Chuyên đề tốt nghiệp Trường
ĐHKTQD
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH
***
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài:
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
CHI NHÁNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Giáo viên hướng dẫn : TH.S NGUYỄN THỊ MINH QUẾ
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỊ HIÊN
Lớp : NGÂN HÀNG – K11
Mã sinh viên : LT110534
Tháng 1/2012
SV: Nguyễn Thị Hiên Khoa: Ngân hàng – Tài chính
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LỜI MỞ ĐẦU 1
B ng 4: K t qu kinh doanh c a NHCT Chi nhánh TP H N i t 2008 - 2010ả ế ả ủ à ộ ừ 31
Đơn vị: tỷ đồng 31
3.1. Nh ng thu n l i v khó kh n trong công tác tín d ngữ ậ ợ à ă ụ 39
2.1. Nhóm gi i pháp mang tính tr c ti pả ự ế 52
2.1.1 Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng 52
2.1.2 Tăng cường biện pháp đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng 54
2.1.3. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Công Thương
Chi nhánh Thành phố Hà Nội 56
2.1.4. Tiêu chuẩn hoá cán bộ, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ ngân hàng 57
2.2 Nhóm gi i pháp mang tính h trả ỗ ợ 58
2.2.1 Đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước phải ổn định trong từng
giai đoạn 58
26
2 Bảng 2: Tình hình cho vay
29
3 Bảng 3: Tình hình kinh doanh đối ngoại
31
4 Bảng 4: Kết quả kinh doanh
32
5 Bảng 5: Tình hình dư nợ từ năm 2008 – 2010
34
6 Bảng 6: Doanh số thu nợ
35
7 Bảng 7: Tình hình nợ quá hạn
37
8 Bảng 8: Vòng quay vốn tín dụng
38
9 Bảng 9: Hiệu suất sử dụng vốn
39
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, hệ thống Ngân hàng Việt Nam ngày càng khẳng định
tầm quan trọng và có những đóng góp nhất định đối với công cuộc xây dựng đất
nước, xây dựng cơ sở hạ tầng quốc gia. Vốn Ngân hàng đã góp phần thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả hoạt động cho các doanh nghiệp
cũng như đem lại những đóng góp tích cực cho ngân sách Nhà nước.
Đóng vai trò là một Ngân hàng thương mại lớn, giữ vai trò quan trọng, trụ
cột của ngành Ngân hàng Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Công
Thương đã không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ và sản phẩm của mình, góp
phần vào sự phát triển của ngành Ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng quyết định chủ yếu tới sự phát triển của
nền kinh tế đất nước. Chính vì vậy, đánh giá chất lượng tín dụng của các Ngân
hàng thương mại đang là một vấn đề bức thiết được đặt lên hàng đầu
hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tùy từng bối cảnh cụ thể, nhưng ta có thể hiểu
nó một cách đơn giản như sau: “ Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc
hàng hoá) giữa bên cho vay Ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi
vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển
giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả
thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên
cho vay khi đến hạn thanh toán”
1.2. Phân loại tín dụng Ngân hàng
Phân loại tín dụng có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quy trình cho
vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng
1.2.1. Căn cứ thời hạn tín dụng
Theo cách phân loại này, tín dụng được chia thành ba loại như sau:
- Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng và được sử
dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của doanh nghiệp và phục
vụ các nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng.
Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải
tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất và xây dựng các công trình nhỏ, có
thời hạn thu hồi vốn nhanh. Bên cạnh đầu tư cho tài chính cố định, tín dụng trung
hạn còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên cho các doanh nghiệp
đặc biệt là các doanh nghiệp mới thành lập
- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm và có thời hạn tối
đa có thể lên tới 20 – 30 năm, được sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu
tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng (đường xá, bến
cảng, sân bay ), cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn
Nghiệp vụ truyền thống của các Ngân hàng thương mại là tín dụng ngắn hạn.
