Đẩy mạnh hoạt động PR cho sản phẩm kỹ thuật số tại Việt Nam - Pdf 26

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Các sản phẩm sử dụng công nghệ kỹ thuật số (gọi tắt là sản phẩm kỹ thuật
số) là sản phẩm của công nghệ hiện đại, chúng vừa có những đặc điểm của các
sản phẩm thuộc hàng tiêu dùng, vừa có đặc điểm của các mặt hàng xa xỉ. Hiện
nay, các sản phẩm kỹ thuật số ngày càng đa dạng và chiếm một vị trí quan trọng
trong đời sống hàng ngày của người dân Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ.
Do có một thời gian thực tập và tìm hiểu ở một công ty thương mại điện tử
về các sản phẩm kỹ thuật số, tác giả có chú ý thấy các doanh nghiệp kinh doanh
mặt hàng này ở Việt Nam chưa thực sự quan tâm đúng mức đến hoạt động PR.
Các chiến lược và các công cụ PR mà các doanh nghiệp đó đang sử dụng tuy đa
đạng nhưng đôi lúc mang tính bột phát, chưa được áp dụng một cách có kế
hoạch, khoa học và chưa đạt hiệu quả cao. Thậm chí, có những hoạt động PR
nửa vời lại gây phản tác dụng, mất đi cảm tình của khách hàng.
Hoạt động PR chưa tương xứng với sự phát triển của thị trường sản phẩm số
có thể làm chậm lại sự phát triển của thị trường này tại Việt Nam. Hơn nữa, hiện
nay, đa phần các sản phẩm kỹ thuật số ở Việt Nam đều là sản phẩm nhập khẩu
và mang nhãn hiệu ngoại quốc. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, các mặt
hàng kỹ thuật số đa dạng về chủng loại và phong phú về nhãn hiệu khiến người
tiêu dùng đứng trước muôn vàn lựa chọn song không biết lựa chọn thế nào để có
sản phẩm thích hợp nhất. Làm thế nào để các doanh nghiệp có thể khuyếch
trương được sản phẩm của mình? Làm thế nào sản phẩm của doanh nghiệp có
thể đi vào tâm trí khách hàng, giành được sự ủng hộ của khách hàng/công
chúng? PR chính là công cụ mà doanh nghiệp cần tìm đến.
Với ý nghĩa trên, tác giả chọn đề tài:
Đẩy mạnh hoạt động PR cho sản phẩm kỹ thuật số tại Việt Nam.
2. Mục đích của nghiên cứu
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về PR và thực trạng PR
cho sản phẩm kĩ thuật số tại Việt Nam, đề tài đưa ra những giải pháp nhằm sử

mặc dù đã rất cố gắng, chắc chắn khóa luận còn rất nhiều thiếu sót. Kính mong
các thầy cô giúp đỡ và góp ý để tác giả có thể rút ra được những kinh nghiệm
cho mình.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PR
Nói đến PR (Public Relations), nhiều người còn thấy đây là một khái
niệm khá mới mẻ, ngay cả với một số người hoạt động trong lĩnh vực tiếp thị.
Có ba khái niệm được xem là có quan hệ mật thiết với PR là: báo chí, quảng cáo
và marketing. Nhưng PR không phải là báo chí hay truyền thông, không phải là
quảng cáo và cũng không phải là Marketing. So với các ngành khác, PR vẫn
được cho là sinh sau đẻ muộn, nhiều người cho rằng cơ hội để PR để phát triển
rất lớn. Trong cuốn sách “ PR: bước chuyển từ truyền thông văn bản đến truyền
thông hình ảnh” Janeen Smith đã viết: “Tương lai của PR là không có giới hạn.
Đó là lí do phần lớn mọi người vẫn chưa thể hiểu chính xác đó là gì ngày hôm
nay. Cái khó khăn nhất về PR, trong nhiều lúc, lại là làm sao để ban lãnh đạo
doanh nghiệp nhận ra PR là gì và tại sao lại cần thiết cho doanh nghiệp.” Để có
được cái nhìn đúng đắn về PR, chúng ta cần tìm hiểu lịch sử hình thành PR cũng
như các quan điểm về PR đang tồn tại hiện nay.
