quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình - Pdf 26

LỜI MỞ ĐẦU
Theo lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nhà nước điều chỉnh các quan hệ
xã hội trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thông qua các quy phạm pháp luật trong hệ
thống pháp luật nhà nước. Khác với các nước theo hệ thống pháp luật Anh Mỹ, các nước
theo hệ thống pháp luật lục địa (trong đó có Việt Nam) phân chia theo hệ thống pháp
luật quốc gia thành những ngành luật khác nhau dựa vào những nhóm quan hệ xã hội mà
nó điều chỉnh (đối tượng điều chỉnh) và phương thức mà nó tác động lên các quan hệ xã
hội đó (phương pháp điều chỉnh). Hệ thống pháp luật của Nhà nước ta được phân chia
thành nhiều ngành luật khác nhau, mỗi ngành luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội
đặc thù, luật hôn nhân gia đình cũng vậy. Quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình có
những nét đặc thù riêng, tìm hiểu nét đặc thù của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình
để thấy được vị trí, vai trò của các quy phạm pháp luật hôn nhân gia đình và thấy được ý
nghĩa đối với việc đạt mục đích mà Nhà nước đặt ra khi tác động vào quan hệ pháp luật
ấy.
NỘI DUNG
I. Khái quát chung về quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình
1. Khái niệm luật hôn nhân và gia đình
Hôn nhân và gia đình là các hiện tượng xã hội, phát sinh và phát triển cùng với sự
phát triển của xã hội loài người. Hôn nhân và gia đình là biểu hiện mối quan hệ xã hội
giữa vợ và chông, giữa cha mẹ, và con cái, giữa các thành viên trong gia đình.
Khái niệm “luật hôn nhân và gia đình” có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau: là
một ngành luật, một môn học hoặc một văn bản pháp luật cụ thể.
Luật hôn nhân và gia đình là một ngành luật. Khác với các nước theo hệ thống án
lệ (common law), các nước theo hệ thống pháp luật lục địa (civil law) phân chia hệ
thống pháp luật quốc gia thành những ngành luật khác nhau dựa vào các nhóm quan hệ
xã hội mà nó điều chỉnh (đối tượng) và phương thức mà nó tác động lên các quan hệ xã
hội đó (phương pháp điều chỉnh).
- Với ý nghĩa là một ngành luật trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, Luật
hôn nhân và gia đình Việt Nam là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban
hành nhằm điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình về nhân thân và về tài sản.
1

2
nhân và gia đình thể hiện trên nhiều khía cạnh. Để hiểu rõ đặc điểm của quan hệ pháp
luật hôn nhân và gia đình, cần phải đi làm rõ những nét đặc thù của chúng.
II. Tính đặc thù trong quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình
1. Tính đặc thù thể hiện trong các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật hôn nhân
và gia đình
1.1. Về chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình.
Vấn đề chủ thể của quan hệ pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong khoa học pháp
lý. Quan hệ pháp luật là hiện tượng pháp lý luôn gắn liền với chủ thể. Sẽ không có quan
hệ pháp luật nếu thiếu đi chủ thể. Trong bất cứ loại quan hệ pháp luật nào thì chủ thể
cũng là yếu tố quyết định trạng thái vận động, liên kết giữa các bộ phận hợp thành quan
hệ đó.
Như ta đã biết, chủ thể của quan hệ pháp luật là những cá nhân, tổ chức tham gia
quan hệ pháp luật được Nhà nước thừa nhận có quyền và nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ
pháp luật đó. Từ đây ta có thể đi đến một cách định nghĩa khái quát nhất, cơ bản nhất
của chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình: đó là những cá nhân tham gia
vào quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình, được Nhà nước thừa nhận có quyền và nghĩa
vụ pháp lý trong mối quan hệ pháp luật đó.
Một trong những đặc thù cơ bản của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình là ở
chỗ chủ thể của nó chỉ là cá nhân. Điều này cũng nhấn mạnh thêm sự khác nhau giữa
luật hôn nhân gia đình và Luật dân sự ( Nếu trong Luật dân sự chủ thể của quan hệ pháp
luật dân sự không chỉ là cá nhân (bao gồm: công dân, người nước ngoài, người không
có quốc tịch), mà còn là pháp nhân, tổ chức, hộ gia đình, tổ hợp tác… và trong nhiều
trường hợp Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là một chủ thể đặc biệt
của quan hệ pháp luật dân sự nhưng trong quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình thì
chủ thể của nó chỉ có thể là cá nhân. Cá nhân muốn trở thành chủ thể quan hệ pháp luật
hôn nhân gia đình phải có năng lực pháp luật hôn nhân gia đình và năng lực hành vi.
Vậy, thế nào là nào là năng lực pháp luật hôn nhân gia đình và năng lực hành vi?
Năng lực pháp luật pháp luật hôn nhân gia đình là khả năng của cá nhân có quyền
và nghĩa vụ về hôn nhân và gia đình. Trong một số trường hợp, năng lực pháp luật pháp

