Tr
Tr
ung tâm Ng
TruTri
hiên c
ứu
–
Tư v
ấn CTXH & PTCĐ
Dự án “Nâng cao năng lực cho Nhân viên Xã hội Cơ sở ở TP.HCM”
NĂNG ĐỘNG NHÓM
Chân thành cảm ơn Tổ chức Dịch vụ Gia đình và Cộng đồng
Quốc tế (CFSI) đã hỗ trợ Dự án “Nâng cao năng lực cho
NVCTXH cơ sở ở TP.HCM” ấn hành tập tài liệu này.
Trung tâm Nghiên cứu - Tư vấn CTXH & PTCĐ
Dự án “Nâng cao năng lực cho Nhân viên Xã hội Cơ sở ở TP.HCM”
GIỚI THIỆU
NGHỀ
CÔNG TÁC XÃ
HỘI
Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 1
11
I. Mục đích của CTXH
……… 11
1. Mục đích của CTXH
………………………………………………………………. 11
2. Mục tiêu của CTXH
……………………………………………………………… 12
3. Các nhiệm vụ của CTXH
………………………………………………………… 13
II. Chức năng của CTXH
…………………………………………………………… 13 Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 2 Gi
ới thiệu nghề Công tác X
ã h
ộiSDRC - CFSI
III. Những vai trò khác nhau của CTXH
……………………………………………… 15
IV. Thực hành CTXH
…………………………………………………………………. 16
1. Khái niệm thực hành CTXH
Trang 3 Gi
ới thiệu nghề Công tác X
ã h
ộiSDRC - CFSI
II. Các dịch vụ xã hội
…………………………………………………………………. 34
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
……………………………………………………… 35Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 4 Gi
ới thiệu nghề Công tác X
ã h
ộiSDRC - CFSI
Bài 1: GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Charles H, Zastrow, CTXH thực hành,Cole Publishing Company, 1999. Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 5 Gi
ới thiệu nghề Công tác X
ã h
ộiSDRC - CFSI
-
Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc
tế Montreal, Canada tháng 7/2000:
CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, việc giải quyết vấn
đề trong mối quan hệ con người, hướng tới sự tăng quyền lực và giải
phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng
thoải mái và dễ chịu. CTXH vận dụng các lý thuyết về hành vi con
người và các hệ thống xã hội. CTXH can thiệp ở những điểm tương
tác giữa con người và môi trường của họ.
CTXH dưới nhiều hình thức đa dạng của nó, nhằm vào vô số các tương tác
phức hợp giữa con người và các môi trường của họ. Sứ mạng của CTXH là tạo
năng lực giúp người dân phát triển tối đa tiềm năng, làm phong phú đời sống của
họ và ngăn ngừa các trục trặc. CTXH chuyên nghiệp tập trung vào quá trình giải
quyết các vấn đề và sự thay đổi. Do đó, nhân viên CTXH (hay được gọi là
NVXH-NVCTXH) là những tác nhân đổi mới trong xã hội, trong đời sống của
Dịch vụ xã hội
Phát triển XH
Ki
ến thức
cơ bản
Qui đi
ều
đạo đức
TIẾN TRÌNH
GIÚP ĐỠ
SỰ THAY ĐỔI
CÓ KẾ HOẠCH
THÚC ĐẨY
XÃ HỘI Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 6 Gi
ới thiệu nghề Công tác X
ã h
ộiSDRC - CFSI
của họ là mối quan tâm duy
nhất.
2. Phương
pháp
- Vận động sự đóng góp của
người khác rồi phân phối vật
chất quyên góp được hay hàng
- Giúp đối tượng “có vấn đề”
phát huy tiềm năng của
mình để tự giải quyết vấn
Giá tr
ị
CTXH
Nguyên t
ắc
CTXH
Các y
ếu tố
CTXH
Đánh giá
Kế hoạch
Thực hiện
Lượng giá
Kết thúc Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 7
3. Mối
quan hệ
giữa người
giúp đỡ và
được giúp
đỡ
- Lỏng lẻo, nhất thời, hoặc
không có mối quan hệ nào
- Từ trên xuống với thái độ ban
ơn
- Chủ động, quyết định, áp đặt,
làm thay
- Thụ động.
- Là mối quan hệ nghề
nghiệp chặt chẽ, mật thiết
- Bình đẳng, tôn trọng lẫn
nhau
- Tìm hiểu nhu cầu, tôn trọng
quyền tự quyết và phát huy
tiềm năng của đối tượng,
gây ý thức và “làm với” đối
tượng
- Chủ động tham gia giải
quyết vấn đề của chính
mình.