Từ những năm 70 trở lại đây, các Ngân hàng thương mại đã chuyển sang kinh
doanh tổng hợp và một trong những nội dung đổi mới đó là nâng cao tỷ trọng tín
dụng trung và dài hạn trong tổng số dư nợ của Ngân hàng
1.2.2. Căn cứ đối tượng tín dụng
1.2.6. Căn cứ phạm vi lãnh thổ
Tín dụng được chia thành hai loại:
- Tín dụng nội địa : Là quan hệ tín dụng phát sinh trong lãnh thổ quốc gia.
- Tín dụng quốc tế :Là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các quốc gia với nhau
hoặc giữa một quốc gia với một tổ chức tài chính - tín dụng quốc tế
1.3. Vai trò và chức năng của tín dụng Ngân hàng
1.3.1. Vai trò
1.3.1.1. Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển
Tín dụng ngân hàng tham gia vào toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông hàng
hoá. Để đảm bảo sản xuất ổn định cần thiết phải có vốn để dự trữ nguyên, nhiên
vật liệu, thành phẩm,bù đắp các chi phí sản xuất Đồng thời để không ngừng
nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, tìm kiếm lợi thế trong cạnh
tranh các doanh nghiệp buộc phải thường xuyên cải tiến máy móc thiết bị, đổi
mới công nghệ, đặc biệt trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão
như hiện nay. Tất cả những công việc đó sẽ không thể thực hiện được nếu như
thiếu sự hỗ trợ của ngân hàng thông qua hoạt động tín dụng. Trong lĩnh vực lưu
thông, để đảm bảo đưa được hàng hoá từ người sản xuất đến ngưòi tiêu dùng, các
doanh nghiệp cần có vốn để dự trữ khối lượng hàng hoá cần thiết, trang trải các
chi phí lưu thông Hơn nữa, để mở rộng sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp
cần phải dự trữ khối lượng hàng hoá lớn về chủng loại phong phú, nhưng thông
thường doanh nghiệp không có nhiều vốn lưu động. Vì vậy, để tồn tại và phát
triển, các doanh nghiệp cần đến sự hỗ trợ của tín dụng ngân hàng
1.3.1.2. Tín dụng là công cụ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước
Vai trò này được thực hiện trên các phương diện:
- Nhà nước thường xuyên sử dụng tín dụng làm phương tiện cân đối thu chi
ngân sách nhà nước, góp phần đảm bảo các nguồn lực tài chính để thực thi các
chính sách kinh tế - xã hội
- Thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều kiện và lãi suất tín dụng,
nhà nước có thể thay đổi được quy mô tín dụng hoặc chuyển hướng vận động của
nguồn tín dụng. Nhờ đó mà có thể thúc đẩy hoặc hạn chế sự phát triển của một số
- Thông qua việc vay vốn để đầu tư sản xuất, các hộ nông dân, cá nhân sử
dụng tín dụng có thể nâng cao lợi nhuận để cải thiện, nâng cao mức sống của
mình
1.3.2. Chức năng
1.3.2.1. Tập trung và phân phối lại vốn nhàn rỗi trên nguyên tắc hoàn trả
Ngân hàng thương mại tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và
cho vay đối với các đối tượng có nhu cầu, nó giúp các doanh nghiệp nói riêng và
cả nền kinh tế nói chung hoạt động một cách liên tục không ngắt quãng và là một
kênh truyền dẫn vốn có hiệu quả. Hoạt động tín dụng góp phần đẩy nhanh quá
trình tái sản xuất mở rộng, đầu tư phát triển nền kinh tế, thúc đẩy lưu thông hàng
hoá, đẩy nhanh chu chuyển tiền.
