MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
4
1.1.
Bệnh sâu răng và các yếu tố liên quan
4
1.1.1.
Bệnh sâu răng
4
1.1.2.
Tình hình bệnh sâu răng trên thế giới và Việt Nam
4
1.1.3.
Cơ chế gây bệnh sâu răng
6
1.1.4.
Mảng bám răng và sự hình thành mảng bám răng
8
1.2.
Vi khuẩn Streptococcus mutans và khả năng gây sâu răng
9
1.2.1.
Một số đặc trưng hình thái và phân loại của Streptococcus mutans
10
28
1.3.4.1.
Liệu pháp thay thế
28
1.3.4.2.
Vaccine phòng chống sâu răng
28
1.3.5.
Tình trạng nhiễm fluo trên răng
28
1.4.
Các chất thứ cấp từ thực vật
29
1.4.1.
Phân loại, cấu tạo hoá học và tính chất của chất thứ cấp từ thực vật
29 1.4.1.1.
Nhóm các hợp chất terpene
30
1.4.1.2.
Nhóm các hợp chất phenolic
30
1.4.1.3.
Nhóm hợp chất chứa nitơ
33
1.4.2
Hoạt tính sinh học của các hợp chất thứ cấp từ thực vật
34
2.2.1.
Nuôi cấy vi khuẩn và bảo quản tế bào vi khuẩn
41
2.2.2
Phương pháp nghiên cứu phân lập chủng vi khuẩn gây sâu răng S.
mutans từ các bệnh phẩm mắc bệnh sâu răng
41
2.2.2.1.
Phân lập trên môi trường Mitis salivarius
42
2.2.2.2.
Phân lập trên môi trường TSA pH 5,0
42
2.2.3.
Phương pháp nhận dạng Streptococcus mutans phân lập từ người
Việt Nam
43
2.2.3.1.
Kiểm tra hình thái tế bào vi khuẩn
43
2.2.3.2.
Phương pháp nhuộm Gram cải tiến
43
2.2.3.3.
Kiểm tra hoạt tính catalase
43
2.2.3.4.
Kiểm tra các đặc tính hoá sinh (kit Api 20 Strep)
43
2.2.3.5
2.2.9.1.
Chuẩn bị tế bào thấm
48
2.2.9.2.
Phân tích hoạt độ ATPase
48
2.2.9.3.
Phân tích hoạt độ phosphotransferase (PTS)
49
2.2.9.4.
Phân tích hoạt độ NADH oxidase
49
2.2.9.5.
Phân tích hoạt độ lactate dehydrogenase
50
2.2.9.6.
Phân tích hoạt độ pyruvate kinase
50
2.2.10.
Phương pháp nghiên cứu định tính thành phần một số hợp chất
thực vật thứ sinh trong dịch chiết thực vật
51
2.2.11.
Phương pháp phân tách các hợp chất bằng sắc ký
52
2.2.12.
Phương pháp xác định cấu trúc hóa học các hợp chất
53
2.2.13.
Phương pháp xử lý số liệu
2
O
2
64
3.1.6.
Tác dụng của dịch chiết Sao đen và Sắn thuyền lên một số vi khuẩn
đường miệng
65
3.2.
Tách, tinh sạch, nghiên cứu tính chất của một số chất thứ cấp
có hoạt tính kháng khuẩn sâu răng từ vỏ cây Sao đen
67
3.2.1.
Tìm hiểu nhóm chất thứ cấp có trong vỏ cây Sao đen
67
3.2.2.
Tách chiết tinh sạch một số chất thứ cấp từ vỏ cây Sao đen
68
3.2.3.
Nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn sâu răng của hopea phenol và
malibatiol A từ vỏ Sao đen
72
3.2.3.1.
Tác dụng của hopea phenol và malibatiol A lên sự sinh axit của S.
mutans
72
3.2.3.2.
Tác dụng giết tế bào S. mutans GS-5 của hopea phenol và
malibatol A
3.3.3.
Nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn sâu răng của axit asatic
83
3.3.3.1.
