Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Trong sự phát triển của nền kinh tế một quốc gia nói chung và quá trình hoạt
động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp nói riêng đều chịu ảnh hưởng của rất nhiều
yếu tố có thể là khách quan hoặc chủ quan. Có những tác động tốt, thúc đẩy kinh tế
theo hướng tích cực, tuy nhiên bên cạnh đó cũng có những ảnh hưởng không mong
muốn.
Suy thoái là một hiện tượng kinh tế xảy ra do trên thị trường dòng tiền cung và
cầu mất cân bằng nghiêm trọng, theo đó vừa xảy ra lạm phát, vừa xảy ra giảm phát.
Trên thực tế, suy thoái tác động tiêu cực đến mọi mặt kinh tế, xã hội. Trong giai đoạn
này, tiêu dùng giảm mạnh, hàng tồn kho của các loại hàng hóa lâu bền trong các doanh
nghiệp tăng lên ngoài dự kiến. Việc này dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sản lượng kéo
theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng giảm và kết quả là GDP thực tế giảm
sút. Tỷ lệ thất nghiệp tăng cao do hoạt động kinh doanh đình trệ. Cầu về lao động trên
thị trường giảm mạnh. Trong suy thoái lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm và giá
chứng khoán thường giảm theo khi các nhà đầu tư cảm nhận được pha đi xuống của
chu kỳ kinh doanh. Cầu về vốn cũng giảm đi làm cho lãi suất giảm xuống trong thời
kỳ suy thoái.
Cuộc khủng khoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu xảy ra năm 2008 tới
nay đã có những ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của các nước, trong đó có Việt
Nam. Vào đầu tháng 10/2008, IMF ước tính thiệt hại của cuộc khủng hoảng tài chính
Mỹ đã lên đến 1,4 nghìn tỷ USD và ngay sau đó là việc hàng loạt các ngân hàng và tập
đoàn tài chính lớn của thế giới tuyên bố phá sản, hoặc được nhà nước cứu bằng quốc
hữu hóa, hoặc bị mua lại với giá rẻ mạt. Kéo theo đó là tình trạng suy thoái trên toàn
thế giới diễn ra nhanh chóng. IMF nhận định, kinh tế thế giới đã tăng trưởng chậm lại
từ mức 5% năm 2007 xuống 3,7% năm 2008 và giảm mạnh chỉ còn khoảng 2,2% vào
năm 2009. Tốc độ tăng trưởng ở khu vực các nước kinh tế phát triển giảm 0,3% vào
năm 2009.
Do tính chất nghiêm trọng và phức tạp của cuộc khủng khoảng tài chính và suy
sẽ tập trung giải quyết các vấn đề sau:
- Tìm hiểu và làm rõ thực trạng hoạt động nhập khẩu vật liệu xây dựng của công
ty trước và trong thời kì suy thoái từ năm 2007 đến quí I/2010, so sánh để thấy được
những tác động tiêu cực của suy thoái kinh tế thế giới đến hoạt động nhập khẩu.
Phạm Thị Loan Phượng Lớp K42E6
2
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
- Đề xuất một số giải pháp để giải quyết những vấn đề khó khăn trước mắt của
công ty. Nêu ra một vài kiến nghị để công ty vượt qua khủng hoảng và phát triển hơn
trong thời gian tới.
Nhận thức được tầm quan trọng của những vấn đề này trong việc giúp doanh
nghiệp có định hướng trong tình hình kinh tế hiện nay, kết hợp giữa những lí luận tiếp
thu được trong quá trình học và tìm hiểu thực tế trong thời gian qua, em đã chọn đề tài:
“Tác động của suy thoái kinh tế thế giới tới hoạt động nhập khẩu mặt hàng vật liệu
xây dựng tại công ty Cổ phần sản xuất dịch vụ xuất nhập khẩu Từ Liêm.”
1.3. Các mục tiêu nghiên cứu
- Khái quát các vấn đề lí thuyết liên quan đến khủng hoảng kinh tế toàn cầu, suy
thoái kinh tế, các ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu và về hoạt động nhập khẩu
nói chung. Phân tích những tác động của suy thoái kinh tế thế giới tới nhập khẩu.