4. Kết quả
- Vấn đề khó khăn thực sự chỉ
được giải quyết tạm thời,
không triệt để. Đối tượng có
vấn đề xã hội tại cộng đồng - Đây là tiền thân của tổ chức cộng đồng và
cách tiếp cận lập kế hoạch xã hội.
Đồng thời với phong trào COS thành lập nhà ở định cư vào cuối
những năm 1800. Nhà ở định cư được sử dụng nhằm thay đổi kỹ
thuật được gọi là nhóm hành động xã hội, hoạt động xã hội, và tổ
chức cộng đồng.
Những NVCTXH đầu tiên được trả lương là thư ký điều hành của tổ
chức từ thiện xã hội vào cuối những năm 1800. Vào thời điểm đó COS
nhận được một số hợp đồng từ các thành phố, trong đó họ được yêu
cầu quản lý quỹ cứu trợ. Sau đó, họ thuê những người thư ký điều
hành tổ chức và đào tạo các "người viếng thăm thân thiện" và thiết lập
các chế độ sổ sách kế toán để giải trình các khoản tiền nhận được.
Đào tạo CTXH thực sự bắt đầu từ năm 1898 khi Tổ chức Từ thiện
đưa ra một khóa đào tạo mùa hè cho người làm công tác từ thiện.
-
Năm 1900, Gốc rễ của CTXH có thể được tìm thấy qua những trợ giúp
định cư và các hoạt động tổ chức từ thiện.
Năm 1917, Mary Richmond xuất bản cuốn Chẩn đoán Xã hội, lần đầu
tiên một cuốn sách mô tả lý thuyết và các phương pháp của công tác
xã hội. Cuốn sách tập trung vào làm thế nào để NVCTXH can thiệp
giúp đỡ cá nhân. Quy trình bao gồm: thu thập thông tin, chẩn đoán kế Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 9 Gi
ới thiệu nghề Công tác X
Thành lập Hiệp hội của tổ chức Cộng đồng và Nghiên cứu (1946)
Thành lập Nhóm Nghiên cứu NVCTXH(1949)
Thành lập Hội đồng CTXH (CSWE) sát nhập AASSWW và NASSA
(1952)
Soạn thảo ra Văn bản Chính sách CSWE đầu tiên (1952) Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 10 Gi
ới thiệu nghề Công tác X
ã h
ộiSDRC - CFSI
Thành lập Hiệp hội Quốc gia NVCTXH (NASW) (1955). Mục đích
của hiệp hội này là nâng cao điều kiện sống của xã hội và nâng cao
chất lượng và hiệu quả của các hoạt động xã hội.
Thành lập Hiệp hội Quốc gia NVCTXH Tây Ban Nha (1955)
Xuất bản cuốn sách Nghề CTXH đầu tiên (1956)
NASW chấp nhận Bộ luật Dân tộc thiểu số (1960)
Chiến tranh chống lại nạn đói tập trung chú ý vào những thay đổi xã
hội (những năm1960)
CSWE phát triển các tiêu chí cho chương trình BSW (1962)
Thành lập Hiệp hội quốc gia NVCTXH da đen (NABSW) (1968)
Thành lập Hiệp hội các NVCTXH Puetto Rico (NAPRSSW) (1968)
SDRC - CFSI
-
Sự phát triển phúc lợi xã hội và CTXH có thể được nguồn gốc từ những
thay đổi xảy ra trong một xã hội cụ thể tại một đất nước giàu mạnh cùng với
những tác động xảy ra trong mối quan hệ quốc tế của đất nước đó đối với
các nước khác.
-
CTXH với vai trò là một nghề gần đây. Đào tạo chính thức CTXH lần đầu
tiên được đưa ra trong trường đại học từ đầu những năm 1900, và NVXH
được sử dụng là vào khoảng năm 1900.
-
Năm 1901 trường CTXH chính quy đầu tiên được thành lập ở New York
(Mỹ) với thời gian học 8 tháng. Sau đó, có các trường khác ở Philadelphia,
Boston, Chicago.
-
Ở Châu Á, Ấn Độ là nước đầu tiên du nhập ngành CTXH khoa học, với
việc thành lập trường CTXH Bombay, năm 1939.
-
Trung Quốc cũng đã tiếp cận ngành CTXH khoa học từ tháng 4 năm 1950.
