TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ_ GIÁO DỤC K36
LỊCH SỬ GIÁO DỤC THẾ GIỚI
GVHD: TS. HỒ VĂN LIÊN
SVTH : NGÔ THỊ XUÂN TRƯỜNG
NĂM 2012
1
GIÁO DỤC LIÊN BANG NGA THẾ KỈ XXI - HIỆN ĐẠI HÓA NỀN GIÁO DỤC
I. GIỚI THIỆU
Hệ thống giáo dục của Liên bang Nga đã trải
qua những thay đổi đáng kể từ khi giải thể của
Liên Xô vào năm 1991. Trong thời Liên Xô cũ,
giáo dục là tập trung cao độ, và truyền bá học
thuyết Mác-Lênin là một yếu tố quan trọng của
chương trình đào tạo của mỗi trường. Giáo dục
là tập trung cao độ và hệ tư tưởng nhà nước là một thành phần chính của chương trình quốc
gia. Thông qua những năm 1990, các chương trình cải cách giáo dục đã tập trung vào việc
loại bỏ hệ tư tưởng chính trị và giáo dục đạo đức từ các chương trình giảng dạy để quá trình
học tập là hòa hợp với các nhu cầu của một nền kinh tế định hướng thị trường, phản ánh xu
thế “mở” và hội nhập quốc tế.
II. MỤC ĐÍCH, MỤC TIÊU GIÁO DỤC.
Hội đồng Nhà nước của Liên bang Nga đã thông qua Khái niệm về hiện đại hóa
Nga giáo dục đến năm 2010. Trong số các mục tiêu chiến lược của nó là: để đảm bảo khả
năng tiếp cận của giáo dục, để cải thiện chất lượng của nó, để nâng cao hiệu quả của việc sử
dụng vật liệu và nguồn lực trí tuệ, phát triển các hình thức công cộng của nhà nước và quản
lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục.
– Một trong những mục tiêu quan trọng nhất là phát triển các tiêu chuẩn nhà nước cho
giáo dục cơ bản và trung học, bao gồm các hướng dẫn của liên bang vào yêu cầu của
2
chương trình đào tạo tối thiểu. Ưu tiên đã được đặt trên phát triển giảng dạy ngoại ngữ,
kinh tế và công nghệ thông tin và truyền thông, sự thông hiểu các nền văn hóa.
phố.
Bảo đảm sự tự do đa nguyên trong giáo dục.
Bảo đảm tính dân chủ và công khai trong quản lý giáo dục cũng như tính tự chủ của các
cơ sở giáo dục.
B. Hệ thống giáo dục Nga so với thời kì Liên Xô có sự thay đổi nhưng không nhiều. Hệ
thống giáo dục bao gồm:
• Giáo dục tiền học đường( giáo dục mầm non). Trong giáo dục mầm non có hệ thống
trường mần non và giáo dục mầm non ở gia đình.
• Giáo dục phổ thông gồm tiểu học( 4 năm), trung học cơ sở( 5 năm), trung học hoàn
chỉnh( 2 năm). Khác với thời kì Xô Viết, hiện nay Liên bang Nga thực hiện phân ban ở
4
cấp trung học hoàn chỉnh( có 3 ban: Ban xã hội- nhân văn, Ban khoa học tự nhiên-Toán
và Ban công nghệ). Ở mỗi ban lại phân thành một số ban chuyên sâu về một lĩnh vực.
• Gíao dục nghề nghiệp gồm hệ sơ cấp 3 năm ( nhận học sinh học xong trung học cơ sở)
và hệ trung cấp 3 năm( nhận học sinh xong trung học hoàn chỉnh và học sinh học xong
nghề hệ sơ cấp).
• Gíao dục đại học và sau đại học gồm: đại học hệ 5 năm đào tạo chuyên gia với văn bằng
tốt nghiệp; đại học không hoàn chỉnh ( 2 năm), nếu học tiếp 2 năm thì nhận bằng cử
nhân; đào tạo thạc sĩ- master ( 2 năm); sau thạc sĩ là hệ đào tạo phó tiến sĩ khoa học ( 3
năm). Học vị cao nhất là tiến sĩ khoa học, thời gian làm tiến sĩ khoa học là 2 năm.
• Bên cạnh hệ thống giáo dục chính quy là hệ thống giáo dục bổ túc( gồm bổ túc văn hóa
và nghề nghiệp).
.
C. NỀN GIÁO DỤC NGA VÀ THỜI KÌ XÔ VIẾT:
Một trong những ưu tiên của giáo dục Nga hiện nay vẫn giữ là như thời Xô Viết: học tập là
một quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo hộ.
