Luật Hôn Nhân và Gia Đình
MỤC LỤC
Danh mục tài liệu tham khảo
A- ĐẶT VẤN ĐỀ
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã
hội mới tốt”. Cũng chính từ quan điểm đó, Đảng và nhà nước ta đã quan tâm xây dựng
những chính sách phù hợp để mỗi gia đình trở thành một tế bào tốt, tạo tiền đề để đất
nước ngày một phát triển. Điều đó được thể hiện qua việc Quốc hội đã họp và thông qua
Luật hôn nhân và gia đình (Luật HN&GĐ) năm 1986 và sau đó đã được sửa đổi bổ sung
vào năm 2000. Luật HN&GĐ đã góp phần xây dựng, củng cố, bảo vệ chế độ hôn nhân
và gia đình phù hợp với hoàn cảnh của đất nước trong thời kỳ đó. Tuy nhiên, hiện nay,
do sự đổi mới của nền kinh tế đất nước, dưới sự hợp tác hội nhập giao lưu kinh tế giữa
các nước trên thế giới, đòi hỏi hệ thống pháp luật HN&GĐ ở nước ta cần phải được sửa
đổi, hoàn thiện cho phù hợp với quá trình phát triển của đất nước. Với lý do trên, em xin
chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình trong xu thế toàn cầu hóa”.
Do sự hiểu biết có hạn, trong bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong
được sự góp ý của các thầy cô.
B- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I- ẢNH HƯỞNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐỐI VỚI HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
CỦA VIỆT NAM
Toàn cầu hóa là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ ảnh hưởng, tác động
lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới,
làm nổi bật hàng loạt biến đổi có quan hệ lẫn nhau mà từ đó chúng có thể phát sinh một
loạt điều kiện mới.
Toàn cầu hoá tác động rất lớn đến sự phát triển của xã hội nước ta hiện nay, song nó
cũng đặt ra những thách thức vô cùng bức xúc và nan giải. Do chứa đựng nhiều loại giá
trị rất phức tạp, toàn cầu hoá đã và đang phá vỡ nhiều hình thức và nội dung trong lối
sống truyền thống Việt Nam. Thời nay do phong cách, lối sống ồn ào, gấp gáp chạy đua
với xu thế phát triển của xã hội đã tác động lên cả quan niệm "yêu nhanh, sống thoáng".
Học đòi phong cách “sống thoáng” như ở các nước phương Tây, nhiều nam nữ gặp
nhau, chỉ qua vài ba câu chuyện, thấy thích nhau là có thể dọn về ở cùng phòng với
những thành tựu lập pháp của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, đồng thời bổ sung
những chế định quan trọng phù hợp với giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000, vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế.
Ngoài ra, các văn bản hướng dẫn thi hành nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau và
nhiều khi các văn bản hướng dẫn thi hành cũng đã quá cũ và không còn phù hợp với
thực tiễn cuộc sống hiện nay. Do vậy, việc phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về
HN&GĐ nói chung và Luật HN&GĐ nói riêng là điều hoàn toàn cần thiết.
Qua gần 10 năm triển khai thực hiện Luật HN&GĐ 2000, ta nhận ra một điểm chưa
được hợp lý. Điều này do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan mang tới.
Thứ nhất, do pháp luật HN&GĐ chưa được hoàn thiện. Ở nhiều địa phương, vẫn
thường xuyên xảy ra những hành vi vi phạm pháp luật HN&GĐ ở nhiều dạng với
những mức độ khác nhau. Hiện tượng lừa dối, cướng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự
nguyện, tiến bộ vẫn còn xảy ra trong đời sống xã hội gây ra những hậu quả xấu cho
những quan hệ hôn nhân được xác lập. Hiện tượng tảo hôn vẫn xảy ra ở nhiều vùng
nông thôn, vùng sâu, vùng xa, hải đảo và các vùng dân tộc thiểu số. Việc tảo hôn đã dẫn
đến tình trạng sức khỏe của vợ, chồng, con không được đảm bảo, ảnh hưởng xấu tới
việc thực hiện nguyên tắc hôn nhân tiến bộ, tự nguyện,…
Thứ hai, nhiều quy định của Luật HN&GĐ còn mang tính nguyên tắc chung, khái
quát, có tính chất luật khung, thiếu cụ thể, nên khó thực hiện trên thực tiễn. Một số điều
luật chưa chặt chẽ dẫn tới nhiều cách hiểu và áp dụng không thống nhất của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền và dễ bị vận dụng tùy tiện, ảnh hưởng tới quyền lợi của công
Đại học Luật Hà Nội
2
Luật Hôn Nhân và Gia Đình
dân, gây bất ổn đối với quan hệ HN&GĐ. Một số quy định của Luật chưa phù hợp với
sự vận động thực tế của các quan hệ HN&GĐ. Có những quy định của Luật không được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn áp dụng nên không tránh khỏi có những
quan điểm khác nhau trong quá trình thực hiện và áp dụng.
