ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TR
ẦN THANH THẢN
TÓM TẮT
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC
VÀ CẢNH QUAN KHU VỰC VỊNH VÂN PHONG
PHỤC VỤ ỨNG CỨU SỰ CỐ TRÀN DẦU
CHUYÊN NGÀNH: SINH THÁI HọC
MÃ SỐ: 60.42.60NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. LÊ XUÂN CẢNH
HÀ NỘI - 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TRẦN THANH THẢN
TÓM TẮT
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC
VÀ CẢNH QUAN KHU VỰC VỊNH VÂN PHONG
PHỤC VỤ ỨNG CỨU SỰ CỐ TRÀN DẦU
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.60
Hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Lê Xuân Cảnh
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn họp tại
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội,
thời gian 14h30’ ngày 18 tháng 01 năm 2012.
Chủ tịch Hội đồng: PGS.TS. Nguyễn Xuân Huấn
1.3. Tổng quan về sự cố tràn dầu trên biển, tác động của dầu đến môi trường, sinh
thái và các nghiên cứu phục vụ ứng phó, ứng cứu sự cố tràn dầu 15
1.3.1. Sự cố tràn dầu và lan truyền, biến đổi của dầu trên biển 15
1.3.2.
Các tác động của dầu tràn đến sinh vật và HST biển 17
1.3.3. S
ự cố tràn dầu ở các vùng biển Việt Nam những năm gần đây 19
1.3.4. Các nghiên c
ứu phục vụ ứng phó, ứng cứu sự cố tràn dầu ở Việt Nam 21
1.4. Tổng quan về khu vực vịnh Vân Phong và các nghiên cứu trong khu vực 22
1.4.1. Tổng quan về khu vực vịnh Vân Phong 22
1.4.2. Các nghiên c
ứu liên quan đến khu vực vịnh Vân Phong 23
CHƯƠNG 2 KHU VỰC, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1. Khu v
ực nghiên cứu và nội dung nghiên cứu 25
2.1.1. Khu vực nghiên cứu 25
2.1.2. N
ội dung nghiên cứu 26
ii
2.2. Phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1. Các phương pháp nghiên cứu truyền thống 26
2.2.2.
Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý 27
2.2.3.
Phương pháp đánh giá nhạy cảm với dầu tràn và lập bản đồ nhạy cảm
môi trường với dầu tr
àn 28
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
3.1. Các nhân t
PH
Ụ LỤC
iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CQ : Cảnh quan
ĐDSH
: Đa dạng sinh học
ĐH.KHTN
: Đại học Khoa học Tự nhiên
ĐH.QGHN : Đại học Quốc gia Hà Nội
HST : Hệ sinh thái
KTXH : Kinh tế - xã hội
NXB : Nhà xuất bản
NTTS : Nuôi trồng thủy sản
NOAA : National Oceanic and Atmospheric Administration
(C
ục Quản lý Đại dương và Khí quyển Quốc gia, Mỹ)
SEMLA : Strengthening Environmental Management and Land
Administration (Chương trình nâng cao năng lực quản lý đất
đai và môi trường)
RNM : Rừng ngập mặn
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các loại đường bờ và xếp loại nhạy cảm đường bờ 31
B
ảng 2.2 Các nhóm sinh vật, sinh cảnh nhạy cảm với dầu và xếp loại nhạy cảm 32
B
ảng 2.3 Các nhóm tài nguyên nhân tạo, cơ sở KTXH và xếp loại nhạy cảm 33
B
ảng 3.1 Các bến cảng đã và đang xây dựng trong khu vực vịnh Vân Phong 45
Hình 2.3 B
ản đồ nhạy cảm tràn dầu khu vực ven biển phía Nam 34
Hình 3.1 C
ơ sở dữ liệu địa hình đáy vịnh Vân Phong 35
Hình 3.2 Mô ph