Tác dụng của axit asiatic lên sự sinh axit của S. mutans GS-5
83 3.3.3.2.
Tác dụng của axit asiatic lên sự diệt S. mutans GS-5
83
3.3.3.3.
Tác dụng của axit asiatic lên hoạt độ ATPase của S. mutans GS-5
84
3.3.3.4.
ảnh hưởng của axit asiatic lên hoạt độ phosphotransferase của S.
mutans GS-5
84
3.3.3.5.
Tác dụng của axit asiatic lên hoạt độ lactate dehydrogenase của S.
mutans GS-5
85
3.3.3.6.
Tác dụng của axit asiatic lên hoạt độ pyruvate kinase của S.
mutans GS-5
85
3.3.3.7.
Tác dụng của axit asiatic lên NADH oxidase của S. mutans GS-5
86
3.4.
gen dextranse của Streptococcus mutans
95
3.4.4.
Một số đặc điểm sinh lý của 3 chủng vi khuẩn Streptococcus
mutans H1, H2 và H3
96
3.4.4.1.
Khả năng sinh axit của S. mutans H1, S. mutans H2 và S. mutans
H3
96
3.4.4.2.
Khả năng chịu axit của các chủng vi khuẩn phân lập từ người Việt
Nam
97 3.4.4.3
Giải trình tự gen mã hóa ARNr 16S của S. mutans H2 phân lập từ
người Việt Nam
98
3.4.5.
Nghiên cứu tác dụng của dịch chiết Sao đen và Sắn thuyền lên S.
mutans H2 phân lập từ người Việt Nam
100
3.4.5.1.
Tác dụng của dịch chiết Sao đen và Sắn thuyền lên khả năng sinh
axit của S. mutans H2
100
3.4.5.2.
Tác dụng của dịch chiết Sao đen và Sắn thuyền với việc diệt các tế
Missing Filled Teeth)
HNT
IC
50
Hương nhu trắng (Ocimum gratissimum L.)
Nồng độ ức chế 50% hoạt độ enzyme (Inhibitory concentration)
KNG
Kim ngân (Lonicera japonica Thunb.)
kDA
Kilo dalton
Kb
Kilo base
LDH
Lactate dehydrogenase
MS
Phổ khối (Mass spectrophotometry)
NAD
+
Nicotinamide adenine dinucleotide
NMR
Cộng hưởng từ hạt nhân (Nuclear magnetic resonance)
NOX
NADH oxidase
NPK
NADH peroxidase
PCR
Phản ứng chuỗi polymerase (Polymerase chain reaction)
PEP
Bảng 1.1.
Các loài thuộc nhóm mutans streptococcus
11
Bảng 3.1.
Danh mục các mẫu thực vật được sử dụng trong nghiên cứu
54
Bảng 3.2.
Tác dụng của một số dịch chiết thực vật bằng H
2
O và ethanol
lên sự sinh axit của vi khuẩn S. mutans GS-5
56
Bảng 3.3.
Tác dụng của dịch chiết lên sự hình thành biofilm ở S.
mutans GS-5
61
Bảng 3.4.
Tác dụng của dịch chiết thực vật phối hợp với NaF lên sự
sinh axit của S. mutans GS-5
63
Bảng 3.5.
Tác dụng của dịch chiết các mẫu thực vật phối hợp với H
2
O
2
lên sự sinh axit của S. mutans GS-5
64
Bảng 3.6.
Thành phần một số hợp chất trong vỏ Sao đen chiết bằng các
7
Hình 1.3.
Vi khuẩn Streptococcus mutans
11
Hình 1.4.
Mối quan hệ giữa chất trao đổi bậc nhất và các chất thứ cấp từ
thực vật
32
Hình 3.1.
Tác dụng của ethanol lên sự sinh axit của S. mutans GS-5
55
Hình 3.2.
ảnh hưởng của dịch chiết Sao đen và Sắn thuyền lên sự sinh axit
của S. mutans GS-5
57
Hình 3.3.
Tác dụng không thuận nghịch của dịch chiết Sao đen và Sắn
thuyền lên khả năng sinh axit của S. mutans GS-5
57
Hình 3.4.