Thứ ba, trong điều kiện phát triển của cơ chế thị trường, dưới sự tác động của
toàn cấu hóa, không tránh khỏi những ảnh hưởng tiêu cực đối với các quan hệ xã hội
nam. Mức quy định độ tuổi như vậy không hẳn hợp lý trong mọi trường hợp.
Theo em, cần phải hạ thấp độ tuổi được kết hôn và để nam nữ có độ tuổi kết
hôn như nhau. Vì: Việc đưa ra độ tuổi kết hôn là căn cứ trên sự phát triển về tâm sinh
lý, sức khoẻ và sự phát triển của nhận thức người đó. Trước đây, người ta cho rằng, sự
Đại học Luật Hà Nội
3
Luật Hôn Nhân và Gia Đình
phát triển tâm sinh lý và nhận thức của nữ thường sớm hơn so với nam. Vì vậy, tuổi kết
hôn của nữ ít hơn nam hai tuổi. Tuy nhiên, cuộc sống ngày nay đã khác trước rất nhiều.
Trẻ ngày nay được nuôi dưỡng đầy đủ về mặt dinh dưỡng nên sự phát triển cơ thể đang
có xu hướng sớm hơn trước đây, nhất là trẻ em ở thành phố. Bên cạnh đó là môi trường
giáo dục tri thức, nhận thức cho trẻ. Ngày nay, các bạn trẻ có nhiều điều kiện để hoàn
thiện tri thức, học hỏi nâng cao nhận thức từ nhiều kênh khác nhau. Và việc phát triển
này tương đối đồng đều giữa nam và nữ, chứ ít có chênh lệch rõ ràng như trước. Nam
giới lập gia đình ở độ tuổi 18, về mặt thể lực và sự phát triển tâm sinh lý, họ có thể gánh
vác được trách nhiệm gia đình.
Thứ hai, cần có những ngoại lệ về độ tuổi kết hôn:
Khác với nhiều quốc gia khác trên thế giới, pháp luật Việt Nam không quy định bất
kỳ ngoại lệ nào được phép kết hôn trước tuổi quy định. Ví dụ, ở Pháp tồn tại một “cơ
quan Biện lý”. Trong những trường hợp có lý do hợp lý và được cơ quan nêu trên chấp
nhận thì hôn nhân vẫn được pháp luật chấp nhận. Trường hợp có lý do hợp lý có thể là
người nữ đã có con… Giả sử với lý do trên, nếu pháp luật không thừa nhận hôn nhân do
chưa đủ tuổi, các đương sự sẽ vẫn chung sống như vợ chồng mà không cần đăng ký kết
hôn hoặc người nữ giới sẽ phải tự mình gánh vác hậu quả. Do đó, để tạo điều kiện, bảo
vệ quyền và lợi ích của các đương sự mà đặc biệt là phụ nữ và trẻ em trong trường hợp
này, việc pháp luật thừa nhận hôn nhân là cần thiết. Như vậy, trong tương lai phát triển
của pháp luật hôn nhân và gia đình, Việt Nam cũng nên học tập các quốc gia phát triển,
mềm dẻo hơn trong các quy định về độ tuổi, dự kiến các trường hợp đặc biệt cho phép
kết hôn dưới độ tuổi quy định.