Một sự thay đổi đáng kể trong nền giáo dục Liên bang Nga so với thời kì Xô Viết là
chấp nhận và ủng hộ sự phát triển giáo dục ngoài công lập. Chính phủ Nga chủ động đưa ra
Chủ trương và xây dựng hành lang pháp lý tạo điều kiệncho mạng lưới trường ngoài công
lập phát triển ở mọi cấp học, bậc học từ giáo dục mần non, phổ thông đến đại học. Hệ thống
này. Tăng cường xu hướng thực hành và công cụ trong thiết kế nội dung; kết hợp kiến
thức cơ bản với kiến thức thực hành, chú trọng phát tiển tư duy, rèn luyện kĩ xảo hực
hành, đặc biệt kỹ xảo thực hành phận tích thông tin, kỹ xảo tự học. Đề cao vai trò tính
độc lập của học sinh.
Bảo đảm ở cấp trung học hoàn chỉnh khả năng lựa chọn các chương trình giáo dục( thực
hiện phân ban). Ở cấp này giảm số giờ bắt buộc trong kế hoạch dạy, tăng thời lượng cho
hoạt động lập cho học sinh( làm tóm tắt tài liệu, thiết kế, hoạt động nghiên cứu, thí
nghiệm).
Khắc phục tình trạng lạc hậu với khoa học thế giới ở các môn học khoa học xã hội, nhất
là môn kinh tế và luật pháp.
Tăng cường giáo dục mở trong chương trình ở tất cả các cấp học. Tạo điều kiện cho học
sinh có thể sử dụng máy tính trong hệ thống giáo dục phổ thông không dưới 6h mỗi tuần
trong khuôn khổ kế hoạch dạy học và hoạt động ngoại khóa. Ở trường trung học, học
sinh phải được đào tạo ban đầu cần thiết về ứng dụng công nghệ thông tin và giao tiếp.
Thực hiện chuyển sang hệ thống chỉ số chất lượng và tiêu chuẩn của giáo dục ngang
hàng với các nước trên thế giới.
7
Bảo đảm cho học sinh tốt nghiệp trung học hoàn chỉnh thành thạo tối thiểu một ngoại
ngữ.
Bảo đảm tính đa dạng và tính vừa sức của các chương trình học. Tăng cường phân hóa
và cá nhân hóa của chương trình giáo dục bằng con đường xây dựng chương trình học có
nhiều phương án nhằm vào các đối tượng học sinh khác nhau, từ trẻ có năng khiếu đến
trẻ bị khuyết tật, cũng như bằng cách xây dựng chương trình và thời khóa biểu riêng có
tính đến các đặc điểm và năng lực của học sinh.
Tăng cường định hướng giá trị xã hội- nhân văn của nội dung giáo dục phổ thông trung
học, bảo đảm mở rộng và cụ thể hóa bối cảnh văn hóa- xã hội của nó.
Để đạt mục tiêu nói trên cần phải tạo ra những điều kiện có tính nguyên tắc sau:
Thứ nhất: Gỉam tải nội dung giáo dục theo 3 khuynh hướng: loại bỏ những quan điểm khoa
học luận chỉ nhằm vào logic của khoa học tương ứng với đầy đủ nội dung và cấu trúc của
nó, mà trong thực tế những kiến thức này không giúp gì cho người học giải thích các vấn đề
9
các học viện. Viện có thể là cơ quan tự trị hoặc một phần của một trường đại học hoặc học
viện.
Theo quy định của Luật Giáo dục 1992 và phân bổ ngân sách nhà nước giảm và nhu cầu gia
tăng, các tổ chức nhà nước về giáo dục đại học đã được quyền tự trị lớn hơn để mở, đóng và
hợp nhất các chương trình học, trong khi cũng được phép tuyển sinh trên một khoản phí trả
tiền cơ sở. Chú ý nhiều hơn cho lĩnh vực chuyên môn như kinh doanh, quản lý, pháp luật,
kinh tế, kế toán. Kinh doanh giáo dục, đặc biệt là, đã nhận được rất nhiều sự chú ý theo thực
tế mới của một nền kinh tế Nga tự do hóa đó đã tạo ra nhu cầu lớn cho các nhà quản lý được
đào tạo, nơi cung cấp rất ít tồn tại. Trong hai năm đầu tiên sau khi sự sụp đổ của Liên bang
Xô viết, hơn 1.000 trường kinh doanh và trung tâm đào tạo các tiêu chuẩn khác nhau rất
nhiều đã được thành lập. Trong số những trường có uy tín thành lập như là bổ sung cho các
trường đại học lớn, chẳng hạn như Trường Quản trị Kinh doanh của Moscow State
University; trung tâm cung cấp giá cao các bài giảng và các khóa học chứng chỉ cao hơn; và
trong một số trường hợp các cửa tiệm bán bằng cấp.