1.1. Khái niệm PR
1.1.1. Nguồn gốc PR
Hiện nay các học giả lẫn các chuyên gia PR hàng đầu thế giới có những ý
kiến rất khác nhau về nguồn gốc của PR: PR ra đời từ khi nào? Hình thức PR
đầu tiên trên thế giới đã xuất hiện ở đâu?
Có quan điểm cho rằng PR đã xuất hiện từ rất lâu từ khi con người biết
giao tiếp, với những hình thức đầu tiên ở rất nhiều quốc gia trên thế giới: Trung
Quốc, Châu Âu, Mỹ, Thái Lan, Hy Lạp, La Mã thậm chí là...Việt Nam. Frank
Jefkins đã nói: “Có thể tạm kết luận rằng PR ra đời cùng với nền văn minh của
nhân loại” [15, tr15]
Các chuyên gia có thể không thống nhất về nơi PR thật sự bắt đầu, nhưng
có một thực tế không thể phủ nhận là PR hiện đại đã được hình thành và phát

bản Ford Times. Vào năm 1912, công ty đã bắt đầu tiến hành các cuộc điều tra
về quan niệm của công chúng phục vụ cho mục đích nghiên cứu thị trường. Vào
năm 1904, Ford đã thành lập phòng sản xuất phim tập đoàn đầu tiên. [24]
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Theo kết quả thống kê các quan điểm qua internet, website PR Việt Nam
và diễn đàn giám đốc Việt (vietCEO.com), lịch sử PR có thể tạm chia thành 05
giai đoạn:
- Giai đoạn khởi nguyên PR tại nước Mỹ: 1600 -1799
- Giai đoạn truyền thông/nền tảng: kỷ nguyên báo chí và tuyên truyền:
1800- 1899
- Giai đoạn phản ứng/ trả lời: thời đại báo chí: 1900 -1939
- Giai đoạn hoạch định/ đề phòng: giai đoạn phát triển PR như là một
chức năng quản trị: 1940-1979
- Giai đoạn chuyên nghiệp hoá: kỷ nguyên của PR trong truyền thông toàn
cầu: 1980- hiện nay.
Như vậy có thể coi Mỹ là cái nôi đầu tiên nuôi dưỡng PR và phát triển PR
thành một ngành có vị trí quan trọng như hiện nay.
Do có nhiều mối quan hệ đặc biệt với giới truyền thông, các chuyên gia
PR ban đầu là những nhà báo chuyển sang làm PR. Cho đến nay, các trường dạy
báo chí phương Tây cũng chính là nơi đào tạo nhân lực chính cho ngành PR:
học viên học các môn cơ sở như nhau, sau đó người học PR sẽ được đào tào
chuyên sâu thêm những nghiệp vụ của ngành đó để làm việc chuyên môn. Như
vậy có thể nói về căn bản, sự hình thành và phát triển của PR gắn liền với báo
chí.
Theo tổng hợp của PR Việt Nam, Ivy Ledbetter Lee (1877-1934) được coi
là “cha đẻ” của ngành PR. Ông (cùng với George F. Parker) là người thành lập
Cục Tuyên Truyền Quốc Gia Thứ Ba (1904). Ivy Lee được xem là chuyên gia
PR thực hành theo phong cách hiện đại. Hầu hết các nỗ lực ban đầu của Lee đều
là việc công bố rộng rãi “publicity”, nhưng sau đó ông và những người cùng
thời đã đuợc gọi là trợ lý “quan hệ báo chí” khi có khủng hoảng xảy ra. Trước

1.1.2. Khái niệm PR
Sự xuất hiện của cụm từ “Public relations” cũng là một vấn đề còn gây
nhiều tranh cãi. Ai là người thực sự gọi tất cả những hoạt động đó là PR? Và từ
khi nào PR bắt đầu trở thành một ngành?