-
CTXH được công nhận là một nghề ở Vương quốc Anh, Canada, Hoa Kỳ,
Ấn Độ, và nhiều nước khác. Người ta ngày càng công nhận rằng người dân
ở mọi quốc gia luôn phụ thuộc lẫn nhau. Những khó khăn và vấn đề xảy ra
ở quốc gia này có thể sẽ ảnh hưởng đến các nước khác. Tại một số các
trường cao đẳng và đại học ở nhiều quốc gia có xuất hiện xu hướng "quốc tế
hóa" các chương trình giảng dạy. Học sinh, sinh viên cần có hiểu biết và
đánh giá cao về tính đa dạng mang tầm quốc tế. Người dân của tất cả các
quốc gia đều đang gặp các vấn đề về xã hội như nghèo đói, bệnh tâm thần,
tội phạm, ly dị, bạo lực gia đình, HIV/AIDS,.v.v. Một số vấn đề chỉ có thể
được giải quyết khi có các nỗ lực phối hợp mang tính quốc tế. NVXH trong
-
Năm 1968, Trường CTXH Quốc gia, thuộc Bộ Xã hội (cũ) được thành lập
với sự giúp đỡ của Liên Hiệp Quốc (UNICEF và UNDP), chương trình học
2 năm cho chức danh Cán sự xã hội và cấp Kiểm sự xã hội và 1 năm cho
phó kiểm sự xã hội. Bên cạnh đó là một số tổ chức như các tổ chức tôn
giáo, Hội Liên hiệp Phụ nữ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và một số cở
ban ngành như UBDSGĐ và TE, Hội chữ thập đỏ gửi người đi học các
khóa cán sự xã hội ngắn hạn và các khóa tập huấn về công tác Phát triển
cộng đồng.
-
Năm 1975, cả hai trường đều giải thể. Song vẫn còn một nhóm các nhà
khoa học tâm huyết đã cố gắng duy trì ngành học này tại một vài cơ sở
đào tạo ở TP.HCM.
-
Đến năm đến năm 1992, bộ môn CTXH mới được thành lập trở lại tại Khoa
Phụ nữ học thuộc trường Đại học Mở - Bán Công TP.HCM, với hệ cử nhân
và cao đẳng. Thành phần giảng viên từ các anh chị NVCTXH từ trường
CTXH và Caritas. CTXH được giảng dạy với đầy đủ các tiết về lý thuyết và
thực hành để sinh viên tốt nghiệp có thể trở thành một NVCTXH chuyên
nghiệp. Các tổ chức tôn giáo, Hội Liên hiệp Phụ nữ các tỉnh đồng bằng
sông Cửu Long và một số cơ sở ban ngành như Ủy ban Dân số Gia đình và
Trẻ em, Hội chữ thập đỏ gửi người đi học các khóa cán sự xã hội ngắn
hạn và các khóa tập huấn về công tác Phát triển cộng đồng.
-
Tháng 10 năm 2004, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành mã ngành với
chương trình khung đào tạo cử nhân ngành CTXH bậc đại học và bậc cao
đẳng tạo bước ngoặc căn bản trong sự phát triển của nghề CTXH ở Việt
Nam. Đến nay đã có 38 trường ĐH, cao đẳng đào tạo ngành CTXH.
Tháng 8/2010: Ban hành mã ngạch CTXH cùng với chức danh tiêu
chuẩn
Hội CTXH ở Việt Nam được thành lập và ra mắt vào 23/6/2011
Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ngành
CTXH đứng trước nhiều cơ hội và thách thức trong thời gian tới.Về cơ hội thì các
tổ chức xã hội quốc tế sẽ tăng cường đầu tư vào VN thông qua các dự án phát
triển và sẽ thúc đẩy sự phát triển của ngành CTXH, nhà nước quan tâm nhiều hơn
về ngành này nhất là chuyên nghiệp hóa nguồn nhân lực trong các hoạt động của
các đoàn thể xã hội và của ngành Lao động - Thương Binh Xã hội. Hợp tác quốc
tế sẽ mở rộng hơn trong nghiên cứu và đào tạo. Một hội đoàn chuyên nghiệp sẽ
hình thành để bảo vệ quyền lợi và tăng cường chuyên môn cho các thành viên của
mình.