ảnh hưởng của dịch chiết Sao đen và Sắn thuyền lên sự tiêu thụ
oxy của S. mutans GS-5
58
Hình 3.5.
Khả năng diệt S. mutans GS-5 từ các dịch chiết thực vật tại pH
4
59
Hình 3.6.
Khả năng diệt S. mutans GS-5 từ các dịch chiết thực vật tại pH
7
71 Hình 3.14.
Một số tương tác H-C chủ yếu của hopea phenol
72
Hình 3.15.
Tác dụng của hopea phenol và malibatol A lên sự sinh axit của
S. mutans GS-5
73
Hình 3.16.
Khả năng diệt S. mutans GS-5 tại pH 4 và pH 7 của hopea
phenol và malibatol A
73
Hình 3.17.
ảnh hưởng của hopea phenol và malibatol A lên hoạt độ ATPase
của S. mutans GS-5
74
Hình 3.18.
Ảnh hëng cña opea phenol vµ malibatol A
lªn ho¹t ®é phosphotransferase cña S.
mutans GS-5
75
H×nh
3.19.
¶nh hëng cña hopea phenol vµ malibatol A
lªn ho¹t ®é lactate dehydrogenase cña S.
mutans GS-5
75
Hình 3.20.
mutans GS-5
85
Hình 3.30.
Ảnh hëng cña asiatic axit lªn ho¹t ®é
lactate dehydrogenase cña S. mutans GS-5
85
H×nh
3.31.
¶nh hëng cña asiatic axit lªn ho¹t ®é
pyruvate kinase cña vi khuÈn S. mutans GS-5
86 Hình 3.32.
ảnh hưởng của axit asiatic lên hoạt độ NADH oxidase của S.
mutans GS-5
86
Hình 3.33.
Hình thái khuẩn lạc một số chủng vi khuẩn phân lập từ người
Việt Nam trên môi trường Mitis- salivarius
88
Hình 3.34.
Hình thái khuẩn lạc vi khuẩn trên môi trường thạch TSA pH 5,0
89
Hình 3.35.
ảnh chụp hiển vi điện tử của các chủng vi khuẩn chi
Streptococcus
90
Hình 3.36.
Điện di kiểm tra trên gel agarose sản phẩm ADN tổng số của
100
Hình 3.45.
Tác dụng diệt S. mutans H2 phân lập từ người Việt Nam từ
dịch chiết Sắn thuyền và Sao đen ở pH 4 và pH 7
101
Hình 3.46.
ảnh hưởng của axit asiatic, hopea phenol và malibatol lên hoạt
độ ATPase của S. mutans H2
102
Hình 3.47.
ảnh hưởng của axit asiatic, hopea phenol và malibatol lên hoạt
độ phosphotransferasecủa S. mutans H2
102
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sâu răng là một trong số các bệnh răng miệng phổ biến nhất hiện nay và
đang có xu hướng ngày một tăng lên ở các nước đang phát triển trong đó có Việt
Nam. Theo số liệu điều tra gần đây của Viện Răng Hàm Mặt Trung Ương, khoảng
90% dân số Việt Nam mắc các bệnh về răng, miệng, trong đó phổ biến nhất là sâu
răng và viêm quanh răng [38]. Bệnh sâu răng không chỉ gây ảnh hưởng tới tình
trạng sức khoẻ của người bệnh mà còn gây ra nhiều chi phí tốn kém trong chữa trị.
Tổ chức Y tế thế giới coi sâu răng là một trong những bệnh nguy hiểm của loài
người. Nhiều chương trình nghiên cứu cũng như khuyến cáo nhằm mục đích ngăn
ngừa và phòng chống bệnh này đã được WHO thực hiện trong những năm qua. Mặc
dù tỷ lệ sâu răng trong cộng đồng dân cư đã giảm đi đáng kể nhưng vẫn còn ở mức
cao và đòi hỏi phải có những biện pháp dự phòng tốt hơn nữa để đạt mục tiêu mà
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là điều tra tác dụng chống sâu răng của dịch
chiết một số loài thực vật ở Việt Nam thông qua việc nghiên cứu ảnh hưởng của
chúng lên các quá trình sinh lý, hoá sinh, một số enzyme và hệ enzyme có liên quan
của vi khuẩn gây sâu răng Streptococcus mutans, từ đó nghiên cứu cách tách chiết,
tinh sạch một vài chất thứ cấp và đi sâu tìm hiểu tác dụng chống sâu răng của
chúng.