ỏng dòng chảy tổng hợp lúc 20h00’ ngày 01/3/2007 42
Hình 3.3 Nuôi tôm Hùm
ở Vũng Ké trong Đầm Môn 43
Hình 3.4 Tàu Kuwait 82.000 t
ấn đang sang mạn dầu trên vịnh Vân Phong 45
Hình 3.5 B
ản đồ quy hoạch cảng trung chuyển công-tơ-nơ quốc tế và khu kinh tế
tổng hợp Vân Phong 49
Hình 3.6 HST r
ừng thưa và thảm cây bụi trên núi thấp 51
Hình 3.7 HST trên c
ồn cát và dải cát ven bờ ở bán đảo Hòn Gốm 52
Hình 3.8 HST qu
ần cư ven biển ở khu vực xã Ninh Thủy 52
Hình 3.9 HST bãi cát ven b
ờ ở vịnh Vân Phong 54
Hình 3.10 HST nuôi tr
ồng thủy sản ở vịnh Vân Phong 54
Hình 3.11 HST r
ạn san hô và bản đồ phân bố san hô ở vịnh Vân Phong 55
Hình 3.12 R
ừng ngập mặn ven biển ở vịnh Vân Phong 57
Hình 3.13 C
ỏ biển và sơ đồ phân bố thảm cỏ biển ở vịnh Vân Phong 59
Hình 3.14 H
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Khu vực vịnh Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa nằm trong vùng ven biển Nam
Trung Bộ, Việt Nam. Vịnh có điều kiện tự nhiên khá đa dạng, tạo nên các hệ sinh
thái (HST) có mức độ đa dạng sinh học (ĐDSH) cao như: HST rạn san hô, HST
thảm cỏ biển, HST rừng ngập mặn… với nhiều loài sinh vật có giá trị kinh tế và
nhi
ều cảnh quan (CQ) ven biển hấp dẫn. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Vân
Phong có nhiều thuận lợi để quy hoạch phát triển cảng nước sâu tầm cỡ quốc tế.
Hiện tại, khu vực vịnh Vân Phong đang diễn ra các hoạt động kinh tế - xã hội
(KTXH) đa dạng với tần suất cao như: Hoạt động xuất nhập khẩu, trung chuyển
xăng dầu không bến, hoạt động h
àng hải, cảng biển, kho vận, công nghiệp đóng tàu,
d
ịch vụ hậu cần cảng biển, du lịch, nghỉ dưỡng, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản.
Vân Phong đã được các nhà khoa học đánh giá là vùng ven biển có tiềm năng phát
triển kinh tế tổng hợp, hay một vùng biển “vàng” của Việt Nam. Năm 2010, Vân
Phong
được phê duyệt quy hoạch phát triển thành khu kinh tế tổng hợp đa ngành, đa
lĩnh vực, trong đó cảng trung chuyển công-tơ-nơ quốc tế giữ vai trò chủ đạo kết hợp
với phát triển du lịch, dịch vụ, công nghiệp, nuôi trồng thủy sản và nhiều ngành
kinh t
ế biển khác [13] [34] [47].
S
ự phát triển năng động với nhiều loại hình công nghiệp, dịch vụ, hàng hải và
nh
ất là hoạt động công nghiệp lọc hóa dầu, hoạt động thương mại và dịch vụ hậu
cần ngành dầu khí đang và sẽ diễn ra ở khu vực vịnh Vân Phong tiềm ẩn nguy cơ
xảy ra sự cố tràn dầu cao, đe dọa đến trạng thái cân bằng và bền vững của các HST
ở Vân Phong và vùng biển lân cận. Vân Phong được xếp vào nhóm những khu vực
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát
Bước đầu đánh giá mức độ đa dạng sinh học và hiện trạng cảnh quan khu vực
vịnh Vân Phong với mục tiêu góp phần ứng cứu sự cố tràn dầu. Đồng thời, thông
qua đề t
ài nghiên cứu này, học viên có thể từng bước học hỏi và nâng cao được các
k
ỹ năng nghiên cứu khoa học của mình.
-
Mục tiêu cụ thể
Thu thập được cơ sở dữ liệu về hiện trạng ĐDSH và cảnh quan ở khu vực
vịnh Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa.