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Có ý kiến cho rằng PR được nhắc tới lần đầu trong lễ tốt nghiệp của sinh
viên trường luật Yale vào năm 1882. Nhiều sử gia cho rằng vào năm 1807,
Thomas Jefferson là người đầu tiên kết hợp chữ “Public” và chữ “Relations”
thành cụm từ “Public relations”. Những người khác thì lại cho rằng cụm từ này
được luật sư Dorman Eaton sử dụng vào năm 1882. Nhưng cụm từ Public
relations đuợc sử dụng với ý nghĩa hiện nay bắt đầu từ năm 1897, khi nó xuất
hiện trong quyển “Niên giám bài văn hay của ngành đường sắt” thuộc Hiệp hội
ngành đường sắt Mỹ. Thành tựu này có thể nói là thuộc về Edward Bernays,
người mà như đã nói ở trên, được nhiều người gọi là “cha đẻ của ngành PR”.
Hiện nay trên thế giới có nhiều quan niệm và cách nhìn khác nhau về PR,
những quan niệm đó tồn tại song song và bổ sung cho nhau. Theo Rex Harlow,
một trong trong những học giả hàng đầu về PR, có đến hơn 500 định nghĩa khác
nhau về PR.
Ở Việt Nam, Public Relations (PR) được dịch ra tiếng Việt theo nhiều
cách khác nhau: Quan hệ đối ngoại, Giao tế cộng đồng, Giao tế nhân sự... Có hai
từ khá sát với nghĩa đen lần nghĩa bóng của PR, đó là Quan hệ công chúng và
Quan hệ cộng đồng. Từ quan hệ công chúng có vẻ thông dụng hơn, được mọi
người thừa nhận và sử dụng nhiều hơn cả. Tuy nhiên, theo một số ý kiến, cụm từ
này lại không đúng với nhiều nghiệp vụ của PR như Quan hệ với chính phủ -
Government Relationship (hay Government affair). Trong các nghiệp vụ này,
không thể coi các nhóm cộng đồng đồng nghiệp hay các nhóm quan chức chính
quyền là những nhóm công chúng và bản chất của chúng cũng như vậy. Nếu
nhìn theo cách này, từ “Quan hệ cộng đồng” là thích hợp hơn và khắc phục được
nhiều điểm yếu của các cách dịch khác.
Chính vì sự phức tạp về mặt ngữ nghĩa, hiện nay ở Việt Nam đã có khá nhiều

nhóm được mệnh danh là công chúng. [25] Định nghĩa này chú tâm vào chức
năng giao tiếp và trao đổi thông tin của PR.
Pat Jackson, một chuyện gia nổi tiếng về PR hiện đại định nghĩa: PR như
việc xây dựng mối quan hệ với các nhóm người liên quan mà tổ chức tác động
tới để thay đổi thái độ của họ và mang lại những hành động mong đợi.
1
truy cập ngày 04/09/2007
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Viện quan hệ công chúng Anh (Insititue of Public relations) định nghĩa:
“PR là một nỗ lực được lên kế hoạch và kéo dài liên tục để thiết lập và duy trì sự
tín nhiệm và hiểu biết lẫn nhau giữa một tổ chức và công chúng.” [15, tr22]
Định nghĩa này nói đến sự duy trì tín nhiệm bằng một kế hoạch dài hạn, cụ thể.
Theo sách Effective of Public Relations (S. Cutlip, A. Center và G.
Broom) thì: “PR thực hiện chức năng quan trị, nhằm tạo dựng mối quan hệ hai
bên cùng có lợi giữa một tổ chức và đối tượng công chúng quyết định sự thành
bại của tổ chức đó.” Định nghĩa này lại nhấn mạnh vào việc tổ chức một hoạt
động PR thành một chiến dịch hay một chương trình, và sử dụng PR như một
công cụ quản trị kinh doanh.
