coi là hành vi, nếu con ngƣời hành động trong trạng thái vô thức [4].
Trong hoạt động của mỗi ngƣời thƣờng có rất nhiều hành vi khác nhau đƣợc
thể hiện bằng những phƣơng thức khác nhau trong quá trình sản xuất, trao đổi, sinh
hoạt hàng ngày trong cuộc sống. Song tuỳ theo tính chất, đặc điểm và những lĩnh
vực thể hiện của hành vi con ngƣời mà xã hội đặt ra những tiêu chuẩn, những công
cụ điều chỉnh chúng khác nhau. Những hành vi nào của con ngƣời đƣợc pháp luật
quy định, điều chỉnh thì đƣợc gọi là hành vi pháp luật. Hành vi pháp luật gắn liền
với các quy định của pháp luật, những hành vi không đƣợc pháp luật quy định, điều
chỉnh thì không phải là hành vi pháp luật.
Hành vi pháp luật rất đa dạng nên có thể phân chia chúng dựa theo nhiều tiêu
chí khác nhau.
- Căn cứ vào phƣơng thức biểu đạt ra bên ngoài hiện thực khách quan có thể
chia hành vi pháp luật thành hành vi hành động và hành vi không hành động.
Hành vi hành động là hành vi mà chủ thể phải thực hiện bằng những thao tác nhất
định. Chẳng hạn, hành vi ký hợp đồng, hành vi tham gia giao thông trên đƣờng phố
Hành vi không hành động là hành vi mà chủ thể thực hiện nó bằng cách không
tiến hành những thao tác nhất định. Chẳng hạn, hành vi không tố giác ngƣời phạm tội,
đặc tính đó không biểu hiện thành các hành vi cụ thể của họ. Vì thế, suy nghĩ, tình
cảm, những đặc tính cá nhân khác của con ngƣời và cả sự biến cho dù có nguy hiểm
cho xã hội cũng không bị coi là vi phạm pháp luật.
11
- Thứ hai, trái pháp luật, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật xác
lập và bảo vệ. Vi phạm pháp luật không những phải là hành vi nguy hiểm của các
chủ thể pháp luật, mà hành vi đó còn phải trái pháp luật, xâm hại tới các quan hệ xã
hội đƣợc pháp luật xác lập và bảo vệ. Vì vậy, những hành vi trái với quy định của
các tổ chức xã hội, trái với quy tắc tập quán hoặc đạo đức mà không trái pháp luật
thì không bị coi là hành vi vi phạm pháp luật. Nói một cách khái quát, những gì mà
pháp luật không cấm, không xác lập và bảo vệ thì dù có làm trái, có xâm hại cũng
không bị coi là vi phạm pháp luật. Nhƣ vậy, tính trái pháp luật là dấu hiệu không
thể thiếu của hành vi bị coi là vi phạm pháp luật.
- Thứ ba, có lỗi của chủ thể. Dấu hiệu trái pháp luật mới chỉ là biểu hiện bên
ngoài của hành vi, để xác định vi phạm pháp luật cần xem xét cả mặt chủ quan của
hành vi, nghĩa là, xác định lỗi của chủ thể khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
đó. Lỗi là yếu tố chủ quan thể hiện thái độ của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật
của mình. Nếu một hành vi trái pháp luật đƣợc thực hiện do những điều kiện và
hoàn cảnh khách quan, chủ thể thực hiện hành vi đó không cố ý và cũng không vô ý
thực hiện hoặc không thể nhận thức đƣợc, từ đó không lựa chọn đƣợc cách xử sự
theo yêu cầu của pháp luật thì chủ thể thực hiện hành vi đó không bị coi là có lỗi và
hành vi đó không bị coi là vi phạm pháp luật. Kể cả những hành vi trái pháp luật mà
chủ thể buộc phải thực hiện khi không có sự lựa chọn khác cũng có thể không bị coi
là vi phạm pháp luật. Nhƣ vậy, những hành vi trái pháp luật mang tính khách quan,
không có lỗi của chủ thể thực hiện hành vi đó thì không bị coi là vi phạm pháp luật.