Phân tích, đánh giá về các nhân tố thành tạo cảnh quan ở khu vực vịnh
Vân Phong.
3
Phân tích, đánh giá, xác định mức độ nhạy cảm với dầu tràn của các loại
cảnh quan ở khu vực vịnh Vân Phong, lập được bản đồ nhạy cảm môi trường với
dầu tràn khu vực vịnh Vân Phong.
Ngoài ra, đề tài cũng mong muốn góp phần hoàn thiện phương pháp luận
và cơ sở khoa học
khi ứng dụng phương pháp lập bản đồ nhạy cảm môi trường với
dầu tràn của Cục Quản lý Đại dương và Khí quyển Quốc gia, Mỹ (NOAA) đã xây
d
ựng vào điều kiện Việt Nam.
Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu của đề tài, luận văn tiến hành nghiên cứu các nội
dung sau:
Nghiên cứu đa dạng về thành phần loài và đa dạng HST trong khu vực
vịnh Vân Phong. Trong đó, bước đầu nghiên cứu một số nhóm thủy sinh vật nhạy
cảm với dầu tràn có giá trị kinh tế và bảo tồn và đã có thông tin.
Hiện trạng đa dạng sinh học ở khu vực vịnh Vân Phong gồm có: đa dạng
hệ sinh thái và đa dạng thành phần loài động vật, thực vật.
Cấu trúc sinh thái cảnh quan khu vực vịnh Vân Phong gồm có các nội
dung về: Chỉ tiêu phân hạng cảnh quan; cấu trúc và sắp xếp hệ thống các cảnh quan
ở khu vực vịnh Vân Phong; đặc điểm của các loại
cảnh quan ở khu vực vịnh
Vân Phong.
Phân vùng độ nhạy cảm môi trường với dầu tràn khu vực vịnh Vân Phong
bao gồm: Chỉ số nhạy cảm môi trường với dầu tràn của khu vực vịnh Vân Phong;
Phân chia mức độ nhạy cảm với dầu tràn của các loại cảnh quan trong khu vực vịnh
Vân Phong và lập bản đồ nhạy cảm môi trường với tràn dầu khu vực vịnh
Vân Phong.
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nghiên cứu về cảnh quan và hướng tiếp cận sinh thái cảnh quan
1.1.1. Các nghiên cứu về sinh thái học và HST
Sinh thái học là một khoa học cơ bản trong sinh học, nghiên cứu các mối quan
hệ thống nhất giữa sinh vật với môi trường. Như Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học
Liên Xô, X.X. Chvartxh (1975) đ
ã viết “Sinh thái học là khoa học về đời sống của
tự nhiên. Nếu sinh thái học đã xuất hiện cách đây hơn 100 năm như một khoa học
về mối tương tác giữa cơ thể và môi trường thì ngày nay nó trở thành một khoa học
về cấu trúc của tự nhiên, khoa học về cái mà sự sống bao phủ trên hành tinh đang
hoạt động trong sự toàn vẹn của mình” [42].
Sinh thái h
ọc đã trở thành một chuyên ngành khoa học giúp chúng ta ngày
càng hi
ểu biết sâu về bản chất của sự sống trong mối tương tác với các yếu tố môi
trường
ật ưu thế và quá trình vô sinh đặc thù để tạo thành cấu trúc CQ ở các tỉ lệ khác
nhau [45].
Các nghiên c
ứu sinh thái học và HST cho thấy nhược điểm của tiếp cận
nghiên cứu HST là không xác định được thứ bậc về không gian của lãnh thổ nghiên
c
ứu, do đó có thể bao trùm lên không gian bất kỳ từ HST từ nhỏ tới lớn như: HST
hang động, HST rừng, HST vũ trụ. Đó chính là lý do mà các nhà sinh thái học rất
quan tâm đến cách tiếp cận khô
ng gian của địa lý học với hệ thống phân vị chặt chẽ,
có ý nghĩa thực tiễn rất cao trong nghiên cứu sinh thái học. Bên cạnh đó, các nhà
c
ảnh quan học đã “sinh thái hóa cảnh quan” để định lượng hóa các chỉ tiêu về trao
đổi vật chất, trao đổi năng lượng tron
g cảnh quan. Sự hội tụ của cảnh quan và sinh
thái h
ọc đã thể hiện quy luật nhân quả của tự nhiên, của sự tương tác giữa giới vô cơ
và giới hữu cơ [18] [32] [60].