IV. PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC
Những gì khuyến khích học sinh chủ động và động lực để học tập là một chiến lược
giảng dạy hiệu quả. Giáo viên ở Nga đã dần dần chuyển từ một phương pháp tiếp cận sư
phạm dựa trên "truyền kiến thức" cho một chiến lược bao gồm tạo điều kiện thuận lợi
cho học tập, hỗ trợ học sinh và tạo nên sự hứng thú trong việc học. Nghiên cứu gần đây
đã chứng minh rằng giảng dạy như một chiến lược giảng dạy tiếp tục thống trị trong lớp
học, trong khi các hình thức hoạt động và học tập cá nhân của học sinh vẫn không phải
là phổ biến.
10
Các culturology giáo dục bao gồm các yêu cầu liên quan đến cả hai giá trị văn hóa và
phương pháp sư phạm trong những năm qua đến một mức độ đáng kể.
Quan tâm nhiều hơn do đó đã được dành cho việc giảng dạy của các ngành chuyên môn
như kinh doanh, luật, quản lý, kinh tế, công nghệ máy tính và kế toán.
Ngoài ra, phương pháp giảng dạy đã được giải quyết trong một nỗ lực di chuyển ra khỏi
các phương pháp sư phạm Liên Xô phong cách học vẹt hướng tới một phương pháp sinh
Trong khoảng ba năm, từ 2012 đến 2015, Chính phủ Nga sẽ thực hiện kế hoạch tài trợ cho
gần 10.000 sinh viên du học tại các trường ĐH hàng đầu trên khắp các châu lục. Kế hoạch
này được gọi là “Giáo dục toàn cầu cho Nga”.
Ông Dmitry Medvedev, Tổng thống Nga, cho biết: “Sẽ có hàng ngàn nhà khoa học trẻ, kỹ
sư và công chức của Nga nhận được tấm bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ tại các trường ĐH hàng
đầu trên thế giới chỉ trong thập kỷ tới. Sau đó, hy vọng rằng, việc học tập ở nước ngoài cho
phép họ giữ được một vị trí chủ chốt trong kinh doanh, làm việc cho Chính phủ hay các lĩnh
vực khác như khoa học, giáo dục…”.
Theo kế hoạch này, khoảng 2.000 sinh viên Nga sẽ ghi danh vào các trường ĐH nước ngoài
vào năm 2012, sau đó tăng đến 10.000 vào năm 2015. Chính phủ dự kiến năm đầu tiên thực
hiện kế hoạch, mức đầu tư khoảng 60 triệu USD. Bộ Giáo dục ước tính, mỗi cá nhân trong
một năm du học tại nước ngoài, để có được tấm bằng tiến sĩ sẽ phải tiêu tốn khoảng 120.000
USD, bằng MBA chừng 80.000 USD và trở thành cử nhân tốn khoảng 15.000 đến 20.000
USD; thêm 40.000 USD/người cho chi phí sinh hoạt. Ngược lại, theo các điều khoản của kế
hoạch tài trợ, 10.000 sinh viên này sẽ phải quay trở lại Nga sau khi hoàn thành nghiên cứu
của mình. Nếu chọn làm việc trong khu vực công thì ít nhất ba năm, còn làm việc cho khu
vực tư hay muốn kinh doanh riêng sẽ phải thanh toán lại cho Chính phủ 50% chi phí. Bộ
Giáo dục cũng hy vọng đa phần các sinh viên sẽ chọn lựa Hoa Kỳ để học tập. Tuy nhiên,
nếu không muốn, họ có thể đi đến các trường ĐH tại bất cứ nơi đâu trên thế giới. Đồng thời,
Nga cũng lên kế hoạch chuẩn bị một danh sách các nhà sử dụng lao động - những người
quan tâm và có nhu cầu tuyển dụng số du học sinh sau khi tốt nghiệp trở về Nga. “Họ sẽ
đảm bảo cung cấp các công việc hấp dẫn và trả lương cao cho các học viên này” - ông
13
Sergei Fursenko, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nga cho biết. Cũng theo kế hoạch, trong năm
đầu, sinh viên có thể tự chọn các khóa học mà mình mong muốn. Còn những năm tiếp theo,
Chính phủ sẽ giới thiệu hoặc định hướng ngành học, dựa theo nhu cầu nhân lực của đất
nước nhằm lấp đầy khoảng thiếu hụt, chẳng hạn như kỹ sư, luật sư và nhà kinh tế.
Hầu hết các chuyên gia đánh giá cao sáng kiến của Tổng thống Medvedev và tin rằng, nó
mang lại lợi ích không chỉ cho Nhà nước mà còn cho các sinh viên. Điều này quan trọng
trong việc phát triển kinh tế đất nước.