1.3.2.2. Kiểm soát các hoạt động kinh tế bằng tiền
Từ chức năng dẫn chuyển và phân phối vốn tiền tệ, tín dụng ngân hàng có thể
kiểm soát được mọi hoạt động kinh tế trong quá trình sử dụng vốn vay. Thông
qua việc sử dụng vốn vay mà Ngân hàng có thể đánh giá tình hình sản xuất tiêu
thụ sản phẩm, cũng như khả năng chi trả của khách hàng thông qua sự biến động
của các số dư trên các tài khoản. Trong quá trình cho vay, với mục tiêu "Tối đa
hoá lợi nhuận và tối thiểu hoá rủi ro", Ngân hàng phải thường xuyên phân tích
khả năng tài chính của khách hàng, thường xuyên giám sát, kiểm tra hoạt động
sản xuất kinh doanh của họ để có thể điều chỉnh, tác động kịp thời khi cần thiết.
Xét trên tầm vĩ mô, Ngân hàng có khả năng tổng hợp được tình hình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp đồng thời đóng góp những ý kiến để điều chỉnh kịp thời khi
có sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế.
Đối với khách hàng thì với nguyên tắc của tín dụng là phải luôn trả cả lãi và
gốc đã thúc đẩy bên sử dụng tín dụng phải sử dụng thật tiết kiệm và sử dụng có
hiệu quả.
2. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHẤT
LƯỢNG TÍN DỤNG
2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng
Trong bất cứ nền cạnh tranh nào, doanh nghiệp muốn đứng vững trong hoạt
năng thu hút khách hàng, tác động tốt đến nền kinh tế…)
Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích nghi
của Ngân hàng thương mại với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện
sức mạnh của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại
Chất lượng tín dụng xác định qua nhiều yếu tố thu hút được khách hàng tốt,
thủ tục đơn giản thuận tiện, mức độ an toàn của vốn tín dụng, chi phí tổng thể về
lãi suất, chi phí nghiệp vụ…
Chất lượng tín dụng không tự nhiên mà có, nó là kết quả của một quy trình
kết hợp hoạt động giữa con người trong một tổ chức, giữa các tổ chức với nhau
vì mục đích ngân hàng phải hiểu và thực hiện tốt quy trình quản lý chất lượng
Vậy, để có chất lượng tín dụng thì hoạt động tín dụng phải có hiệu quả và
quan hệ tín dụng phải được thiết lập trên cơ sở tin cậy và uy tín trong hoạt động.
Hay nói cách khác, chất lượng tín dụng tỷ lệ thuận với hiệu quả và tin cậy trong
hoạt động tín dụng. Hiểu đúng bản chất, chất lượng tín dụng phân tích và đánh
giá đúng chất lượng tín dụng hiện tại cũng như chính xác các nguyên nhân của
những hạn chế chất lượng sẽ giúp cho ngân hàng tìm được biện pháp quản lý
thích hợp để có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường hoạt động sôi nổi và
có tính cạnh tranh gay gắt
2.2. Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
2.2.1. Chỉ tiêu tổng dư nợ và kết cấu dư nợ
Tổng dư nợ là một chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền ngân hàng cấp cho nền
kinh tế tại một thời điểm. Tổng dư nợ bao gồm dư nợ cho vay ngắn hạn, trung
hạn, dài hạn. Tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động của ngân hàng yếu kém, không
có khả năng mở rộng, khả năng tiếp thị của ngân hàng kém, trình độ cán bộ công
nhân viên .
Kết cấu dư nợ phản ánh tỷ trọng của các loại dư nợ trong tổng dư nợ. Phân
tích kết cấu dư nợ sẽ giúp ngân hàng biết được gân hàng cần đẩy mạnh cho vay
theo loại hình nào để cân đối với thực lực của ngân hàng. Kết cấu dư nợ khi so với
kết cấu nguồn huy động sẽ cho biết rủi ro của loại hình cho vay nào là nhiều nhất.