1.1.2.
Các nghiên cứu cảnh quan học
Khái niệm cảnh quan được hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ 19, đầu thế
kỷ 20 ở Nga, Đức, Mỹ và Pháp Các công trình nghiên cứu về cảnh quan đầu tiên
ph
ải kể đến công trình của V.V. Docutraev (1846 - 1903) và L.C. Berg. Tác giả
V.V. Docutraev có quan điểm nghiên cứu phải được thực hiện trong sự thống nhất,
toàn vẹn không thể tách rời của tất cả các điều kiện tự nhiên và ông cũng cho rằng
thổ nhưỡng là hàm số của tất cả các yếu tố địa lý khác như: kiểu nham thạch, khí
hậu, sinh vật Năm 1931, L.C. Berg đã phát triển quan điểm trên và đưa ra khái
niệm “cảnh quan địa lý là một tập hợp hay một nhóm các sự vật, hiện tượng, trong
đó đặc biệt là địa h
phân chia phải dựa trên các chỉ tiêu đặc trưng và có cấu trúc hình thái riêng từ trên
xu
ống hoặc từ dưới lên. Tuy nhiên, theo quan niệm này cần xét đến sự phân hóa của
các đơn vị cảnh quan đều chịu ảnh hưởng của quy luật địa đới và phi địa đới (A. G.
Ixatrenco, 1965). Quan niệm này thường thấy ở các công trình của đa số các tác giả
nghiên cứu lập bản đồ cảnh quan phục vụ thực tiễn với tỉ lệ lớn và trung bình cho
các c
ảnh quan bị biến đổi bởi các hoạt động của con người như các tác giả:
A. G. Ixatrenco, Gerenchuc, A.M. Marinhich, N.A. Gvozdexki [18].
Theo quan ni
ệm kiểu loại, đã có nhiều hệ thống phân loại cảnh quan của các
tác giả trong và ngoài nước được đề xuất. Như hệ thống phân vị cảnh quan của
Nhikolaev (1979) gồm các bậc như sau: thống - hệ - phụ hệ - nhóm - kiểu - phụ kiểu
- hạng - phụ hạng - loại - phụ loại. Phạm Quang Anh (1985) đã đưa ra hệ thống
8
phân vị cảnh quan dựa trên cơ sở hệ thống phân vị cảnh quan trên và có điều chỉnh
phù hợp với điều kiện Việt Nam gồm 5 bậc: hệ - phụ hệ - lớp - phụ lớp - kiểu [5].
Vi
ện Địa lý đã công bố cuốn sách “Nghiên cứu xây dựng bản đồ cảnh quan
các tỉ lệ trên lãnh thổ Việt Nam” năm 1993. Trong đó, hệ thống phân loại cảnh quan
Việt Nam gồm các cấp: Hệ - phụ hệ - lớp - phụ lớp - kiểu - phụ kiểu - hạng - loại
cảnh quan, các đơn vị cấu trúc hình thái cảnh quan: Dạng địa lý - nhóm dạng - diện
địa lý
- nhóm diện. Mỗi cấp đều có nội dung và chỉ tiêu phân chia cụ thể nhưng các
cấp “phụ” không nhất thiết phải phân chia trong mọi trường hợp [35].
Ph
ạm Hoàng Hải và cộng sự (1997) đã xây dựng bảng “Hệ thống các chỉ tiêu
phân lo
ại cảnh quan cảnh quan áp dụng cho bản đồ cảnh quan Việt Nam tỉ lệ
1:1.000.000”, hệ thống này bao gồm các cấp: Hệ thống cảnh quan - phụ hệ thống
kỳ lãnh thổ khác [32].