- Điều tra làm rõ thực trạng ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu tới hoạt
động nhập khẩu vật liệu xây dựng của công ty Cổ phần SX DV XNK Từ Liêm trong
giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp khắc phục những tác động tiêu cực của suy thoái
kinh tế thế giới tới hoạt động nhập khẩu của công ty.
1.4. Phạm vi nghiên cứu:
Xuất phát từ tình hình thực tiễn của công ty Cổ phần SX DV XNK Từ Liêm,
luận văn chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi như sau:
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Trong giai đoạn hiện nay từ năm 2006 đến
hết quí I năm 2010. Nghiên cứu trong khoảng thời gian này chúng ta thấy được sự sụt
giảm của doanh thu từ nhập khẩu do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu.
quan tình hình và tác động của suy thoái đến hoạt động xuất khẩu của công ty. Kết quả
điêu tra trắc nghiệm và tổng hợp đánh giá của các chuyên gia. Kết quả phân tích các
dữ liệu thứ cấp.
Chương 4: “Các phát hiện nghiên cứu và đề xuất giải pháp đẩy mạnh nhập
khẩu hàng vật liệu xây dựng trong thời gian tới của công ty CP SX DV XNK Từ
Liêm” Các phát hiện qua nghiên cứu, dự báo triển vọng và quan điểm khắc phục,
phương hướng trong thời gian tới để từ đó đưa ra đề xuất giải pháp, kiến nghị để đẩy
mạnh hoạt động nhập khẩu trong và sau suy thoái kinh tế thế giới.
Phạm Thị Loan Phượng Lớp K42E6
4
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
Chương 2:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ
SUY THOÁI KINH TẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN
HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU
2.1. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản
2.1.1. Khái niệm về suy thoái kinh tế
- Khái niệm suy thoái kinh tế (Economic Downturn)
Trong kinh tế học vĩ mô: “Suy thoái kinh tế là sự suy giảm sản lượng GDP của
một Quốc gia, hoặc tăng trưởng âm, trong vòng từ hai quí liên tiếp trở lên trong một
năm.”
1
Theo quan điểm của NBER
2
suy thoái kinh tế được định nghĩa “là sự sụt giảm
hoạt động kinh tế trong cả nước, kéo dài nhiều tháng.” Như vậy suy thoái kinh tế có
thể bao gồm những suy giảm ngẫu nhiên trong các thước đo của hoạt động kinh tế nói
chung như tỷ lệ thất nghiệp, đầu tư, và lợi nhuận của doanh nghiệp. Suy thoái kinh tế
cũng có thể liên quan với giảm phát hoặc lạm phát trầm trọng.
- Suy thoái kinh tế toàn cầu (Global Economic Downturn)
2.2.1. Các lí luận về suy thoái kinh tế
2.2.1.1. Lí thuyết về chu kì phát triển kinh tế
Chu kì kinh tế, còn gọi là chu kỳ kinh doanh, là sự biến động GDP thực tế theo
trình tự bap ha lần lượt là: Suy thoái, Phục hồi và Hưng thịnh (bùng nổ). Cũng có quan
điểm coi pha phục hồi là thứ yếu nên chu kì kinh doanh chỉ gồm hai pha chính là Suy
thoái và Hưng thịnh.
Hình 2.1. Chu kì phát triển kinh tế
3
3
http://vi.wikipedia.org/wiki/
Phạm Thị Loan Phượng Lớp K42E6
6
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
Suy thoái là pha trong đó GDP thực tế giảm đi. Ở Mỹ và Nhật Bản, người ta
quy định rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm suốt hai quý liên
tiếp thì mới gọi là suy thoái.
Phục hồi là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước suy
thoái. Điểm ngoặt giữa hai pha này là đáy của chu kỳ kinh tế.
Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suy thoái,
nền kinh tế đang ở pha hưng thịnh (hay còn gọi là pha bùng nổ). Kết thúc pha hưng
thịnh lại bắt đầu pha suy thoái mới. Điểm ngoặt từ pha hưng thịnh sang pha suy thoái
mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế.
Thông thường, người ta chỉ nhận ra hai điểm đáy và đỉnh của chu kỳ kinh tế khi
nền kinh tế đã sang pha tiếp sau điểm ngoặt với dấu hiệu là tốc độ tăng trưởng GDP
thực tế đổi chiều giữa mức âm và mức dương. Trong thực tế, các nhà kinh tế học cố
tìm cách nhận biết dấu hiệu của suy thoái vì nó tác động tiêu cực đến mọi mặt kinh tế,
xã hội. Một số đặc điểm thường gặp của suy thoái là:
- Tiêu dùng giảm mạnh, hàng tồn kho của các loại hàng hóa lâu bền
trong các doanh nghiệp tăng lên ngoài dự kiến. Việc này dẫn đến nhà sản xuất cắt
giảm sản lượng kéo theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng giảm và kết quả là
diễn ra đã gần 8 thập kỉ nhưng vẫn ghi dấu ấn là giai đoạn suy sụp kinh tế tồi tệ nhất
trong lịch sử hiện đại. Bắt đầu từ tháng 10 năm 1929 ở Mỹ, sau đó nhanh chóng lan
rộng sang châu Âu và hầu khắp các nước trên thế giới. Kết thúc vào thời điểm chuyển
giao giữa hai thập niên 30 và 40, cuộc suy thoái đã có ảnh hưởng hủy diệt với kinh tế
toàn cầu, cả các nước phát triển và đang phát triển. Mọi khía cạnh của nền kinh tế từ
sản xuất, tiêu dùng, thương mại, thu nhập cá nhân, thị trường lao động, lạm phát… đều
chịu ảnh hưởng xấu. Các nước phụ thuộc nhiều vào công nghiệp và thương mại chịu
tác động sâu sắc nhất. Đến tháng 3 năm 1933 cuộc khủng hoảng đã đạt đến điểm tận
cùng của nó và sau đó dần kết thúc.
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới thứ hai là cuộc khủng hoảng dầu mỏ 1973.
Khủng hoảng dầu mỏ là hậu quả của việc các thành viên OAPEC, gồm tổ chức xuất
khẩu dầu mỏ OPEC và hai nước Ai Cập và Syria, thực hiện cấm vận dầu mỏ với Mỹ
và các quốc gia ủng hộ Isael trong cuộc chiến với Ai Cập và Syria. Trong cuộc khủng
hoảng lần này vấn đề chính là khủng hoảng năng lượng và lương thực, thực phẩm.
Việc bùng nổ giá cả diễn ra do nguồn cung hạn chế trong khi nhu cầu tăng cao, dự trữ
thấp và đặc biệt là sự gia tăng hoạt động của giới đầu cơ quốc tế. Khủng hoảng hàng
hóa đã khiến tình trạng bất ổn xã hội xảy ra ở nhiều quốc gia, đe dọa nghiêm trọng tới
an ninh chính trị.
Phạm Thị Loan Phượng Lớp K42E6
8
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
Cuộc khủng hoảng 2008 là cuộc khủng hoảng nặng nề nhất trong 60 năm trở lại
đây theo đánh giá của IMF. Đây là một cuộc khủng hoảng bao gồm sự đổ vỡ hàng loạt
hệ thống ngân hàng, tình trạng đói tín dụng, tình trạng sụt giá chứng khoán và mất giá
tiền tệ quy mô lớn ở nhiều nước trên thế giới, có nguồn gốc từ khủng hoảng tài chính ở
Hoa Kỳ. Theo thống kê, trong hai năm 2008 và 2009, trên thế giới có 33 ngân hàng bị
mua lại, khoảng 92 ngân hàng tuyên bố phá sản, 6 tổ chức tài chính ở Anh bị phá sản.