Trong cuộc họp giữa các viện sĩ thông tấn PR đến từ nhiều nước (World
Assembly of Public relations Associates) diễn ra tại thành phố Mexico (tháng 8
năm 1978), PR được định nghĩa: “PR là một nghệ thuật và môn khoa học xã hội,
phân tích những xu hướng, dự đoán những kết quả, tư vấn đưa ra các lời khuyến
cáo cho các nhà lãnh đạo của tổ chức và thực hiện các chương trình hành động
đã được lập kế hoạch để phục vụ quyền lợi của cả tổ chức và công chúng.” [15,
tr23]
Frank Jefkins, đã định nghĩa: “PR bao gồm tất cả các hình thức giao tiếp
được lên kế hoạch, cả bên trong lẫn bên ngoài tổ chức giữa một tổ chức và công
chúng của nó nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể từ đó có được sự hiểu biết
lẫn nhau.” [15, tr23]
Định nghĩa này nhấn mạnh khía cạnh hoạt động có mục tiêu cụ thể và có

các hoạt động PR, ví dụ: khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp nguyên
vật liệu, giới truyền thông, nhân viên trong công ty, chính phủ ...
Như vậy có thể hiểu PR là:
 Hoạt động có kế hoạch, có tổ chức và mục tiêu rõ ràng.
 Quá trình quản lý thông tin, quản trị tổ chức và quản trị các mối
quan hệ của tổ chức.
 Hoạt động giao tiếp thông tin hai chiều.
 Công cụ trao đổi và truyền tin của một tổ chức tới các nhóm công
chúng liên quan đến sự tồn tại của nó.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
 Công cụ xây dựng hình ảnh tích cực và duy trì những mối quan hệ
có ích của một tổ chức.
Tất cả những điều trên đã khiến cho PR khác biệt hẳn so với quảng cáo,
và cũng không chỉ đơn thuần là một chữ P thứ 5 trong Marketing Mix, vượt ra
khỏi vị trí là một công cụ của chữ P thứ 4 - Promotion. PR trở thành một ngành
phát triển thực sự, đem lại những lợi ích to lớn cho những tổ chức hay những cá
nhân sử dụng nó. Để hiểu rõ hơn về PR và sự khác biệt của nó với quảng cáo,
khuyến mãi, tác giả xin trình bày một số vấn đề trong nội dung của PR.
1.2. Chức năng của PR
Các lĩnh vực hoạt động của PR:
Tư vấn chiến lược với lãnh đạo công ty: Hoạt động này cần căn cứ vào:
tính chất của sản phẩm; mục tiêu của công ty; đối tượng của sản phẩm; các đặc
thù tâm lý, văn hoá chính trị, kinh tế pháp lý của địa phương; các thế lực có ảnh
hưởng tới lĩnh vực hoạt động của sản phẩm hay công ty...
Quan hệ báo chí, bao gồm các hoạt động như: Tổ chức họp báo, soạn
thảo thông cáo báo chí; tổ chức các buổi briefing ngắn thông tin cập nhật cho
các nhà báo; tạo điều kiện thu xếp các buổi phỏng vấn, phóng sự đặc biệt.
Nguyên tắc cơ bản của hoạt động này là sự tin cậy lẫn nhau và thông tin hai
chiều giữa nhân viên PR và nhà báo. Nhân viên PR phải làm sao để nhà báo thấy
có lợi về mặt thông tin khi làm việc với công ty PR. Thông tin không chính xác

lý. Những hoạt động PR giúp: dự đoán, phân tích và làm sáng tỏ tình hình, các
quan điểm trong cộng đồng có ảnh hưởng tới sự hoạt động và kế hoạch của
doanh nghiệp; từ đó đưa ra kế hoạch hợp lý; trao đổi, hội ý tới mọi cấp bậc trong
doanh nghiệp; đặt ra các mục tiêu, kế hoạch, ngân sách, tuyển mộ và đào tạo
nhân tài cho doanh nghiệp.