Các quyền và nghĩa vụ đó là nội dung của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình.
4
Các quyền và nghĩa vụ hôn nhân gia đình có thể là về nhân thân và về tài
sản. Trong quyền và nghĩa vụ tài sản còn có quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng. Quyền về
nhân thân hoàn toàn không có nội dung kinh tế.
Ví dụ, quan hệ pháp luật về quyền nhân thân giữa vợ và chồng bao gồm các
quan hệ nhân thân phi tài sản, là quyền và nghĩa vụ của vợ chồng về lao động, học tập,
hoạt động nghề nghiệp, nó còn bao hàm cả tình yêu, sự chung thủy, hòa thuận và kính
trọng lẫn nhau, những cư xử đúng đắn và việc dạy bảo con cái,.. dựa trên những quy
định của Luật hôn nhân và gia đình, các quy tắc tập quán của dân tộc và đạo đức xã hội.
Trong Điều 18 Luật hôn nhân và gia đình quy định : “Vợ chồng chung thủy, thương yêu,
quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến
bộ, hạnh phúc bền vững.” Đây là những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định hạnh
phúc và sự bền vững của gia đình. Cuộc sống vợ chồng tự nhiên và cần thiết phải được
xây đắp, duy trì trên cơ sở sự gắn kết giữa tình yêu và trách nhiệm . Việc quy định này
nhằm đề cao đạo lý chung và tạo ra ý thức trách nhiệm cho mỗi người trong quan hệ vợ
chồng, không thể bằng các biện pháp cưỡng chế hay quyền lực nhà nước mà điều chỉnh
mối quan hệ vốn tế nhị và riêng tư này.Có thể khẳng định rằng, tình nghĩa vợ chồng là
dựa trên sự tự nguyện, ý thức và tình cảm cá nhân, hoàn toàn không có nội dung kinh tế.
Các quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình xuất phát từ sự kiện kết hôn, từ
truyền thống hoặc nuôi dưỡng là những sự kiện, trạng thái có tính chất đặc biệt không
giống như hợp đồng, nghĩa vụ dân sự. Trong quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình thì
yếu tố tính cảm gắn bó giữ các chủ thể là một nét đặc trưng và trong rất nhiều trường
hợp yếu tố tình cảm đó quyết định xác lập, tồn tại hay chấm dứt quan hệ hôn nhân và gia
đình. Do vậy, quan hệ nhân thân chiếm một vị trí hàng đầu trong toàn bộ hệ thống pháp
luật hôn nhân và gia đình, chiếm ưu thế trong đó.
Quyền và nghĩa vụ tài sản có đặc điểm là nó gắn liền với nhân thân của con
người nhất định. Điều 50 của Luật hôn nhân và gia đình có quy định về nghĩa vụ cấp
dưỡng như sau: “ Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con, giữa anh chị
em với nhau, giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này. Nghĩa vụ cấp dưỡng không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status