Vì vậy có thể khẳng định là tất cả mọi vi phạm pháp luật trƣớc hết phải là hành vi
trái pháp luật, nhƣng ngƣợc lại, không phải tất cả mọi hành vi trái pháp luật đều bị
coi là vi phạm pháp luật. Chỉ những hành vi trái pháp luật nào có lỗi mới có thể bị
coi là vi phạm pháp luật.
Tính nguy hiểm của hành vi trái pháp luật thể hiện ở chỗ nó đã gây ra hoặc có nguy
cơ gây ra những thiệt hại về vật chất, về tinh thần và những thiệt hại khác cho xã
hội. Mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật đƣợc xác định thông qua mức độ
thiệt hại thực tế hoặc nguy cơ gây thiệt hại cho xã hội mà hành vi đó gây ra.
13
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với hậu quả mà nó gây ra
cho xã hội. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với hậu quả mà nó gây
ra cho xã hội thể hiện ở chỗ sự thiệt hại của xã hội là do chính hành vi trái pháp luật
đó trực tiếp gây ra, nói cách khác, sự thiệt hại của xã hội xảy ra là hậu quả tất yếu
của hành vi trái pháp luật. Nếu giữa hành vi trái pháp luật và sự thiệt hại của xã hội
không có mối quan hệ nhân quả thì sự thiệt hại của xã hội không phải do hành vi
trái pháp luật đó trực tiếp gây ra mà có thể do những nguyên nhân khác.
Ngoài ra trong mặt khách quan của vi phạm pháp luật còn có các yếu tố khác
nhƣ thời gian, địa điểm, phƣơng tiện và công cụ vi phạm
- Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật. Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật
là những biểu hiện tâm lý bên trong của chủ thể vi phạm pháp luật. Nó gồm những
yếu tố sau:
Một là: Lỗi của chủ thể vi phạm pháp luật. Lỗi là trạng thái tâm lý của chủ
thể đối với hành vi vi phạm của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra. Lỗi thể hiện
thái độ tiêu cực của chủ thể đối với xã hội. Lỗi phụ thuộc vào mức độ tiêu cực trong
thái độ của chủ thể. Khoa học pháp lý chia lỗi ra thành hai loại lỗi cố ý và lỗi vô ý.
Lỗi cố ý có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Lỗi vô ý có thể là vô ý vì quá tự
tin hoặc vô ý vì cẩu thả.
Lỗi cố ý trực tiếp: Chủ thể vi phạm nhận thức rõ hành vi của mình là nguy
hiểm cho xã hội, thấy trƣớc hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây
ra và mong muốn điều đó xảy ra.
Lỗi cố ý gián tiếp: Chủ thể vi phạm nhận thức rõ hành vi của mình là nguy
hiểm cho xã hội, thấy trƣớc hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây
ra, nhƣng có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra.
b. Phân loại vi phạm pháp luật
Hiện tƣợng vi phạm pháp luật trong xã hội rất đa dạng. Có thể phân chia vi
phạm pháp luật theo nhiều tiêu chí khác nhau :
- Theo loại quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ bị xâm hại, thì vi phạm pháp
luật phân thành vi phạm pháp luật về tài chính, vi phạm pháp luật về lao động, vi
phạm pháp luật về đất đai, vi phạm pháp luật hình sự, vi phạm pháp luật dân sự vv
- Theo mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thì vi phạm pháp luật phân
thành vi phạm pháp luật là tội phạm và vi phạm hành chính.
15
- Theo tính chất vi phạm và trách nhiệm pháp lý, thì vi phạm pháp luật phân
thành vi phạm pháp luật hình sự, vi phạm pháp luật dân sự, vi phạm hành chính, vi
phạm kỷ luật nhà nƣớc.
+ Vi phạm pháp luật hình sự (Tội phạm): Là hành vi nguy hiểm cho xã hội
đƣợc quy định trong Bộ luật Hình sự, do ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự
thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn
vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc
phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm
phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích
hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật
xã hội chủ nghĩa (Khoản 1 điều 8 Bộ luật Hình sự).