C
ảnh quan học đã cung cấp lý luận về tính hệ thống và tính thứ bậc chặt chẽ
trong cấu trúc môi trường của sinh vật, là cơ sở hình thành hướng tiếp cận sinh thái
cảnh quan của trường phái Nga Xô Viết cũ và được các nhà cảnh quan học Việt
Nam kế thừa, phát triển.
1.1.3. Tiếp cận sinh thái cảnh quan
Hướng nghiên cứu địa sinh thái hay sinh thái cảnh quan đã phát triển mạnh ở
Cộng hòa Liên bang Đức và một số nước Bắc Âu từ những năm 60 của thế kỷ 20.
H
ội sinh thái cảnh quan Quốc tế đã được thành lập năm 1982. Hiện nay, sinh thái
c
ảnh quan đã phát triển thành một bộ môn khoa học có đối tượng nghiên cứu rõ
ràng. Theo Rister và nnk (1984) “sinh thái c
ảnh quan phát triển và động lực của tính
không đồng nhất không gian, các mối tương tác và trao đổi theo thời gian v
à không
gian thông qua các c
ảnh quan không đồng nhất, các ảnh hưởng của sự phân dị
không gian đến các quá tr
ình sinh học và phi sinh học, quản lý tính phân dị không
gian đó”
[57] [60].
Sinh thái c
ảnh quan là một hướng nghiên cứu liên ngành và tổng hợp hình
thành trên cơ sở kết hợp các phương pháp nghiên cứu định lượng của sinh thái học
và tính tổng hợp, tính trật tự, tính phân cấp của cảnh quan học nhằm đáp ứng nhu
cầu của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường - sinh thái. Sinh
thái h
ọc cảnh quan ra đời với mục đích xúc tiến mối liên kết giữa các nhà khoa học
ọc. Các nhà địa lý đi từ vô cơ dần tiến tới giới hữu cơ và cuối cùng đã thấy
sinh vật đóng vai trò chủ đạo trong các HST tự nhiên và thấy được HST hoạt động
tốt nhất là HST tự nhiên có năng suất sinh học cao nhất. Do vậy, cải tạo các hệ sinh
thái t
ự nhiên phải bắt đầu bằng việc cải tạo khu hệ thực vật. Khi tìm hiểu về giới
sinh vật không thể không đề cập đến môi trường vô sinh như đất, nước, không khí.
Cả hai đều phát sinh, phát triển trong mối quan hệ tương tác và thống nhất với nhau
thành một hệ toàn diện [61].
T
ừ các quan niệm nghiên cứu trên và căn cứ vào mục tiêu của đề tài luận văn
chọn quan niệm kiểu loại trong nghiên cứu cảnh quan khu vực vịnh Vân Phong,
trong đó đơn vị cơ sở được sử dụng là loại cảnh quan (loại CQ). Trong cấu trúc của
mỗi loại CQ tính sinh thái được phân tích từ sự kết hợp của các nhân tố môi trường
và quần xã sinh vật, thuật ngữ “cảnh quan” và “sinh thái cảnh quan” được xem như
đồng nhất trong luận văn
.
11
1.2. ĐDSH, nghiên cứu về ĐDSH biển và bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam
1.2.1. Tổng quan về ĐDSH
Theo khái niệm của Công ước Đa dạng sinh học (1992) thì “Đa dạng sinh học
là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong các HST trên cạn,
ở biển v
à các HST dưới nước khác và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên”[9].
T
ừ khái niệm này có thể tiếp cận ĐDSH ở ba cấp độ: cấp độ phân tử (đa dạng di
truyền), cấp độ cơ thể (đa dạng loài), cấp độ HST (đa dạng HST). Một số công bố
gần đây cho thấy ĐDSH bao gồm cả đa dạng văn hóa, là sự thể hiện của xã hội loài
người, một thành viên của thế giới sinh vật và đồng thời là một nhân tố quan trọng
trong các HST. Đa dạng sinh học được coi là sản phẩm của sự tương tác giữa hai hệ
thống tự nhiên và xã hội. Đa dạng sinh học có vai trò quan trọng đối với việc duy trì
vật là 11.400 loài; Lưỡng cư 162 loài; Chim 840 loài; Côn trùng 7.750 loài [18].