2.2.2. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn
những thu hồi được gốc mà còn có lãi, đảm bảo được độ an toàn của nguồn vốn
cho vay
Lãi từ hoạt động tín dụng
Thu nhập từ hoạt động tín dụng =
Tổng thu nhập
Ta thấy rằng nếu ngân hàng thương mại chỉ chú trọng vào việc giảm và duy
trì một tỷ lệ nợ quá hạn thấp mà không tăng được thu nhập từ hoạt động tín dụng
thì tỷ lệ nợ quá hạn thấp cũng không có ý nghĩa. Chất lượng tín dụng được nâng
cao chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó góp phần nâng cao khả năng sinh lời của ngân
hàng.
2.2.5. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn
Phân tích cơ cấu cho vay trong tổng nguồn vốn huy động là việc xem xét
đánh giá tỷ trọng cho vay đã phù hợp với khả năng đáp ứng của bản thân ngân
hàng cũng như đòi hỏi về vốn của nền kinh tế chưa. Trên cơ sở đó, các ngân hàng
thương mại có thể biết được khả năng mở rộng tín dụng của mình. Từ đó, có thể
quyết định quy mô, tỷ trọng đầu tư vào các lĩnh vực một cách hợp lý để vừa đảm
bảo an toàn vốn cho vay, vừa có thể thu lại lợi nhuận cao nhất có thể
Chỉ tiêu này có thể được biểu thị bằng công thức:
Tổng dư nợ
Hiệu suất sử dụng vốn =
Tổng nguồn vốn huy động
2.2.6. Chỉ tiêu cơ cấu đầu tư
Một trong các chỉ tiêu khi xem xét và đánh giá chất lượng tín dụng của Ngân
hàng thương mại là chỉ tiêu cơ cấu vốn đầu tư. Việc phân tích cơ cấu vốn đầu tư
chính là việc xem xét đánh giá tỷ trọng cho vay đã phù hợp với khả năng đáp ứng
của bản thân ngân hàng cũng như đòi hỏi về vốn của nền kinh tế chưa. Trên cơ
sở đó, các ngân hàng có thể quyết định quy mô, tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực một
cách hợp lý để vừa đảm bảo an toàn cho vay, vừa để thu hút lợi nhuận cao nhất
Căn cứ vào chỉ tiêu hàng quý, hàng năm, các Ngân hàng thương mại tự phân
tích đánh giá để xác định mức độ an toàn và chất lượng tín dụng của hệ thống. Qua
quản lý chặt chẽ sẽ gây nguy cơ lạm phát gia tăng và tác động xấu đến hoạt động
tín dụng trong nước
Thời kỳ kinh tế khó khăn trên tất cả các lĩnh vực có tác động không nhỏ tới
hoạt động tín dụng. Nhu cầu tín dụng giảm trong thời kỳ này, vốn tín dụng đã
thực hiện cũng không phát huy được hiệu quả, việc trả nợ cho Ngân hàng không
khả thi. Ngược lại, trong thời kỳ kinh tế phát triển thì sản xuất kinh doanh được
mở rộng, nhu cầu vốn tín dụng tăng, rủi ro tín dụng ở mức độ thấp. Tuy nhiên
trong thực tế cũng có nhiều trường hợp chạy đua sản xuất kinh doanh, nạn đầu cơ
tích trữ làm cho nhu cầu vốn tín dụng tăng lên quá cao, có nhiều khoản tín dụng
được thực hiện nhưng những khoản này cũng khó có thể hoàn trả khi mà nền
kinh tế phát triển không có kế hoạch, rơi vào khủng hoảng kinh tế
Chính sách lãi suất cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của Ngân hàng.