+ Vi phạm hành chính: Là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố
ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nƣớc mà không phải là tội phạm
hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.
+ Vi phạm dân sự: là những hành vi trái pháp luật, có lỗi, xâm hại tới những
quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân
+ Vi phạm kỷ luật Nhà nước: là những hành vi có lỗi, trái với những quy
chế, quy tắc xác lập trật tự trong nội bộ một cơ quan, xí nghiệp, trƣờng học , nói
cách khác, là không thực hiện đúng kỷ luật lao động, học tập, phục vụ đƣợc đề ra
trong cơ quan, xí nghiệp, trƣờng học đó Cần chú ý là chủ thể vi phạm kỷ luật có
Khái niệm vi phạm hành chính lần đầu tiên đƣợc nêu ra trong Pháp lệnh Xử
phạt vi phạm hành chính ngày 30/11/1989. Điều 1 của Pháp lệnh này đã ghi rõ: "Vi
phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý,
xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nƣớc mà không phải là tội phạm hình sự và theo
quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính".
Tại khoản 2, Điều 1 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002, vi phạm
hành chính cũng đƣợc định nghĩa một cách gián tiếp: "Xử phạt vi phạm hành chính
đƣợc áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức)
có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nƣớc mà
không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính".
17
Tuy có sự khác nhau về cách diễn đạt, song quan niệm về vi phạm hành
chính trong các văn bản pháp luật nêu trên đều thống nhất với nhau về những dấu
hiệu bản chất của loại vi phạm pháp luật này. Trên cơ sở những nội dung đã đƣợc
nêu ra trong hai văn bản pháp luật nêu trên, có thể đƣa ra định nghĩa về vi phạm
hành chính nhƣ sau:
Vi phạm hành chính là hành vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức vi phạm
các quy định của pháp luật mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp
luật phải bị xử phạt hành chính.
b. Đặc điểm của vi phạm hành chính
Để xác định một hành vi xảy ra có phải là vi phạm hành chính hay không cần
xác định các dấu hiệu pháp lý của loại vi phạm pháp luật này. Những dấu hiệu này
đƣợc mô tả trong các văn bản pháp luật có quy định về vi phạm hành chính, hình
thức và biện pháp xử lý đối với loại vi phạm này. Cũng tƣơng tự nhƣ bất kỳ loại vi
phạm pháp luật nào, các dấu hiệu pháp lý của vi phạm hành chính thể hiện ở bốn
yếu tố mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể.
+ Dấu hiệu trong mặt khách quan
Dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của vi phạm hành chính là hành vi
vi phạm hành chính. Nói cách khác, hành vi mà tổ chức, cá nhân thực hiện là hành
hiệu bắt buộc của một số loại vi phạm hành chính. Vì thế, khi xử phạt cá nhân, tổ
chức về vi phạm hành chính này cần phải xác định rõ ràng hành vi của họ có thoả
mãn đầy đủ dấu hiệu mục đích hay không, ngoài việc xem xét các dấu hiệu khác.