Đa dạng HST: Trên lãnh thổ Việt Nam có nhiều kiểu HST. Phần lớn các HST
nh
ạy cảm, do tính mềm dẻo sinh thái cao nên các HST luôn ở trạng thái hoạt động
mạnh và thường rất nhạy cảm với các tác động từ bên ngoài của thiên nhiên và của
con người.
Thành phần cấu thành các HST rất giàu có và cấu trúc quần xã phức tạp,
các chuỗi thức ăn, lưới thức ăn với nhiều khâu nối tiếp nhau, phân nhánh phức tạp.
Nhiều bậc dinh dưỡng từ sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ và sinh vật phân hủy.
Đa dạng
HST còn thể hiện ở mối quan hệ giữa các yếu tố vật lý, sinh học, mối quan
hệ giữa các cá thể cùng loài và giữa các loài với nhau.
1.2.2. Tổng quan về nghiên cứu ĐDSH, sinh thái biển ở Việt Nam
Trong những năm 50 - 60, các hoạt động khoa học ở nước ta chủ yếu còn phụ
thuộc vào sự tham gia của lực lượng khoa học, hỗ trợ trang thiết bị của nước ngoài,
như các chương trình hợp tác với Liên Xô, Trung Quốc. Từ những năm 80, hoạt
động điều tra nghi
ên cứu biển ở nước ta đã được các nhà khoa học Việt Nam tự lực
tổ chức và thực hiện. Giai đoạn trước năm 2000, những nghiên cứu về môi trường
biển chủ yếu đề cập đến một số vùng biển ven bờ, các cửa sông lớn dưới tác động
của thiên nhiên như bão lũ gây ra hiện tượng sạt lở hoặc ô nhiễm do sông thải ra.
Kết quả nghiên cứu về cơ bản ta đã khái quát được tính ĐDSH của các HST ở các
vùng bi
ển gần bờ [22].
Nh
ững năm gần đây các nghiên cứu về vùng biển xa bờ đã có những bước tiến
mới, hoạt động nghiên cứu biển đã có sự mở rộng ra vùng biển sâu, vùng đảo xa bờ.
Từ cuối những năm 90, đã có những đề tài, dự án khảo sát, điều tra đánh giá nguồn
lợi cá nổi lớn xa bờ. Kết quả đã nghiên cứu thống kê, hoàn thiện việc đánh giá
13
kh
ảo “Biển Đông” gồm 4 tập và bộ “Atlas biển Việt Nam và vùng kế cận” gồm 60
b
ản đồ tỉ lệ từ 1:1.000.000 đến 1:2.000.000, cùng với 8 tuyển tập kết quả nghiên
c
ứu của chương trình Khoa học công nghệ biển KC-09/01-05, KC-09/06-10 [22].
14
1.2.3. Bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam
Bảo tồn ĐDSH nhằm bảo vệ và gìn giữ các loài, nguồn gen có trong mỗi loài,
các sinh c
ảnh, cảnh quan thông qua bảo tồn các HST và khai thác hợp lý các nguồn
tài nguyên sinh vật. Công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam được tiến hành khá sớm
với các hình thức bảo tồn nguyên vị (in-situ) và bảo tồn ngoại vị (ex-situ). Theo
Qu
ỹ sinh vật hoang dã thế giới (WWF) hai hình thức bảo tồn này như sau [36]:
Bảo tồn nguyên vị: là quá trình duy trì trạng thái tự nhiên của các đối tượng
bảo tồn ở mức độ tối đa tốt nhất. Nơi bảo tồn nguyên vị tốt nhất chính là các khu
b
ảo vệ.