Trong nền kinh tế thị trường lãi suất luôn biến động. Những năm gần đây, Việt
Nam đã khống chế được tình hình lạm phát song lãi suất lại giảm liên tục. Trong
những trường hợp lãi suất cho vay giảm song lãi suất tiền gửi lại giữ nguyên làm
cho chênh lệch đầu ra và đầu vào giảm dẫn đến chi phí nguồn vốn lớn chi phí sử
dụng vốn không bù đắp nổi. Đồng thời, mức độ phù hợp giữa lãi suất Ngân hàng
với mức độ lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ
trong nền kinh tế quốc dân cũng ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng tín dụng. Theo
Mac: “Lợi tức chỉ là một phần của lợi nhuận mà nhà tư bản công nghiệp trả cho
nhà tư bản kinh doanh tiền tệ mà giới hạn tối đa của lợi tức là bản thân lợi
nhuận” (Tư bản trang 93 tập 2 NXB Sự thật – 1962). Như vậy, lợi tức của Ngân
hàng thu được từ hoạt động tín dụng bị giới hạn bởi hoạt động của doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh từ vốn vay của Ngân hàng. Vì vậy với mức lãi suất ngân
hàng cao hơn mức lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được từ hoạt động sản xuất
kinh doanh thì các doanh nghiệp không đủ khả năng trả nợ hết cho Ngân hàng,
ảnh hưởng đến quá trình sản xuất giản đơn ra sản xuất mở rộng của doanh nghiệp
nói riêng và tình hình phát triển kinh tế nói chung. Do đó, hoạt động tín dụng lúc
này không là đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất phát triển và theo đó chất lượng tín
dụng cũng bị ảnh hưởng.
phù hợp thì mọi hoạt động của nền kinh tế không thể thực hiện một cách trôi
chảy được. Với vai trò đảm bảo cho việc chuyển đổi của nền kinh tế thị trường từ
tự phát kém sang nền kinh tế văn minh, hoàn hảo thì pháp luật tạo môi trường
cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành thuận tiện và đạt hiệu quả kinh
tế cao, là cơ sở giải quyết khi có tranh chấp xảy ra. Vì vậy, nhân tố pháp lý có vị
trí quan trọng đối với hoạt động Ngân hàng nói chung và với chất lượng tín dụng
nói riêng. Khi các chủ thể tham gia vào quan hệ tín dụng tuân thủ pháp luật một
cách nghiêm túc thì quan hệ tín dụng mới đem lại lợi ích cho cả hai phía và chất
lượng tín dụng mới được đảm bảo
3.2. Nhân tố chủ quan của Ngân hàng
Tổ chức và hoạt động của bản thân Ngân hàng có ảnh hưởng trực tiếp với
các khía cạnh khác nhau tới chất lượng tín dụng
3.2.1. Công tác tổ chức của Ngân hàng
Tổ chức Ngân hàng phải sắp xếp một cách có khoa học, đảm bảo sự phối hợp
chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng ban trong từng Ngân hàng, trong toàn bộ hệ
thống Ngân hàng cũng như giữa Ngân hàng với các cơ quan khác như tài chính,
pháp lý sẽ tạo điều kiện đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng, giúp Ngân
hàng theo dõi, quản lý sát sao các khoản cho vay, các khoản huy động vốn. Đây
là cơ sở để tiến hành các nghiệp vụ tín dụng lành mạnh và quản lý có hiệu quả
các khoản vốn tín dụng. Vì vậy, công tác tổ chức của Ngân hàng đóng vai trò
quan trọng trong việc nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng
3.2.2. Chính sách tín dụng của Ngân hàng
Chính sách tín dụng của Ngân hàng là hệ thống các biện pháp liên quan đến
việc khuếch trương hoặc hạn chế tín dụng nhằm đạt được mục đích của Ngân
hàng trong từng thời kỳ
Trước hết, về quy mô tín dụng, nếu chính sách tín dụng của Ngân hàng bị
hạn chế thì quy mô bị thu hẹp, đó có thể là dấu hiệu cho thấy chất lượng tín dụng
không tốt. Các chính sách tín dụng còn có một loạt vấn đề như: Quy mô về điều
kiện, tiêu chuẩn tín dụng đối với khách hàng, các biện pháp đảm bảo tiền vay, lãi
suất, quy trình quản lý…
thủ tục cho vay )
+ Kiểm tra định kỳ do kiểm soát viên nội bộ thực hiện, báo cáo các trường
hợp ngoại lệ, những vi phạm chính sách, thủ tục, kiểm soát kế toán cả các nghiệp
vụ cho vay.