Chức năng giao tiếp: Giao tiếp trong PR là hệ thống giao tiếp hai chiều,
các chuyên gia PR thường là những người rất giỏi giao tiếp. Quá trình PR
thường được quan niệm đồng hành với nhiệm vụ và mục đích giao tiếp. Các
thông điệp của doanh nghiệp sẽ được truyền tải đến công chúng mục tiêu và
những phản hồi của công chúng mục tiêu sẽ được doanh nghiệp tiếp nhận thông
qua “kênh giao tiếp” là bộ phận PR. Thấu hiểu và xây dựng một mối quan hệ tốt
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
với khách hàng, đối tác hay chính quyền là chìa khoá quan trọng giúp doanh
nghiệp tồn tại và bán được hàng. Những nhiệm vụ thường gặp bao gồm: viết các
thông cáo báo chí, các báo cáo thường niên, bài phát biểu, các ấn phẩm nội bộ,
các chiến dịch nhằm tạo dựng, nâng cao sự nhận thức của cộng đồng v.v... Điều
này làm cho PR khác biệt so với quảng cáo, làm cho PR phổ biến hơn quảng
cáo. Một số tổ chức có thể không dùng đến quảng cáo nhưng tất cả các tổ chức
đều ít nhiều liên quan đến PR, bởi một tổ chức muốn tồn tại phải giao tiếp với
công chúng của nó.
Chức năng ảnh hưởng cộng đồng : Đây là chức năng cơ bản của PR,
điều đó đã bao gồm trong bản chất của PR (duy trì mối quan hệ với cộng đồng).
Để thực hiện việc này, những nhân viên PR thực hiện nhiều hoạt động nhắm tới
việc nâng cao uy tín doanh nghiệp, bằng cách:
- Tạo dựng mối quan hệ với cộng đồng: tạo hình ảnh tích cực về doanh
nghiệp, xây dựng thương hiệu, tạo sự gần gũi, thân thiện giữa doanh nghiệp và
công chúng...
- Giải thích các ý kiến trong cộng đồng.
- Thực hành các trách nhiệm trong xã hội: Chuyên gia PR cần giúp đỡ
doanh nghiệp cân bằng giữa các trách nhiệm xã hội và các mục tiêu lợi nhuận.

Laura Ries cũng đã chỉ ra rất rõ ràng quan điểm này: “PR xây dựng thương hiệu.
Quảng cáo bảo vệ thương hiệu. Quảng cáo không châm được ngọn lửa. Nó chỉ
có thể thổi gió vào ngọn lửa sau khi bốc cháy.”
Một vai trò quan trọng và cơ bản của PR là giúp doanh nghiệp truyền tải
các thông điệp đến khách hàng và những nhóm công chúng quan trọng của họ.
Với nhóm công chúng đối nội, thông điệp này là những chỉ đạo, ý kiến, tầm nhìn
của lãnh đạo chuyển tải đến nhân viên để đạt được tốt nhất các mục tiêu đề ra
cũng như xoa dịu các bất đồng trong doanh nghiệp (nếu có). Với nhóm công
chúng đối ngoại, khi truyền đi các thông điệp này, PR giúp sản phẩm dễ đi vào
nhận thức của khách hàng, hay cụ thể hơn là giúp khách hàng dễ dàng liên tưởng
tới mỗi khi đối diện với một thương hiệu. Lấy ví dụ điển hình như Microsoft, sự
thành công của Microsoft và thương hiệu của nó chắc chắn không phải nhờ
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
quảng cáo, mà là nhờ các hoạt động PR. Chúng ta đều nhớ đến những bài báo,
những thông báo trên báo chí về những sản phẩm của Microsoft, mà rất ít người
có thể nhớ được đã từng xem một quảng cáo nào của hãng này.
Ví dụ khác là Unilever vận động chương trình “Gửi tặng đồng phục bạn
không dùng nữa cho bột giặt OMO” cho các nữ sinh ở các vùng xa. Chương
trình này có tính từ thiện, phục vụ cho cộng đồng nên đã tranh thủ được thiện
cảm của công chúng.