Kéo theo đó là sự mất giá của hàng loạt các đồng tiền mạnh như: USD, KRW… Các
nước phát triển nói chung bắt đầu suy giảm tốc độ tăng trưởng từ quý III năm 2007 và
GDP bắt đầu giảm từ quý III năm 2008. Quý IV năm 2008 ghi nhận mức thu hẹp GDP
Isael cùng các đồng minh chính là Mỹ, Nhật và một số nước EU hiện nay. Trong cuộc
chiến này, Ai Cập – Syria ngừng xuất khẩu dầu mỏ sang các nước ủng hộ Isael từ
10/3/1973 đến 4/1974 để hỗ trợ chiến tranh quân sự. Kết quả là dầu mỏ trở nên khan
hiếm ở các quốc gia phương Tây trong khi nhu cầu thì quá lớn, dẫn đến giá dầu tăng
vọt trong một thời gian ngắn. Chính cuộc khủng hoảng năng lượng này đã gây ra cuộc
khủng hoảng kinh tế 1973 – 1975 trên quy mô toàn cầu. Hậu quả của việc cấm vận dầu
lửa này là giá dầu tại thị trường thế giới đã tăng gấp 5 lần từ dưới 20 đôla một thùng
năm 1971 lên đến 100 đôla một thùng vào năm 1979, giá xăng trung bình ở Mỹ cũng
tăng 86% chỉ trong 1 năm từ 1973 – 1974. Cuộc khủng hoảng đồng thời tác động xấu
đến thị trường tài chính, chứng khoán toàn cầu, vốn đã chịu nhiều áp lực sau sự sụp đổ
của chế độ bản vị vàng. Thị trường chứng khoán Mỹ “bốc hơi” 97 tỷ đôla, số tiền
khổng lồ vào thời điểm đó, chỉ sau một tháng rưỡi. Suy thoái và lạm phát diễn ra tràn
lan gây ảnh hưởng tới kinh tế Mỹ và nhiều quốc gia khác cho tới tận thập niên 80.
Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 mang cả yếu tố nội
sinh lẫn yếu tố ngoại sinh.
- Nguyên nhân ngoại sinh đó chính là khủng hoảng hàng hóa, mà cụ thể
là năng lượng và lương thực, thực phẩm. Giá gạo đã tăng lên trên 1000 USD/tấn vào
tháng 4/2008 và giá dầu lên mức 147 USD/thùng vào tháng 7/2008. Việc bùng nổ giá
cả diễn ra do nhu cầu tăng lên khi nguồn cung hạn chế và đặc biệt là sự can thiệp của
giới đầu cơ quốc tế. Khủng hoảng hàng hóa đã khiến tình trạng bất ổn xảy ra ở nhiều
quốc gia, đe dọa nghiêm trọng tới an ninh, chính trị. Hàng loạt các cuộc biểu tình, bạo
động đã diễn ra ở Ai Cập, Bờ Biển Ngà, Ca-mơ-run, Hai-ti, Mô-ri-ta-ni, E-thi-o-pi-a,
Ma-đa-gát-xca, Phi-lip-pin và In-đô-nê-xi-a…phản đối việc giá lương thực tăng quá
nhanh.
Phạm Thị Loan Phượng Lớp K42E6
10
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
- Nguyên nhân nội sinh là do khủng hoảng cơ cấu, cụ thể là tập trung quá
nhiều vào thị trường bất động sản, chứng khoán và tín dụng ngân hàng. Cuộc khủng
hoảng này bắt nguồn từ sự sụp đổ của hệ thống tài chính Hoa Kì sau đó lan rộng ra
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
trường phát triển quá nóng, không còn tuân theo quy luật cung cầu, đã dẫn đến sự rối
loạn trong hoạt động của hệ thống tài chính – ngân hàng.
Tóm lại, nguyên nhân của các cuộc khủng hoảng đều mang những nét tương
đồng, đó là do những sai lầm trong hệ thống quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế của
nhà nước. Sự phát triển toàn cầu hóa nền kinh tế khiến cho các cuộc khủng hoảng
không chỉ dừng lại tại một nước và nhanh chóng lan ra toàn cầu.