3.2.7. Trang thiết bị phục vụ cho Ngân hàng
Để có thể quản lý và theo dõi có hiệu quả hoạt động tín dụng , sông với việc
nâng cao chất lượng công tác hoạch định chính sách, công tác tổ chức quản lý
Ngân hàng, công tác nhân sự, quản lý quá tình cho vay,công tác thông tin, kiểm
soát nội bộ, cần chú ý tới các phương tiện cần thiết phục vụ cho quá trình quản lý
hoạt động tín dụng. Trang bị đầy đủ trang thiết bị tiên tiến phù hợp với khả năng
tài chính và phạm vi, quy mô hoạt động của ngân hàng sẽ giúp cho Ngân hàng
Như vậy: Để quản lý có hiệu quả chất lượng tín dụng cần có các tiêu chuẩn
quản lý để làm thước đo đánh giá mức độ chất lượng tín dụng đã đạt được. Chất
lượng tín dụng phải là kết quả của công tác quản lý của Ngân hàng đối với tình
hình khách hàng và hoạt động tín dụng của bản thân Ngân hàng
3.3. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng đối với các Ngân hàng
thương mại
3.3.1. Chất lượng tín dụng đối với nền sản xuất xã hội
Xuất hiện từ nền sản xuất hàng hóa, tín dụng đã góp phần thúc đẩy, tích tụ và
tập trung vốn. Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sản
xuất lưu thông hàng hóa ngày càng phát triển, tín dụng ngày càng được mở rộng
nhằm cung cấp them phương tiện giao dịch, đáp ứng nhu cầu giao dịch ngày
càng tăng trong xã hội. Trong điều kiện đó, tín dụng càng được quan tâm vì:
- Đảm bảo chất lượng tín dụng là điều kiện để Ngân hàng làm tốt vai trò
trung gian thanh toán: Khi chất lượng tín dụng được bảo đảm sẽ làm tăng vòng
quay vốn tín dụng, với mỗi số lượng tiền cũ có thể thực hiện số lần giao dịch lớn
hơn, tạo điều kiện tiết kiệm trong lưu thông, củng cố sức mua của đồng tiền
- Nâng cao chất lượng tín dụng sẽ làm giảm thiểu tiền thừa trong lưu thông,
điều hòa vốn trong nền kinh tế. Điều này không chỉ giải quyết quan hệ cung – cầu
về vốn mà còn tạo điều kiện mở rộng phạm vi thanh toán không dùng tiền mặt, từ
tình hình tài chính của Ngân hàng, tạo thế mạnh cho Ngân hàng trong quá trình
cạnh tranh.
Chất lượng tín dụng tạo thuận lợi cho sự tồn tại lâu dài của Ngân hàng, bởi vì
chất lượng tín dụng cho phép Ngân hàng có những khách hàng trung thành và
những khoản lợi nhuận bổ sung vốn đầu tư. Ngoài ra, chất lượng tín dụng củng
cố mối quan hệ xã hội của Ngân hàng, điều đó cũng có ý nghĩa là tạo được môi
trường thuận lợi nhất cho hoạt động Ngân hàng. Với những ưu thế trên, việc
củng cố và nâng cao chất lượng tín dụng củ NHTM là sự cần thiết khách quan vì
sự tồn tại và phát triển lâu dài của NHTM. Cũng chính vì vậy, chất lượng tín
dụng luôn luôn phải được cải tiến.