3. Đối tượng và nội dung nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Chủng vi khuẩn gây sâu răng Streptococcus mutans GS-5, một số vi khuẩn
thuộc chi Streptoccocus từ bộ sưu tập giống tại Phòng thí nghiệm của GS. Robert E.
Marquis, Đại học Rochester, Mỹ. Một số chủng vi khuẩn được phân lập từ người
Việt Nam.
Các thực vật được lựa chọn bao gồm: Chàm tía, Hương nhu trắng, Kim ngân,
Quỷ trâm thảo, Sài đất và Sao đen là những loài được dùng trong các bài thuốc dân
gian Việt Nam để chữa bệnh sâu răng và có tính kháng khuẩn, chống viêm.
Nội dung nghiên cứu
1. Nghiên cứu điều tra ảnh hưởng một số dịch chiết thực vật lên quá trình sinh
axit gây sâu răng Streptococcus mutans và tác dụng giết chết vi khuẩn này
của các dịch chiết. 3
2. Tách chiết, tinh sạch, xác định cấu trúc và nghiên cứu tác dụng của một số
chất thứ cấp từ các loài thực vật được điều tra lên các quá trình sinh lý, hoá
sinh của vi khuẩn S. mutans cũng như một số enzyme và phức hệ enzyme
đích, liên quan đến tính chất gây sâu răng của vi khuẩn này.
3. Phân lập một số chủng vi khuẩn Streptococcus mutans từ bệnh phẩm của
người Việt Nam bị sâu răng và bước đầu nghiên cứu tác dụng của một số
Các kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp các dẫn liệu về khả
năng kháng khuẩn sâu răng của một số dịch chiết thực vật, hợp chất tinh sạch từ lá
Sắn thuyền và vỏ Sao đen có ở Việt Nam góp phần ứng dụng hiệu quả hơn trong
việc bảo vệ răng, miệng.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. BỆNH SÂU RĂNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
1.1.1. Bệnh sâu răng
Bệnh sâu răng là bệnh gây ra bởi vi khuẩn trên mảng bám răng, điển hình là
vi khuẩn Streptococcus mutans. Những vi khuẩn trên mảng bám răng sử dụng các
carbohydrate chủ yếu là đường glucose lên men tạo axit lactic. Môi trường axit phá
vỡ sự cân bằng của các vi khuẩn đường miệng, tạo điều kiện thích hợp với vi khuẩn
gây sâu răng. Những vi khuẩn này có khả năng chịu được pH thấp và do đó có thể
duy trì hoạt động trao đổi chất và tiếp tục tạo axit [12, 69, 80]. Khi lượng axit hình
thành đủ lớn sẽ hòa tan các khoáng chất có trong men răng vốn được cấu tạo bởi
hydroxylapatide liên kết với ion canxi tích điện dương và ion phosphate tích điện
âm, dẫn đến làm mòn men răng, tạo thành các hố trên răng và gây ra sâu răng [11,
12, 80].
1.1.2 Tình hình bệnh sâu răng trên thế giới và Việt Nam
Bệnh sâu răng là một trong 3 bệnh được tổ chức Y tế thế giới cảnh cáo về
mức độ nguy hiểm chỉ sau các bệnh tim mạch và ung thư [29]. Trong các thập niên
trước, tỷ lệ số người mắc bệnh sâu răng cao ở cả người lớn và trẻ em. Trung bình
mỗi trẻ em 12 tuổi có từ 8 đến 10 răng sâu hoặc răng đã bị mất do sâu. Chỉ số
DMFT được sử dụng để phản ánh số răng sâu, số răng mất hay trám răng do sâu.