2.2.2. Các lí luận về hoạt động nhập khẩu
Nhập khẩu là một hoạt động của thương mại quốc tế, nó hầu như diễn ra ở mọi
lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế, từ nhập khẩu hàng hóa tiêu dung đến nhập khẩu tư liệu
sản xuất, từ máy móc thiết bị cho đến các máy móc công nghệ kĩ thuật cao, từ hàng
hóa hữu hình đến hàng hóa vô hình (dịch vụ). Tất cả đều nhằm mục đích bổ sung các
hàng hóa chưa sản xuất được ở trong nước, hoặc sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu
trong nước.
• Các hình thức nhập khẩu
- Nhập khẩu thông thường (nhập khẩu trực tiếp): là hình thức nhập khẩu độc
lập của một doanh nghiệp thực hiện nhập khẩu trực tiếp các hàng hoá dịch vụ mà
không qua tổ chức trung gian nào.
- Nhập khẩu uỷ thác: là hoạt động hình thành giữa một doanh nghiệp có vốn và
có nhu cầu nhập khẩu một số loại hàng hoá nhưng lại không có quyền tham gia nhập
khẩu trực tiếp, nên phải uỷ thác cho một doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao
dịch tiến hành nhập khẩu theo yêu cậu của mình. Bên uỷ thác sẽ tiến hành đàm phán
với đối tác nước ngoài để nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của bên đi uỷ thác và nhận
được nhận một khoản thu lao gọi là phí uỷ thác. (Nói cách khác nhập khẩu uỷ thác là
doanh nghiệp nhập khẩu đóng vai trò trung gian nhập khẩu).
- Nhập khẩu liên doanh: là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết
kinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp nhằm phối hợp kỹ năng để giao
dịch và đề ra chủ trương, biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy
hoạt động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho hai bên theo nguyên tắc lãi cung
chia lỗ cùng chịu.
gia, đặc trưng của nhập khẩu cũng tồn tại hai quan điểm:
Trong thương mại quốc tế cổ điển, hoạt động nhập khẩu chỉ là nhập khẩu hàng
hoá đơn thuần, là hoạt động phát sinh tự phát giữa cả hai bên tham gia và cùng thu lợi
nhuận.
Phạm Thị Loan Phượng Lớp K42E6
13
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
Theo thương mại quốc tế hiện đại, hoạt động nhập khẩu không chỉ dừng lại ở
nhập khẩu hàng hoá mà còn bao gồm cả dịch vụ. Hoạt động nhập khẩu diễn ra một
cách đa dạng, nhanh chóng và tiện lợi hơn rất nhiều so với trong TMQT cổ điển.
Như vậy, hoạt động nhập khẩu được diễn ra trong mọi lĩnh vực, mọi điều kiện
kinh tế, từ nhập khẩu hàng hoá tiêu dùng đến nhập khẩu tư liệu sản xuất, máy móc
thiết bị công nghệ kỹ thuật cao, từ hàng hoá hữu hình đến hàng hoá vô hình (dịch vụ).
Hoạt động nhập khẩu luôn hàm chứa các yếu tố quốc tế như: giá cả, phương
thức và phương tiện thanh toán, chủ thể tham gia…Dưới đây là một số yếu tố tác động
đến hoạt động nhập khẩu:
+ Tình hình kinh tế của quốc gia nhập khẩu: Tốc độ tăng trưởng kinh tế,
cán cân thương mại,…
+ Nhập khẩu phụ thuộc vào thu nhập của người cư trú trong nước, thu
nhập của người dân trong nước càng cao, thì nhu cầu của hàng đối với hàng hóa và
dịch vụ nhập khẩu càng cao.
+ Nguồn cung trong nước, khi việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ trong
nước không đủ hoặc không đáp ứng được các yêu cầu tiêu dùng thì nhu cầu nhập khẩu
sẽ tăng.
+ Tỷ giá hối đoái, khi tỷ giá hối đoái tăng, thì giá hàng nhập khẩu tính
bằng nội tệ trở nên cao hơn; do đó, nhu cầu nhập khẩu giảm đi.