Tóm lại: Thông qua các ưu thế trên thì củng cố và nâng cao chất lượng tín
dụng của các Ngân hàng thương mại là sự cần thiết khách quan vì sự tồn tại và
phát triển lâu dài của các Ngân hàng thương mại. Vì vậy, chất lượng tín dụng
phải luôn được cải thiện
3.3.3. Các biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng của các Ngân hàng thương
mại trong nền kinh tế thị trường
Nâng cao chất lượng công tác tín dụng, giảm tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu. Mọi
khoản vay mới phải được thực hiện theo đúng các điều kiện pháp luật quy định.
Riêng đối với cho vay theo chỉ định của Chính phủ vừa phải thực hiện chính sách
ưu đãi, vừa phải đảm bảo điều kiện cho vay đặc biệt, đảm bảo thu hồi vốn và lãi
đúng hạn
Thực hiện phân loại nợ theo quy định hiện nay của Ngân hàng Nhà nước
trong đó đặc biệt chú ý đến nợ quá hạn, nợ xấu, rà soát lại hồ sơ, phân loại dư nợ
theo các nguyên nhân để từ đó đề ra các biện pháp xử lý kịp thời
Tính toán được đặc điểm chu chuyển vốn và nhu cầu của bên cho vay và
định kỳ trả nợ cho phù hợp với kết quả nguồn thu. Bất cứ món vay nào cũng phải
dựa trên cơ sở các nguồn thu để phân kỳ hạn nợ vào những thời gian thu hồi vốn
thích hợp
Tiến hành phân loại đội ngũ cán bộ tín dụng, có kế hoạch cụ thể để đào tạo,
trang bị them kiến thức pháp lý về nghiệp vụ tín dụng, nên ưu tiên bố trí những
dịch; 140 chi nhánh; 188 phòng giao dịch; 258 điểm giao dịch; 191 quỹ tiết kiệm;
742 máy rút tiền tự động (ATM); 02 Văn phòng đại diện; và 03 Công ty con bao
gồm Công ty cho thuê tài chính, Công ty TNHH Chứng khoán (VietinbankSC)
và Công ty Quản lý nợ và Khai thác tài sản; 03 đơn vị sự nghiệp bao gồm Trung
tâm thẻ, Trung tâm Công nghệ thông tin, Trường Đào tạo và Phát triển nguồn
nhân lực. Ngoài ra, VietinBank cũng góp vốn liên doanh vào Ngân hàng
Indovina và Công ty Liên doanh Bảo hiểm Châu Á Ngân Hàng Công Thương
Việt Nam (IAI); góp vốn vào 07 công ty trong đó có Công ty cổ phần Chuyển
mạch Tài chính quốc gia Việt Nam, Công ty cổ phần Xi măng Hà Tiên, Công ty
cổ phần cao su Phước Hòa, Ngân hàng thương mại cổ phần Gia Định, Ngân hàng
thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương v.v.
VietinBank hiện tại cú quan hệ đại lý với trên 800 Ngân hàng, định chế tài
chính tại trên 90 quốc gia, vùng lãnh thổ trên toàn thế giới. Vốn điều lệ của
VietinBank tại ngày 31/12/2007 là hơn 7.608 tỷ đồng, tổng tài sản lên tới
166.112 tỷ đồng, chiếm khoảng 10% tổng tài sản toàn ngành Ngân hàng. Do nhu
cầu phát triển, đến ngày 03/07/2009 ViettinBank tăng vốn điều lệ của Ngân hàng
lên thành 11.252.972.800.000 đồng Việt Nam
1.1.2. Thành tích nổi bật
Tăng trưởng nhanh, đáp ứng yêu cầu phục vụ tích cực có hiệu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và dân cư, khẳng định được vai trò một
Ngân hàng thương mại lớn, chủ lực ở Việt Nam. Mở rộng và phát triển các loại
hình sản phẩm dịch vụ mới, hội nhập tích cực với thị trường tài chính khu vực và
thế giới
Xây dựng, phát triển bộ máy tổ chức và mạng lưới kinh doanh lớn mạnh,
phát triển nguồn nhân lực để vận hành có hiệu quả hệ thống kinh doanh của Ngân
hàng Công Thương Việt Nam
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống các cơ chế, quy chế về nghiệp vụ và điều
hành quản lý nội bộ: mang tính thống nhất, đầy đủ, tiên tiến, đáp ứng yêu cầu
kinh doanh trong giai đoạn mới, đảm bảo an toàn, chất lượng, hiệu quả. Có thể kể
đến Bộ cẩm nang sổ tay tín dụng và 61 quy trình nghiệp vụ theo quy chuẩn khoa
Công Thương Việt Nam (Vietinbank). Từ một ngân hàng thương mại Nhà nước,
Vietinbank chính thức chuyển sang mô hình cổ phần và thực hiện niêm yết thành
công trên thị trường chứng khoán. Đó là bước chuyển mạnh và tạo đà cho quá
trình phát triển mới.