Năm 1997, chỉ số DMFT ở lứa tuổi trung niên (từ 35 đến 44 tuổi) tại các nước công
nghiệp phát triển như Canada, Nhật Bản, Úc và các nước Bắc Âu là 13,9 tương
đương một người có trung bình 13,9 răng bị sâu, trám hay mất, chỉ số này ở Mỹ cao
Đáng chú ý trong điều tra gần đây của Trịnh Đình Hải [9] tỷ lệ sâu răng ở
người Việt Nam trưởng thành cao tới 87,5%. Nhìn chung ở tất cả các nhóm tuổi đều
có bệnh nhân sâu răng và chỉ số DMFT gia tăng theo tuổi. Với người 45 tuổi trở lên
có 89,7% người bị sâu răng và trung bình mỗi người có 8,93 răng bị sâu. Trong số
8,93 răng sâu có 6,64 răng bị mất, chiếm tỷ lệ 74,36%. Tỷ lệ này cho thấy việc
chăm sóc điều trị để bảo tồn được răng ở nước ta còn yếu kém. Cũng theo nghiên
cứu của tác giả tỷ lệ sâu răng ở nam và nữ người Việt Nam trưởng thành không
khác nhau, nhưng lại rất khác nhau về tỷ lệ sâu răng giữa hai vùng thành thị và nông
thôn. Người sống ở thành thị có tỷ lệ sâu răng và chỉ số DMFT cao hơn so với
6
người sống ở nông thôn. Trong cả 7 vùng địa lý của Việt Nam, tỷ lệ sâu răng đều ở
mức cao, trong đó 3 vùng địa lý là vùng Duyên hải Nam Trung bộ, vùng Đông Bắc
Nam Bộ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long có chỉ số DMFT ở nhóm tuổi trên 45 ở
mức trên 10, tức là mỗi người có trung bình trên 10 răng bị sâu hoặc bị mất do sâu.
Tỷ lệ các răng đã bị mất do không được điều trị bảo tồn gia tăng theo tuổi từ
18,31% ở tuổi 18 lên đến 74,36% ở người từ 45 tuổi trở lên.
Tổ chức Y tế thế giới, Liên đoàn Nha khoa Quốc tế đã quan tâm đến vấn đề
dự phòng sâu răng và tuyên bố ủng hộ nguyên tắc phòng bệnh hơn chữa bệnh và từ
đó liên tục nghiên cứu, tìm kiếm các biện pháp phòng bệnh sâu răng. Tổ chức Y tế
thế giới đưa ra mục tiêu cho toàn cầu, phấn đấu đến năm 2010 chỉ số DMFT dưới
1,0 [158]. Tại Việt Nam với chương trình nha học đường, chúng ta hy vọng mục
tiêu đến năm 2010 đạt được các chỉ tiêu: ở lứa tuổi 5-6 có 50% không bị sâu răng, ở
độ tuổi 18 có 85% người giữ được toàn bộ răng, từ 35-44 tuổi giảm 50% số người
không còn răng và trên 65 tuổi giảm 25% số người không còn răng với số lượng
răng trên 20 chiếc tương đương là 75 và 50% [37, 38].