Khi xác định dấu hiệu lỗi trong mặt khách quan của vi phạm hành chính, thì
dấu hiệu lỗi trong vi phạm hành chính của tổ chức là vấn đề còn có nhiều ý kiến
khác nhau. Có ý kiến cho rằng, lỗi là trạng thái tâm lý cá nhân trong khi thực hiện
hành vi vi phạm hành chính nên không đặt ra vấn đề lỗi đối với tổ chức vi phạm
hành chính. Khi xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức, chỉ cần xác định tổ
chức đó có hành vi trái pháp luật và hành vi đó theo quy định của pháp luật bị xử
phạt bằng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính là đủ điều kiện để xử phạt
hành chính. Cũng có quan điểm cho rằng, cần phải xác định lỗi của tổ chức khi vi
phạm hành chính thì mới có đầy đủ cơ sở để tiến hành hoạt động xử phạt vi phạm
19
hành chính đối với tổ chức vi phạm. Theo quan điểm này, lỗi của tổ chức đƣợc xác
định bằng lỗi của các thành viên trong tổ chức đó khi thực hiện nhiệm vụ, công cụ
đƣợc tổ chức đó giao cho. Tuy nhiên, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính hiện
hành chỉ quy định chung rằng: “Tổ chức bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm
hành chính do mình gây ra” (Điểm b, khoản 1, Điều 6 Pháp lệnh Xử lý vi phạm
hành chính) và có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đồng thời, tổ chức phải có trách nhiệm xác định lỗi của ngƣời thuộc tổ chức mình
trực tiếp gây ra vi phạm hành chính trong khi thi hành công vụ đƣợc giao để truy
cứu trách nhiệm kỷ luật và bồi thƣờng thiệt hại theo quy định của pháp luật.
+ Dấu hiệu về chủ thể
Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính là các tổ chức, cá nhân có
năng lực chủ thể.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, cá nhân là chủ thể của vi phạm hành
chính là ngƣời không mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng
nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình và đủ độ tuổi do pháp luật
quy định, cụ thể là:
đƣợc thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến quyền sở hữu đất đai của
Nhà nƣớc, quyền và lợi ích của ngƣời sử dụng đất cũng nhƣ các quy định về chế độ
sử dụng các loại đất mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải
bị xử phạt hành chính [2].
b. Đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Từ khái niệm trên, ta thấy hành vi vi phạm hành chính về đất đai cũng nhƣ
hành vi vi phạm pháp luật về đất đai nói chung, có những đặc điểm cơ bản sau:
Một là, có hành vi trái pháp luật đất đai.
Để xác định có hành vi trái pháp luật đất đai thì ta phải căn cứ vào những quy
định của pháp luật về đất đai, đƣờng lối chính sách của Đảng và Nhà nƣớc liên quan
đến việc quản lý, sử dụng đất đai, những phong tục, tập quán của từng địa phƣơng
để xem xét về một hành vi cụ thể.
Nếu một chủ thể thực hiện những việc mà pháp luật đất đai nghiêm cấm hoặc
không làm những việc mà pháp luật đất đai yêu cầu thì ngƣời đó là ngƣời có hành vi
21
vi phạm pháp luật đất đai. Vì vậy hành vi trái pháp luật đất đai là hành vi không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng những quy định của pháp luật đất đai. Hành vi
không bị coi là trái pháp luật đất đai khi nó có liên quan đến việc thực hiện một
mệnh lệnh khẩn cấp của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền hoặc những sự kiện xảy
ra ngoài ý chí và khả năng của ngƣời sử dụng đất (tình thế cấp thiết hay sự kiện bất ngờ)
Hai là, có lỗi.
Lỗi là trạng thái tâm lý, là ý chí chủ quan của con ngƣời đối với hành vi và
hậu quả do hành vi của họ gây ra đƣợc thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý. Vì vậy
phải xét yếu tố lỗi chính xác để xác định đƣợc hình thức xử lý phù hợp với hành vi
vi phạm pháp luật đất đai.
Hành vi vi phạm hành chính về đất đai có thể thực hiện bằng hành động nhƣ
việc lấn, chiếm đất đai, phá vỡ mặt bằng đất canh tác, sử dụng đất không đúng mục
đích hoặc không hành động nhƣ không sử dụng đất, không cải tạo, bồi bổ đất,
không ngăn chặn sự xói mòn đất đai.
hại quyền sở hữu của Nhà nƣớc đối với đất đai hoặc xâm hại đến quyền lợi của
ngƣời sử dụng đất. Cụ thể :
Sự xâm phạm quyền sở hữu của Nhà nƣớc đối với đất đai thƣờng thể hiện
trong việc định đoạt một cách bất hợp pháp số phận pháp lý của đất đai nhƣ không
tuân theo những thủ tục cấp đất do pháp luật quy định, giao đất không đúng thẩm
quyền, không đúng đối tƣợng, mua, bán, chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất trái
phép dƣới nhiều hình thức nhƣ núp dƣới danh nghĩa thanh lý tài sản, thanh lý nhà
cửa hoặc thu tiền bán đất trên danh nghĩa đền bù nhƣng sử dụng số tiền đó không
đúng với mục đích, hoặc tự tiện chuyển giao đất cho ngƣời thừa kế, hoặc sử dụng
đất không đúng mục đích đƣợc giao, tự ý thay đổi mục đích sử dụng đất khi chƣa có
sự đồng ý của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền.