+ Chính sách kinh tế - chính trị, luật pháp của quốc gia nhập khẩu như:
thuế nhập khẩu, hạn ngạch, các rào cản tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực
phẩm…
2.2.3. Tác động của suy thoái kinh tế đến hoạt động nhập khẩu
- Nhu cầu của thị trường, trong bối cảnh suy thoái kinh tế, sản xuất gặp
khó khăn, nhiều nhà máy, công xưởng phải đóng cửa khiến tình trạng thất nghiệp gia
tăng, thu nhập của người dân thấp dẫn đến việc họ cắt giảm chi tiêu của mình, ưu tiên
hơn đối với những mặt hàng thiết yếu. Điều này đã dẫn đến nhu cầu về hàng hoá và
dịch vụ bị sụt giảm, cùng với đó, nhu cầu nhập khẩu ở các quốc gia cũng giảm.
- Xuất nhập khẩu luôn đi kèm với tình hình biến động thị trường của mỗi
quốc gia. Trong giai đoạn suy thoái hiện nay, khi mà hoạt động của mỗi công ty, tập
đoàn không giới hạn biên giới nữa thì ảnh hưởng dây chuyền đó lại nghiêm trọng hơn
bao giờ hết. Thị trường xuất khẩu suy thoái, thị trường nhập khẩu suy thoái, hàng hóa
ít, nhu cầu giảm, dẫn đến hoạt động thương mại quốc tế suy tụt.
Phạm Thị Loan Phượng Lớp K42E6
15
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
- Bên cạnh những tác động đó, suy thoái kinh tế 2008 bắt nguồn từ
khủng hoảng tài chính và cũng ảnh hưởng tiêu cực nhất ở lĩnh vực đó xét trên bình
diện toàn thế giới. Hàng loạt ngân hàng và tổ chức tài chính sụp đổ, hoạt động tín dụng
gặp nhiều khó khăn thách thức. Nguồn vốn của cả hệ thống kinh tế bị đe dọa dẫn đến
sản lượng hàng hóa tụt giảm, sản xuất và tiêu dùng đều khó khăn. Do đó, thương mại
quốc tế biến động theo chiều hướng đi xuống là điều không thể tránh khỏi.
- Suy thoái kinh tế cũng có những tác động tiêu cực đến các doanh
nghiệp nhập khẩu, hàng loạt các tổ chức tín dụng, ngân hàng lớn trên thế giới tuyên bố
phá sản, khiến cho thị trường tài chính lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng,
việc huy động vốn của các doanh nghiệp khó khăn hơn bao giờ hết, dẫn đến nguồn
vốn để hỗ trợ cho hoạt động nhập khẩu cũng như khả năng thanh toán bị hạn chế.
- Đối với các doanh nghiệp sản xuất trong nước, do tác động của suy
thoái kinh tế, nhu cầu tiêu dùng giảm xuống làm cho hàng hoá sản xuất ra tiêu thụ
chậm, hoạt động sản xuất bị ngưng trệ, các doanh nghiệp sẽ cắt giảm đầu tư, giảm
nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, công nghệ (những yếu tố quan trọng
phục vụ cho hoạt động sản xuất). Điều này cũng dẫn đến làm giảm lượng hàng hoá
nhập khẩu.
tới Việt Nam, đã xuất hiện hai đề tài nghiên cứu về suy thoái kinh tế và tác động của
nó đến hoạt động xuất khẩu ở phân mục Luận văn tốt nghiệp của trường Đại học
Thương mại.
Đề tài 1: “Tác động của suy thoái kinh tế thế giới tới hoạt động xuất khẩu hàng dệt
may sang thị trường Hoa Kỳ tại công ty Cổ phần may Sông Hồng và các giải pháp”
– sinh viên Trần Thị Nguyệt Minh – Lớp K41E5 – thực hiện năm 2009.
Trong đề tài này, nội dung chủ yếu tập trung vào các vấn đề sau:
Nêu một số lí thuyết liên quan đến suy thoái kinh tế toàn cầu và tác động của nó
tới hoạt động xuất khẩu.