1.1.3. Cơ chế gây sâu răng
Răng có cấu tạo dọc gồm 3 lớp: men răng, ngà răng và tuỷ răng [12]. Men
răng là lớp ngoài cùng rắn chắc nhất. Men răng bao gồm chủ yếu các tinh thể canxi
phosphate dài và mảnh, xếp sát cạnh nhau theo một trật tự nhất định. Men răng rất
Hình 1.2. Bệnh sâu răng và các yếu tố liên quan Sâu răng
A: theo Keyes [112] ; B: theo White và tập thể [197]
Trước năm 1970, để giải thích căn bệnh sâu răng, người ta chú ý nhiều đến
vai trò của đường và vi khuẩn S. mutans và đưa ra ra sơ đồ của Keyes [112]. Theo
sơ đồ này, việc phòng tránh bệnh sâu răng chỉ tập trung vào việc ăn hạn chế chất
đường, tiến hành vệ sinh kỹ răng miệng (hình 1.2A). Năm 1976, White và tập thể
[197] giải thích cơ chế bệnh học của sâu răng bằng việc thay vòng tròn chất đường
trong sơ đồ của Keyes bằng vòng tròn chất nền, đề cao vai trò bảo vệ của nước bọt
và vai trò của fluo. Trong sơ đồ của White và tập thể (hình 1.2B) cho thấy có nhiều
yếu tố tác động, hạn chế quá trình phân huỷ khoáng, tăng cường quá trình tái
khoáng và có tác dụng bảo vệ răng không bị sâu như nước bọt, các ion F
-
, Ca
2+v.v R¨ng
§ - êng
Vi khuÈn
pH, dßng ch¶y n-í c bät
A
B
N- í c bät
Vi khuÈn
§ - êng
là có hình cầu (cầu khuẩn), hình que (trực khuẩn) hay hình xoắn (xoắn khuẩn).
Trên răng, các vi khuẩn và sản phẩm của chúng cùng với những mảnh vụn
thức ăn tạo thành mảng bám răng. Sự hình thành mảng bám răng gồm 3 giai đoạn
chính: giai đoạn đầu vi khuẩn được vận chuyển đến bề mặt của răng và bám vào
9
răng nhờ lực hút tĩnh điện yếu; giai đoạn tiếp theo là sự hình thành các liên kết
không thuận nghịch được tạo ra nhờ sự tương tác phân tử giữa tế bào vi khuẩn và
các thụ thể trên bề mặt răng và giai đoạn cuối là sự hình thành mảng bám răng làm
tăng quá trình tương tác giữa các tế bào [34, 114, 117, 198].
Mảng bám răng sơ cấp tạo thành từ các vi khuẩn Gram (+) như
Streptococcus mutans và Actinomyces filamentous. Một thời gian ngắn sau khi đánh
răng, lớp màng mỏng (bản chất là màng protein từ nước bọt) tạo thành trên bề mặt
răng. Streptococcus mutans sử dụng các protein vỏ của mình để gắn vào lớp màng
mới hình thành, đây là quá trình gắn không cần sucrose. Sau đó, Streptococcus
mutans sử dụng sucrose để tổng hợp glucan không tan nhờ enzyme glucosyl
transferase để bám dính vào lớp màng mỏng trên răng. Sự sinh trưởng, trao đổi chất
của các vi sinh vật thế hệ đầu tiên làm thay đổi điều kiện môi trường (pH, nguồn
thức ăn v.v ) trên mảng bám răng sơ cấp, tạo điều kiện cho các loài vi sinh vật
khác định cư, phát triển trên mảng bám sơ cấp và hình thành nên mảng bám răng
thứ cấp. Trên mảng bám răng có khoảng 500 loài vi khuẩn khác nhau với trên 300
loài đã được định loại tên chính xác [198].
Các vi khuẩn trên mảng bám răng đều có chung các đặc điểm là có khả năng
sinh axit, chịu axit và sản xuất polysaccharide ngoại bào cũng như nội bào [200].
Các vi khuẩn trên mảng bám răng có khả năng đề kháng với các tác nhân kháng
khuẩn cao hơn so với các vi khuẩn tự do có thể lên tới 1000 lần. Những vi khuẩn
chủ yếu có mặt trong mảng bám răng là lactobacillus và Streptococcus sanguis
chiếm 70% số loài phân lập được [29, 117]. Một số vi khuẩn trên mảng bám răng là
trung tính hay có ích, trong khi số khác là có hại nếu số lượng của chúng không
kiểm soát được như Streptococcus mutans và các loài khác gần gũi có ảnh hưởng
1924. Theo khoá phân loại của Bergey [99], các loài thuộc chi Streptococcus là
những vi khuẩn Gram (+), sống kị khí và sinh mủ, tế bào hình cầu hoặc hình trứng,
đường kính từ 0,5 đến 2 m (hình 1.3), tồn tại dạng cặp hoặc chuỗi khi sinh trưởng
trên môi trường lỏng. Streptococcus cần môi trường giàu dinh dưỡng để sinh
trưởng.