-
Cơ hội Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 14 Gi
ới thiệu nghề Công tác X
ã h
ộiSDRC - CFSI
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước thể hiện trong các phương
hướng phát triển kinh tế - xã hội qua các thời kỳ, CTXH nói chung và
Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 15 Gi
ới thiệu nghề Công tác X
ã h
ộiSDRC - CFSI
ương đến cơ sở. Ngay trong ngành lao động thương binh và xã hội vẫn
còn nhiều người chưa từng nghe đến CTXH chuyên nghiệp. Điều này
cũng dễ hiểu vì trong các ngành nghề hiện hữu chưa có nghề làm
CTXH chuyên nghiệp. Vả lại theo suy nghĩ của xã hội từ trước đến
nay cho rằng làm CTXH là làm những việc công ích hoặc làm từ thiện
cứu trợ. Vì vậy, có người đồng hóa CTXH là từ thiện. Từ đó, xã hội
cho rằng ai cũng có thể làm CTXH được. Nhận thức này là phổ biến
trong đội ngũ những người xem CTXH là việc làm thêm khi nghỉ hưu,
hay công tác đoàn thể ở khu phố…
Sự nở rộ của việc mở ngành đào tạo CTXH ở các trường đại học cao
đẳng: Trước sự lớn mạnh của ngành CTXH ai cũng mừng nhưng đồng
thời lại lo âu về nhiều mặt về hiện tượng phát triển không cân đối này.
Ai cũng thấy được những thách thức trong quá trình đào tạo CTXH
phải đối mặt như về sách giáo khoa, tài liệu tham khảo; về thực tập và
cơ sở thực tập.
Công tác thực tập CTXH cho sinh viên: Thực tập là một phần không
thể thiếu trong công tác đào tạo công tác xã hội. Hiện nay, các trường
nâng cao trình độ chuyên môn cho NVCTXH để nghề CTXH được chuyên
môn hóa và phát triển bền vững.
-
Vai trò của tổ chức phi chính phủ quốc tế trong phát triển nghề
CTXHtại Việt Nam
Các tổ chức phi chính phủ Quốc tế (INGOs) góp phần thúc đẩy và phát triển
ngành CTXH - mở nhiều dự án phát triển, kéo theo nhiều chuyên gia tư vấn
về phương pháp và kỹ năng CTXH. Nhiều mô hình ứng dụng CTXH thành
công tạo tiền đề cho thực hành CTXH chuyên nghiệp.
Vai trò của các tổ chức này rất nổi trội trong hoạt động giảm nghèo,
phát triển cộng đồng, trợ giúp nhân đạo, cung cấp dịch vụ xã hội, nhất
là dịch vụ công và dịch vụ xã hội cơ bản, không vì mục tiêu lợi nhuận.
Những năm vừa qua các tổ chức phi chính phủ quốc tế có hoạt động
tại Việt nam liên tục tăng và hoạt động rất tích cực, đem lại hiệu quả
tích cực.
Số lượng các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hiện đang hoạt
động tại Việt Nam tăng từ 560 tổ chức năm 2004, tăng lên 750 tổ chức
năm 2009. Lĩnh vực hoạt động của các tổ chức phi chính phủ trên
cũng rất đa dạng và không phải tổ chức nào cũng có lĩnh vực hoạt
động trong ngành CTXH như: bảo vệ và chăm sóc trẻ em; y tế, chăm
sóc sức khỏe cho người khuyết tật, người nhiễm HIV; giới; xóa đói
giảm nghèo và Phát triển cộng đồng…
Tóm tắt ý chính
- CTXH là một ngành nghề ứng dụng thực hành và mang tính khoa học nhằm
thúc đẩy sự thay đổi xã hội qua việc góp phần giải quyết các vấn đề xã hội ở
những nhóm người dễ bị tổn thương.
- CTXH đã được hình thành ở Việt Nam từ trước 1975 và sau đó năm 1992
CTXH được khôi phục và phát triển ngày càng chính thống bởi sự cho phép
đào tạo (có mã ngành) và sự phát triển Đề án 32 (có mã nghề) là những nỗ lực
SDRC - CFSI
Bài 2: MỤC ĐÍCH, CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ CÔNG TÁC XÃ
HỘI
I. MỤC ĐÍCH CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI
1. Mục đích của công tác xã hội
-
Theo các định nghĩa, mục đích của CTXH là giúp đỡ các cá nhân, nhóm và
cộng đồng trong hoàn cảnh khó khăn có khả năng phục hồi các chức năng
xã hội và để tạo các điều kiện thuận lợi cho họ đạt được các mục đích cá
nhân (NASW, 1973), cụ thể là:
Giúp đối tượng đáp ứng được nhu cầu và tăng cường chất lượng cuộc
sống, thông qua việc tìm ra những tiềm năng, nội lực của họ, và tiềm
năng trong xã hội để giải quyết vấn đề của chính họ.
Giúp cho việc xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, hỗ trợ cho nhu
cầu của đối tượng.
Giúp xây dựng một cộng đồng biết đáp ứng nhu cầu của người dân.