Ngày 25/12/2008, đợt phát hành cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO) của
Vietinbank được tổ chức thành công. Đợt IPO này thu hút sự chú ý đặc biệt của
công chúng đầu tư trong và ngoài nước
1.2. Ngân hàng TMCP Công Thương Chi nhánh Thành phố Hà Nội
1.2.1. Sơ lược về Ngân hàng Công Thương Chi nhánh TP Hà Nội
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh Thành phố Hà Nội
trước 01/07/2009 có tên là Sở giao dịch I, hoạt động trên địa bàn Thủ Đô, trung
tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của cả nước, nơi tụ hội của nhiều doanh nghiệp
lớn, nhiều tổ chức tài chính ngân hàng. Trong môi trường hoạt động đó, Ngân
hàng Công Thương Chi nhánh Thành phố Hà Nội có nhiều cơ hội để phát triển
song cũng phải đương đầu nhiều khó khăn thách thức. Hai mươi năm hoạt động,
khoảng thời gian chưa dài so với bề dày lịch sử của ngành, nhưng cũng đủ để
khẳng định Ngân hàng Công Thương Chi nhánh Thành phố Hà Nội đã tạo được
dấu ấn đậm nột bởi những thành quả to lớn đã đạt được và những đóng góp vào
sự phát triển của NHCT Việt Nam, của nền kinh tế thủ đô và của đất nước.
Tiền thân của Sở giao dịch I là Ngân hàng nghiệp vụ khu vực 1 Hà Nội, trực
thuộc Chi nhánh Ngân hàng Công Thương Thành phố Hà Nội. Năm 1988, nguồn
vốn huy động đạt 42 tỷ đồng và 37 tỷ đồng dư nợ cho vay, sản phẩm dịch vụ
ngân hàng nghèo nàn, đơn điệu chủ yếu là cho vay ngắn hạn và huy động tiết
kiệm. Từ tháng 12/1989 đến tháng 11/1992, Ngân hàng nghiệp vụ khu vực 1 Hà
Nội đổi tên thành Trung tâm giao dịch Ngân hàng Công Thương Hà Nội, nguồn
vốn huy động đã đạt 270 tỷ và dư nợ cho vay là 125 tỷ đồng, đây cũng là năm
Trung tâm giao dịch Ngân hàng Công Thương Hà Nội triển khai hoạt động kinh
doanh đối ngoại.
Ngày 24/3/1993, Tổng giám đốc Ngân hàng Công Thương Việt Nam ra
quyết định số 93/NHCT – TCCB chuyển hoạt động của chi nhánh Ngân hàng
Đơn vị
sự nghiệp
Công ty
trực thuộc
Sở giao dịch
Phòng giao
dịch
Quỹ
tiết kiệm
Chi nhánh
cấp 2
Phòng
giao dịch
Quỹ
tiết kiệm
Chi nhánh
phụ thuộc
Phòng
giao dịch
Quỹ
tiết kiệm