Các hoạt động PR ít mang tính thương mại do sử dụng các phương tiên
trung gian, vừa mang tính khách quan lại vừa chứa đựng những thông tin phong
phú nên dễ gây cảm tình và dễ được công chúng chấp nhận.
PR có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ vì
chi phí cho hoạt động PR thấp hơn quảng cáo hay các loại hình khuyến mãi
khác, do không phải chi các khoản tiền lớn thuê mua thời lượng trên các phương
tiện truyền thông và không cần chi phí thiết kế sáng tạo và sản xuất cao. Ngân
quỹ chi cho hoạt động PR cũng thường thấp hơn quảng cáo hàng chục lần mà
hiệu quả thông tin lại không hề thấp hơn do tính chất tập trung của đối tượng và
tác dụng rộng rãi của truyền miệng.

chệch ra khỏi nguyên lý này bạn sẽ bị loại. Những bạn trẻ khi tiếp xúc với PR tỏ
ra rất nhiệt tình và thích thú. Nhưng khi thực sự bước vào công việc, dễ mắc
phải sai lầm nên thấy thất vọng rất nhanh.”
2
PR chuyên nghiệp hoàn toàn không phải là một hoạt động lừa phỉnh công
chúng, càng không phải là mị dân. Một hoạt động PR tốt là hoạt động khiến đối
tượng hiểu và đánh giá đúng một cách tích cực bản chất của chủ thể của hoạt
động đó. Nguyên tắc cơ bản của PR là thông tin đúng đối tượng, đúng chỗ, đúng
lúc, đúng cách bằng phương tiện phù hợp.
PR là một quá trình thông tin hai chiều. Các chuyên gia tư vấn PR
không chỉ đưa thông tin tới đối tượng của mình mà còn phải lắng nghe và nắm
bắt được tâm lý, ý kiến và xu hướng của cộng đồng để có thể dự đoán được các
phản ứng có thể xảy ra, qua đó tiếp tục xây dựng chiến lược PR cho phù hợp.
2
truy cập ngày 31/08/2007
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Một nguyên tắc quan trọng nữa đó chính là phải đảm bảo tính nhất
quán. PR là một quá trình. Bạn không thể tuyên truyền hình ảnh của công ty bạn
khác nhau tại các thời điểm khác nhau, và càng không thể nói sai sự thật để lừa
phỉnh công chúng. Bạn có thể thu được thành công ngày hôm nay, nhưng thất
bại vĩnh viễn có thể chờ bạn vào ngày mai, khi bạn mất đi lòng tin nơi công
chúng.
Một trong những vai trò chính của PR chính của PR chính là truyền tải
thông điệp đến các nhóm công chúng. Thông điệp của một hoạt động quan hệ
công chúng cần đảm bảo 6 yếu tố cơ bản để có thể thống nhất với các hoạt động
khác trong nỗ lực chung để tạo dựng hình ảnh thương hiệu (còn gọi là 6C trong
thông điệp PR).
Credibility: uy tín của nguồn phát thông điệp. Những thông điệp sẽ có độ
tin cậy cao hơn nếu như sử dụng những tiêu chuẩn đo lường, tiêu chuẩn chất
lượng đáng tin cậy làm bằng chứng hoặc được những nguồn thông tin, những

Identify media: lựa chọn công cụ truyền thông
Lobbying: vận động hành lang
Social investment: đầu tư xã hội.
Hiện nay, tại Việt Nam, các nhân viên PR thường cho rằng các công cụ
PR bao gồm:
1.5.1. Truyền thông
Truyền thông được coi như là hình thức ban đầu của PR từ những buổi sơ
khai. PR gắn liền với báo chí và truyền thông đến mức, thậm chí có người đã
nhẫm lần PR chính là quan hệ báo chí và truyền thông.