Một vấn đề khác là vấn đề chênh lệch tuổi tác giữa các đương sự tham gia
lực hành vi dân sự.
1.3 Vấn đề về quan hệ họ hàng, huyết thống
Pháp luật hôn nhân gia đình cần phải bổ sung các quy định rõ ràng về việc kết hôn
giữa con riêng của chồng và con riêng của vợ, giữa những người con nuôi hoặc giữa
con đẻ với con nuôi trong một gia đình. Để khi trường hợp này xảy ra trên thực tế thì
người thi hành pháp luật sẽ không phải lúng túng, và người tuân thủ pháp luật có thể
biết được việc đó mình được làm hay không được làm.
1.4 Về vấn đề giới tính trong điều kiện kết hôn
Thứ nhất, pháp luật hôn nhân nên bổ sung các quy định rõ ràng về việc kết hôn
của những người chuyển đổi giới tính.
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, vấn đề xác định chính xác giới tính
của người đăng ký kết hôn thực chất khá phức tạp. Thực tế có thể xảy ra hai trường hợp
đặc biệt. Trường hợp thứ nhất: hai người đã đăng ký kết hôn hợp pháp nhưng sau đó
một người chuyển giới. Trường hợp thứ hai: hai người khi sinh ra cùng giới tính nhưng
một trong hai đã phẫu thuật chuyển giới. Lưu ý rằng hiện việc xác định lại giới tính với
người không có khuyết tật bẩm sinh về giới tính trong pháp luật hiện hành là không
được phép. Nói cách khác, pháp luật Việt Nam không công nhận xác định lại giới tính
với người đã chuyển giới. Như vậy thì trong hai trường hợp trên, sự phi lý ở chỗ hai
người cùng giới thực tế lại được pháp luật công nhận như vợ chồng còn hai người thực
tế khác giới thì lại bị cấm kết hôn. Điều đó đã cho thấy sự cứng nhắc và thiếu tính mềm
dẻo trong việc xác định giới tính của pháp luật Việt Nam. Vì vậy, nhằm phát huy và mở
rộng quyền tự do dân chủ, pháp luật Việt Nam nên có thêm quy chế xác định lại giới
tính cho những trường hợp người chuyển giới, tạo điều kiện cho những người này có
thể được kết hôn như những người bình thường khác.
Mặt khác, theo em thì pháp luật nên có quy định về việc kết hôn đồng giới.
Thực tế đã cho thấy, càng ngày càng nhiều những người đồng tính vẫn sống với
nhau một cách công khai. Nếu pháp luật không công nhận mối quan hệ giữa họ, thì
quyền lợi của họ sẽ được bảo đảm như thế nào?. Mặt khác, trên thế giới hiện nay đã có
rất nhiều nước cho phép hôn nhân đồng giới: ví dụ: Hà Lan đã thông qua Luật hôn nhân
đồng giới năm 2001; Bỉ đã thông qua Luật hôn nhân đồng giới năm 2003; Tây Ba Nha
cơ sở kế thừa quy định của Luật HN&GĐ năm 1986 thì nên bổ sung thêm quy định:
Việc chia tài sản chung căn cứ vào các nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn quy định tại
Điều 95 của Luật HN&GĐ.
Thứ ba, việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo quy định
của pháp luật không làm thay đổi quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng và quan hệ giữa
cha mẹ và con. Tuy nhiên, Luật chưa quy định rõ về trách nhiệm của vợ, chồng đối với
các tài sản được sử dụng vào mục đích chung của gia đình và sau khi khi hai bên chia
tài sản chung. Do đó, Luật cần bổ sung quy định về trách nhiệm của vợ chồng đối với
tài sản chi tiêu trong gia đình trên cơ sở thỏa thuận của vợ chồng bằng văn bản, nếu
không thỏa thuận được thì hai bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết, trên cở sở nhu cầu
thực tiễn của gia đình và khả năng kinh tế của các bên.
Sự độc lập về tài sản sau khi chia có thể dẫn tới một trong các bên lẩn tránh trách
nhiệm đối với gia đình, với việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên
Đại học Luật Hà Nội
6