-
CTXH ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới hướng tới các can thiệp xã hội vì
mục đích phát triển, bảo vệ, ngăn ngừa và/ hoặc chữa trị. Dựa vào các tài
liệu có sẵn, các phản hồi từ các đồng nghiệp trong quá trình tư vấn và các
bài bình luận về định nghĩa quốc tế của công tác xã hội, các mục đích chính
của CTXH (www.ifsw.org/p38000255.html, 4/4/2003) được xác định như
sau:
Tạo điều kiện thuận lợi hòa nhập cộng đồng cho những nhóm người bị
cách ly khỏi xã hội, bị xã hội xua đuổi, bị tước đoạt tài sản, dễ bị tổn
thương và đang trong nguy hiểm.
Xóa bỏ những rào cản, thách thức, không bình đẳng và không công
hoặc khôi phục sự tương tác lẫn nhau về lợi ích giữa các cá nhân và xã
hội nhằm nâng cao chất lượng sống của mỗi người. CTXH được biết
đến như một quan điểm tích hợp mà nó tập trung vào xem xét con
người trong bối cảnh của môi trường tự nhiên và xã hội của họ.
Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, NVCTXH củng cố chức năng con
người và nâng cao hiệu quả của các cấu trúc trong xã hội mà chúng
cung cấp các nguồn lực và cơ hội cho người dân. NVCTXH phấn đấu
giải phóng sức mạnh con người, do đó con người có thể hiện thực hóa
tiềm năng của mình và đóng góp vào nâng cao chất lượng sống của xã
hội (Dubois and Miley, 2005:10).
2. Mục tiêu của CTXH
- Các mục tiêu của nghề CTXH biến mục đích chung của CTXH thành các
phương hướng cụ thể hơn để hành động. Các mục tiêu này hướng
NVCTXH đến việc nâng cao ý thức của thân chủ về khả năng, kết nối họ
với các nguồn lực và khuyến khích sự thay đổi, làm cho các tổ chức và các Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 20 Gi
ới thiệu nghề Công tác X
ã h
ộiSDRC - CFSI
thể chế xã hội đáp ứng nhiều hơn đối với các nhu cầu của người dân
câu để câu cá”, phát huy tối đa
nguồn tiềm năng của đối tượng,
giúp họ thấy được trách nhiệm
tham gia và đóng góp tích cực cho
quá trình giải quyết vấn đề vì an
sinh của họ nói riêng và của toàn xã
hội nói chung
NVCTXH cần xác
định:
Làm gì?
Làm như thế nào
trong quá trình giúp
đỡ đối tượng giải
quyết vấn đề Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 21 Gi
ới thiệu nghề Công tác X
ã h
ộiSDRC - CFSI
-
Thúc đẩy chất lượng mạng lưới cung cấp dịch vụ xã hội. Mục tiêu này có
nghĩa là NVCTXH cần đảm bảo rằng hệ thống cung cấp các dịch vụ xã hội
mang tính nhân đạo và cung cấp các nguồn lực và dịch vụ cho con người.
Để hoàn thành mục tiêu này, NVCTXH tham gia và ủng hộ các kế hoạch
tập trung vào thân chủ, có hiệu lực và hiệu quả, kết hợp với các biện pháp
trách nhiệm giải trình.
-
Thúc đẩy sự công bằng xã hội thông qua phát triển chính sách xã hội. Đối
với việc phát triển các chính sách xã hội, NVCTXH nghiên cứu các vấn đề
xã hội để thực hiện chính sách, đưa ra những đề xuất các chính sách mới và
biện hộ để đừng áp dụng thực hiện các chính sách không hữu ích. Ngoài ra,
NVCTXH cụ thể hóa các chính sách chung thành các chương trình và các
dịch vụ cụ thể nhằm đáp ứng các nhu cầu của con người.
II. CHỨC NĂNG CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI
Như đã trình bày, CTXH là các hoạt động chuyên nghiệp nhằm giúp đỡ cá nhân,
nhóm và cộng đồng nâng cao năng lực đối với việc thực hiện các chức năng xã hội và
cải thiện cuộc sống. Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 23 Gi
ới thiệu nghề Công tác X
ã h
ội
quyết vấn đề xã hội.
Ví dụ: Cho vay vốn và hướng dẫn kỹ thuật sản xuất để đối tượng
thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu một cách bền vững.
Chức năng
Phòng ngừa
Chức năng Giải
quyết vấn đề
Chức năng
Phục hồi
Chức năng
Phát triển Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 24 Gi
ới thiệu nghề Công tác X
ã h
ộiSDRC - CFSI
THÂN CH
Ủ