Hoạt động truyền thông trong PR bao gồm những mảng như: Viết thông
cáo báo chí, thiết lập mối quan hệ với giới truyền thông, sắp xếp buổi phỏng vấn
với giới truyền thông...
Để quá trình truyền thông hiệu quả, chúng ta cần phải giảm độ nhiễu
trong quá trình truyền thông, đồng thời lắng nghe sự phản hồi của người nhận để
kịp thời điều chỉnh hay rút kinh nghiệm cho lần sau. Phải cân nhắn việc lựa chọn
kênh truyền thông sao cho hiệu quả, các kênh truyền thông nào truyền tải được
đến đối tượng mà ta nhắm đến với độ nhiễu, sai lệch càng ít càng tốt. Việc lựa
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chọn này phù thuộc vào văn hoá, tập quán của các nhóm công chúng. Truyền
thông bao gồm: họp báo (họp mặt với giới báo chí, truyền hình, đài phát thanh,
báo viết, báo điện tử); thông cáo báo chí; viết bài đăng báo; phỏng vấn với giới
báo chí trên truyền hình, đài phát thanh v.v... Mỗi phương tiện truyền thông
khác nhau sẽ có những ưu nhược điểm khác nhau. [36]
Phương
tiện
Ưu điểm Nhược điểm
Báo chí - Uyển chuyển, định được thời
gian truyền tải.
- Bao quát được thị trường nội địa.
- Được chấp nhận và sử dụng rộng

- Chi phí cao.
Truyền
hình
- Kết hợp tốt giữa âm thanh, màu
sắc, sự liên tưởng. Dễ thể hiện
được ý đồ của nhân viên PR.
- Số lượng khán giả lớn.
- Thời gian ngắn.
- Chi phí cao, đòi hỏi về
nội dung lớn.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Dễ gây chú ý, hấp dẫn.
Internet - Linh hoạt về cách thể hiện, có sự
kết hợp giữa âm thanh và màu sắc.
- Số lượng khán giả lớn, thời gian
lưu lại của thông tin dài.
- Chi phí thấp.
- Chỉ tập trung vào đối
tượng là giới trẻ.
- Rất dễ bị bỏ qua hoặc
đọc lướt.
Dưới tác động rộng rãi của giới truyền thông - bên trung gian có sức tác
động công chúng mạnh mẽ - doanh nghiệp truyền tải được thông điệp tới công
chúng mục tiêu, đạt được mục đích trong truyền tải và xây dựng hình ảnh tích
cực của doanh nghiệp trong mắt công chúng.
1.5.2. Ấn Phẩm
Những ấn phẩm bao gồm: Bản tin doanh nghiệp (lưu hành nội bộ với mục
đích cung cấp thông tin trong nội bộ doanh nghiệp); tờ rơi, áp phích, cataloge
v.v...
1.5.3. Phim giới thiệu

khác nhau vì những người hâm mộ thể thao cũng thuộc rất nhiều nhóm
công chúng khác nhau.
 Những sự kiện văn hóa: Những sự kiện văn hóa kén nhóm công chúng
hơn các sự kiện thể thao, và cũng ít người biết đến hơn, nếu đó không
phải là những sự kiện lớn, trong những dịp đặc biệt.
 Sách, ấn phẩm sắp được xuất bản: thông thường sách cần sự tài trợ để
xuất bản là những sách, ấn phẩm mang tính chất đặc biệt, nhân một dịp
hoặc một lí do đặc biệt. Có một ưu điểm trong việc tài trợ này là việc tài
trợ của doanh nghiệp bạn được lưu giữ khá lâu.