Xâm phạm đến quyền lợi của ngƣời sử dụng đất nhƣ mƣợn tạm đất sử dụng
trong một thời gian nhất định khi hết thời hạn không trả lại chủ cũ mà chiếm luôn
để sử dụng, hoặc tự tiện chuyển dịch ranh giới ra ngoài phần đất đƣợc giao, hoặc
lấy quá mức đất mà Nhà nƣớc giao cho mình.
23
Mức độ hậu quả của hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đƣợc
xác định theo nguyên tắc quy đổi giá trị quyền sử dụng đối với diện tích đất bị vi
phạm thành tiền theo giá đất do UBND quận, thành phố trực thuộc trung ƣơng nơi
có đất đó quy định.
- Mối quan hệ giữa hành vi vi phạm hành chính về đất đai với hậu quả mà nó
gây ra cho xã hội phải có quan hệ hữu cơ với nhau, sự thiệt hại cho xã hội là do
chính hành vi vi phạm hành chính về đất đai gây ra. Song không phải mọi vi phạm
hành chính về đất đai trong cấu thành của nó đều bắt buộc phải có dấu hiệu hậu quả
và quan hệ nhân quả mà nhiều vi phạm hành chính về đất đai chỉ cần dấu hiệu “cấu
thành hình thức” là đủ căn cứ để xử phạt hành chính.
Ngoài ra khi nghiên cứu mặt khách quan của vi phạm hành chính về đất đai
trong một số trƣờng hợp cần xem xét thêm một số dấu hiệu khác nhƣ thời gian, địa
điểm, công cụ, phƣơng tiện thực hiện hành vi.
+ Chủ thể của vi phạm hành chính về đất đai.
Vi phạm hành chính về đất đai là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện cố ý
hoặc vô ý xâm hại đến các quan hệ xã hội đƣợc pháp luật đất đai bảo vệ. Do vậy
chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là những cá nhân, tổ chức có
năng lực chủ thể . Những hành vi này đều xâm hại đến các quan hệ pháp luật đất đai
đang đƣợc duy trì, làm ảnh hƣởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nƣớc. Song do
tính chất và mức độ xâm hại của hành vi chƣa đến mức nguy hiểm cho xã hội để trở
thành tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính [2].
1.2.3. Các loại hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
a. Các hành vi vi phạm trong sử dụng đất đai là :
- Sử dụng đất không đúng mục đích
- Lấn, chiếm đất
- Huỷ hoại đất
- Gây cản trở cho việc sử dụng đất của ngƣời khác
- Chuyển đổi, chuyển nhƣợng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền
sử dụng đất hoặc thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất mà không
thực hiện đúng thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật về đất đai.
25
- Tự chuyển đổi, chuyển nhƣợng, tặng cho đối với đất không đủ điều kiện
chuyển quyền sử dụng đất .
- Cố ý đăng ký không đúng loại đất, không đăng ký khi chuyển mục đích sử
dụng đất.
- Chậm thực hiện bồi thƣờng.
- Chậm nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất mà không đƣợc cơ quan nhà nƣớc
có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất cho phép.
- Cố ý gây cản trở cho việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất.
- Không thực hiện đúng thời hạn trả lại đất theo quyết định thu hồi đất của cơ
quan nhà nƣớc có thẩm quyền.
- Tự tiện di chuyển, làm sai lệch mốc chỉ giới quy hoạch sử dụng đất, mốc