Tìm hiểu những tác động tiêu cực của suy thoái đến hoạt động kinh doanh xuất
khẩu của công ty CP may Sông Hồng
Đề xuất một số giải pháp khắc phục.
Đề tài 2: “Tác động của suy thoái kinh tế thế giới tới hoạt động xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ sang thị trường Nhật Bản tại công ty Cổ phần xuất nhập khẩu thủ
công mỹ nghệ Artexport và các giải pháp khắc phục” – sinh viên Nguyễn Hoàng
Lương – Lớp K41E1 – thực hiện năm 2009.
Phạm Thị Loan Phượng Lớp K42E6
17
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
Trong đề tài này, nội dung chủ yếu cũng tương tự như trong đề tài trên. Luận văn cũng
nêu lên thưc trạng tác động của suy thoái đến hoạt động xuất khẩu của công ty và nêu
lên các hướng khắc phục.
Hiện nay, trong thương mại quốc tế, suy thoái kinh tế không chỉ ảnh hưởng đến
hoạt động xuất khẩu mà còn tác động nặng nề đến các hoạt động nhập khẩu. Thông
qua việc nghiên cứu, điều tra xu thế nói chung và đặc biệt là sau thời gian thực tập ở
công ty Cổ phần sản xuất dịch vụ xuất nhập khẩu Từ Liêm đã thấy rằng suy thoái kinh
tế làm giảm đáng kể kim nghạch nhập khẩu mặt hàng vật liệu xây dựng – là mặt hàng
nhập khẩu chủ lực của doanh nghiệp.
Do đó, vấn đề trong đề tài là một vấn đề mới, bổ sung các lí luận về suy thoái
kinh tế đến hoạt động nhập khẩu, đồng thời phân tích thực tế tình hình nhập khẩu mặt
doanh nghiệp nhập khẩu còn chịu sự cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp sản xuất
trong nước về giá bán với các sản phẩm bán dưới giá thành sản xuất do có sự bảo hộ
của nhà nước.
- Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, đặc biệt là nguồn vốn ODA giảm
mạnh dẫn đến xây dựng cơ bản ít hơn những năm trước – một trong những đối tác
thường xuyên và chắc chắn nhất bị hạn chế.
- Bên cạnh đó doanh nghiệp cũng đang phải đứng trước những áp lực về
thị trường. Các đối tác nước ngoài là bạn hàng quen thuộc của công ty như: Nhật Bản,
Hàn Quốc, Ấn Độ, Đức, Ý…đều bị ảnh hưởng mạnh của suy thoái dẫn đến nguồn
cung gặp nhiều bất cập, khó khăn trong quá trình đặt hàng và giao nhận.
- Huy động vốn trong doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn. Kinh doanh
trong suy thoái, khi mà nền kinh tế lạm phát tăng cao, các ngân hàng huy động vốn với
lãi suất cao, cho vay hạn chế việc doanh nghiệp muốn mở rộng nhập khẩu cũng rất nan
giải. Nhập khẩu theo đơn đặt hàng, doanh nghiệp luôn phải chi một lượng vốn trước
để tăng hiệu quả nhập khẩu. Tuy nhiên, việc làm đó lại làm tăng rủi ro cho doanh
nghiệp.
Sự không ổn định của đồng đôla Mỹ. Bất kì doanh nghiệp nào khi tham gia vào thị
trường quốc tế thì tỷ giá cũng trở thành một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn đi sâu phân tích thực trạng tại công
ty trong 4 năm gần đây, số liệu tổng hợp và xem xét từ năm 2007 đến quý I năm 2010,
tập trung chủ yếu phân tích về sự sụt giảm doanh thu, sụt giảm đơn hàng, giá trị đơn
hàng tại các thị trường khác nhau để thấy được mức độ ảnh hưởng của suy thoái đến
nhập khẩu của công ty. Bên cạnh đó, dự báo về tình hình kinh tế thế giới, kinh tế Việt
Phạm Thị Loan Phượng Lớp K42E6
19
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
Nam trong những năm tới, xem xét quan điểm giải quyết của ngành, của bản thân công
ty để đưa ra một vài phát hiện và giải pháp giúp công ty phát triển ổn định hơn.