Bảo tồn ngoại vị: là việc duy trì một loài bằng hình thức nuôi nhốt loài đang
bị đe dọa và sau đó thả chúng về tự nhiên. Nơi bảo tồn ngoại vị là các vườn nuôi
dưỡng động vật, thực vật, các thảo cầm v
iên,
B
ảo tồn nguyên vị là hình thức bảo vệ thực tế nhất, hiệu quả nhất. Trong môi
trường tự nhi
ên một loài, một đối tượng mới có thể phát triển thông qua các quá
trình tự nhiên, hoàn thành các vai trò sinh thái của chúng cũng như duy trì tính thích
ứng của chúng [36]. Bảo tồn nguyên vị là hình thức bảo tồn ĐDSH chủ yếu ở Việt
Nam trong thời gian qua bằng việc thành lập các khu bảo tồn và đề xuất các biện
ết định đối với lan truyền ô nhiễm dầu.
Quá trình biến dạng cơ học, vật lý do dầu tự loang trên mặt nước xảy ra do
tác động củ
a trọng lực, lực căng mặt ngoài và lực ma sát giữa dầu với môi trường
(mặt nước và không khí). Quá trình này xảy ra trong khoảng thời gian từ 1 đến 15
giờ đầu tiên sau khi xảy ra sự cố và diễn ra đồng thời với quá trình trên.
Quá trình bay hơi của dầu: Quá trình này diễn ra chủ yếu diễn ra đối với
các thành phần dầu nhẹ, dễ bay hơi.
Hình 1.1 Các quá trình lý, hóa và sinh học diễn ra khi xảy ra
sự cố tràn dầu trên biển [65]
16
Quá trình biến tính hóa học: Từ khi sự cố vừa xảy ra, dầu tương tác hóa
học với các chất có sẵn trong nước dưới sự xúc tác của nhiệt và ánh sáng mặt trời.
Thành phần hóa học của dầu thay đổi, khối lượng hạt dầu gốc cũng bị thay đổi theo.
Quá trình nhũ tương hóa: Dầu phân tán và xâm nhập vào các lớp nước do
tác
động của sóng sau đó ngậm nước (nhũ tương hóa). Do ngậm nước, tính chất hóa
lý của hạt dầu thay đổi, dẫn đến sự thay đổi tốc độ lan truyền, loang và bay hơi của
dầu.
Quá trình lắng đọng: Dầu cũng có thể bám vào các vùng đất, bãi cát, các
v
ật rắn, các hạt sa bồi và thảm thực vật ven bờ. Một số thành phần nặng của dầu có
thể lắng đọng xuống nền đáy.
Quá trình tương tác với HST và các sinh vật biển: Sự tương tác này biểu
hiện qua hai mặt: một mặt, một lượng dầu sẽ bị các vi sinh vật phân hủy thành các
ch
ất vô hại khác; mặt khác, nhiều sinh vật bị dầu tấn công có thể bị chết tức thì do
suy gi
ảm ôxy hòa tan trong nước, bị nhiễm độc dầu, hoặc bị suy giảm phát triển,
ho
4
và làm gia tăng giá trị pH của môi trường nước.
Dầu thẩm thấu và làm nhiễu loạn các hoạt động sống của sinh vật. Dầu
gây nhiễu loạn áp suất thẩm thấu giữa màng tế bào sinh vật với môi trường; Làm
m
ất khả năng điều tiết áp suất trong cơ thể sinh vật (làm mất khả năng chống thấm
nước của
lông chim, thú sống ở biển).
Dầu gây ra độc tính tiềm tàng trong HST khi bị phân huỷ, lắng đọng và
tích lu
ỹ trong các lớp trầm tích của HST.
Những tác động của chất gây ô nhiễm là dầu mỏ lên sinh vật và các HST biển,
HST ven biển cũng có thể được phân biệt theo các phương thức trực tiếp hay gián
tiếp như sau:
Tác động trực tiếp
Dầu gây ô nhiễm môi trường làm cá và nhiều loài sinh vật biển chết hàng
lo
ạt do thiếu hụt hàm lượng ôxy hoà tan trong nước. Dầu có thể làm trứng cá bị ung,
thối, giảm khả năng phát triển con non và số lượng loài. Đối với các sản phẩm thủy
sản dầu có thể bám vào bề mặt hoặc hấp thụ vào trong, làm giảm giá trị do có mùi.