 Từ thiện: Hiện nay việc từ thiện diễn ra khắp nơi, nhất là những chương
trình ủng hộ phát động trong giới truyền thông. Tài trợ, ủng hộ vì mục
đích từ thiện có rất nhiều ưu điểm: hình ảnh của doanh nghiệp được nâng
cao, cơ hội xuất hiện trên các phương tiện truyền thông cao. Tuy nhiên
nếu không ủng hộ được với quy mô lớn, doanh nghiệp cũng cần cân nhắc
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
bởi hoạt động này không có cơ hội quảng cáo, không giới thiệu được cụ
thể hình ảnh của sản phẩm và sự kiện này cũng nhanh chóng qua đi. Nếu
không vì mục đích PR, phần lớn các hoạt động từ thiện của các doanh
nghiệp là nhằm thể hiện trách nhiệm với xã hội.
 Những giải thưởng chuyên nghiệp định kỳ và những sự kiện địa phương.
 Giáo dục: các chương trình học bổng hay giải thưởng giáo dục. Đối tượng
nhắm đến có thể là giới sinh viên trong các trường Đại học hoặc các em
học sinh. Doanh nghiệp nên chú ý ưu tiên những hoạt động giáo dục bởi
giới sinh viên có thể là những đối tượng khách hàng chính và tiềm năng
đối với các sản phẩm của doanh nghiệp. Hơn nữa, những sinh viên trong
các trường đại học có thể là nguồn nhân lực cho doanh nghiệp trong
tương lai.
 Những show - game trên truyền hình: Tài trợ cho các show-game có nội
dung gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để truyền bá thông điệp và
hình ảnh của doanh nghiệp tới nhóm khách hàng/ công chúng mục tiêu.

ra mắt sản phẩm mới, lễ đón nhận huân chương, lễ kỷ niệm, hội nghị khách
hàng, hội thảo, triển lãm, hội thảo chuyên đề, thăm quan, gặp gỡ đối tác v.v...
1.5.7. Một số công cụ khác
PR là một ngành đầy sáng tạo và bất ngờ, và sự sáng tạo cũng đem lại
thành công cho PR. Vì vậy công cụ của PR và cách mà mọi người PR sẽ ngày
càng phong phú và đa dạng, không chỉ dừng lại ở truyền thông, tổ chức sự kiện
hay phát biểu v.v...Khi Nokia tung ra dòng điện thoại có chức năng chụp hình
đầu tiên, Nokia cho nhân viên của mình đóng vai du khách, họ đến những nơi
đông người qua lại và nhờ những người xung quanh chụp cho họ vài kiểu ảnh
bằng điện thoại di động có chức năng chụp ảnh vừa có mặt trên thị trường.
Những hoạt động ngoài trời này cũng được coi là một công cụ trong PR.
Có những cách rất đơn giản nhưng lại đạt hiệu quả PR cao, ví dụ như sử
dụng các biểu tượng, logo bắt mắt, gây được cảm tình; hay sử dụng đồng phục
ấn tượng, thể hiện tiêu chí làm việc cho nhân viên, thư viện ảnh của nhân viên
hoặc khách hàng; cộng tác với người nổi tiếng (ca sỹ, ngôi sao điện ảnh, vận
động viên thể thao, MC truyền hìnhv.v... )
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tất cả những hoạt động mang tính đặc trưng văn hoá doanh nghiệp, giúp
công chúng dễ dàng nhận ra. Doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp,
nhằm xây dựng hình ảnh tích cực về doanh nghiệp, đều là những công cụ tích
cực cho hoạt động PR. Điều quan trọng là sử dụng chúng như thế nào, vào lúc
nào để đạt hiệu quả PR cao nhất.
1.6 Quy trình PR
Như ở trên đã nói, PR mang tính sáng tạo, bất ngờ và đa dạng; nhưng để
đạt được hiệu quả cao, có những việc chúng ta không thể bỏ qua cho dù mục
đích có là tạo nên sự khác biệt. Không thể có một kết quả tốt nếu không làm
việc có kế hoạch, không thể đạt được hiệu quả cao trên chi phí thấp nếu không
xác định được mục tiêu chính của mình là gì, trong điều kiện nào, ngân sách ra
sao. Giống như marketing hay quảng cáo, PR cũng cần phải được tiến hành theo
một quy trình nhất định.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status