Các loài thuộc chi Streptococcus đường miệng sử dụng quá trình lên men tạo
ra sản phẩm chủ yếu là axit lactic và giải phóng năng lượng. Streptococcus gồm các
vi khuẩn không có hoạt tính catalase, chúng thường tấn công hồng cầu và làm cho
hồng cầu đổi thành màu lục nhạt. Nhiệt độ sinh trưởng tối ưu của các loài vi khuẩn
11
đường miệng trong đó có S. mutans là 37
o
C và sự sinh trưởng bị giới hạn trong
khoảng nhiệt độ từ 25
o
C đến 45
o
C [64, 65]. Streptococcus tạo nên quần thể chính
trong khoang miệng với các loài khác nhau, định cư trong các ổ sinh thái khác nhau.
Do đó việc phân lập, phân loại, nhận biết giữa các nhóm vi khuẩn đường miệng với
các nhóm vi khuẩn khác trong khoang miệng gặp nhiều khó khăn [65, 99].
Hình 1.3. Vi khuẩn Streptococcus mutans [209]
Do sự phá hủy từng phần của các hồng cầu xung quanh khuẩn lạc nên nhóm
vi khuẩn đường miệng còn được gọi là viridans Streptococcus. Tuy nhiên một số
loài được phân loại là viridans Streptococcus lại không được phát hiện ở trong
khoang miệng. Theo sự phân loại hiện nay [65, 100, 101], dựa trên các đặc điểm
hóa học, kiểu di truyền và đặc biệt là kết quả lai ADN-ADN, phân tích trình tự
ARNr 16S các vi khuẩn Streptococcus đường miệng được chia vào các nhóm:
Người, loài gặm nhấm
Streptococcus macacae
h
Khỉ
Streptococcus downei
h
Khỉ
Thuộc nhóm mutans, loài phổ biến nhất được phân lập từ mảng bám răng của
người là S. mutans (kiểu huyết thanh là c, e và f). Tế bào vi khuẩn S. mutans có
đường kính khoảng 0,5 đến 0,75 m, có dạng cặp, chuỗi ngắn hay trung bình và
không có vỏ bao quanh. Trong điều kiện axit của thức ăn và trên môi trường rắn,
chúng có thể tạo dạng tế bào hình que dài từ 1,5 đến 3 m. Loài phổ biến thứ 2
phân lập được từ những vùng răng sâu ở người thuộc nhóm mutans là
Streptococcus. sobrinus (d, g). Tế bào vi khuẩn Streptococcus sobrinus có đường
kính khoảng 0,5 m tồn tại dưới dạng cặp hoặc chuỗi. Loài vi khuẩn này cũng liên
quan đến bệnh sâu răng ở người nhưng chúng chưa được nghiên cứu kỹ như S.
mutans. Tế bào của Streptococcus rattus, Streptococcus ferus và Streptococcus
cricetus cũng có đường kính khoảng 0,5 m, xuất hiện dạng cặp hay chuỗi [64, 65,
88, 196]. Theo hệ thống phát sinh loài Streptococcus ferus vẫn chưa có vị trí chính
thức, tuy nhiên bằng việc giải trình tự ARNr 16S cũng như các số liệu khác hiện
nay Streptococcus ferus được xếp vào nhóm mutans Streptococci [196].
Mutans streptococci được tìm thấy trong miệng của tất cả các quần thể thu
mẫu, qua đó chỉ ra rằng các loài vi khuẩn này có sự phân bố toàn cầu. Trong mỗi
quần thể thu mẫu, có thể tìm thấy những người mang số lượng rất lớn các loài vi
khuẩn này trong khi một số khác chỉ có số lượng vi khuẩn trung bình và thực tế là
vẫn có những người mang số lượng rất thấp hay không có những loài vi khuẩn này
[129, 135].
13
và tỷ lệ giữa glucan không tan và glucan tan cao cũng cao hơn. Glucan được tổng