Chương 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ
thời gian tới.
Kết quả điều tra thu được là thông qua việc điều tra bằng phiếu kết hợp
với phỏng vấn trực tiếp và ghi chép lại trong thời gian thực tập và nghiên cứu thực tế
công ty nói chung cũng như công việc của phòng kinh doanh xuất nhập khẩu nói riêng.
• Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp qua phiếu phiếu điều tra
Nội dung: Xây dựng phiếu điều tra gồm 13 câu, dưới dạng kết hợp câu
hỏi đóng và mở nhằm thu được những thông tin cần thiết, đúng mục đích điều tra mà
vẫn đảm bảo đầy đủ. Nội dung tập trung chủ yếu về tổng quan ảnh hưởng của suy
thoái dưới góc độ doanh thu và thị phần. Khái quát một vài vấn đề liên quan đến hoạt
động nhập khẩu của công ty trong suy thoái và những giải pháp khắc phục.
Số lượng: Bảng câu hỏi được lập thành 10 phiếu và tiến hành điều tra
trong công ty, cụ thể là nhân viên phòng kinh doanh 10 (5 phiếu), tổng giám đốc, 2
phó tổng giám đốc, trưởng phòng kế toán và trưởng phòng kinh doanh 10. Đây là
những người trực tiếp điều hành, giám sát và thực hiện cũng như tham mưu cho tổng
giám đốc những vấn đề liên quan trong phạm vi chức năng của họ. Vì vậy, phiếu điều
tra tập trung vào những đối tượng này sẽ thu được kết quả chính xác và rõ rang nhất.
3.1.1.2. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Bên cạnh việc thu thập các dữ liệu sơ cấp, còn tiến hành thu thập dữ liệu thứ
cấp thông qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu, cụ thể là của mặt
hàng vật liệu xây dựng trong năm 2007, 2008, 2009 và quý I/2010. Ngoài ra còn các
thông tin từ báo chí, các website liên quan.
3.1.2. Phương pháp phân tích số liệu
Sau khi thu thập được số liệu, tiến hành xử lý các dữ liệu đó bằng các phương
pháp thống kê, phân tích, tổng hợp để đưa ra kết luận về tình hình nhập khẩu của
doanh nghiệp trong giai đoạn suy thoái kinh tế thế giới.
- Tiến hành thu thập dữ liệu thông qua tổng hợp các phiếu điều tra, phiếu câu
hỏi phỏng vấn, sắp xếp các ý kiến giống và khác nhau để tiến hành xử lí
- Ở phiếu điều tra thống kê số liệu theo tỷ lệ phần trăm, xem xét tỷ lệ cao nhất
và thấp nhất tương ứng với mục nào.
Phạm Thị Loan Phượng Lớp K42E6
Á, châu Phi, Mỹ Latin và châu Phi.
Phạm Thị Loan Phượng Lớp K42E6
22
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
5. Giá cổ phiếu giảm mạnh: Cuộc khủng hoảng tín dụng đã gây ra tình trạng
thắt chặt thanh khoản và tín dụng trên Wall Street. Tình trạng này cũng đã lan rộng ra
thị trường tài chính nhiều nước trên thế giới. Một lượng trái phiếu bất động sản chứa
đựng đầy rủi ro và nợ thế chấp của Mỹ đã được bán cho các nhà đầu tư nước ngoài dẫn
đến thất thoát tài chính và sự vỡ nợ của các nhà đầu tư trong những nền kinh tế lớn.
Cuối cùng, trong thế giới phẳng ngày nay, sự phụ thuộc lẫn nhau thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế tại các quốc gia vào những thời điểm tốt đẹp. Nhưng không may, chính
những ràng buộc thương mại và tài chính này cũng đồng nghĩa với việc tăng trưởng
yếu đi ở nơi này sẽ kéo theo tăng trưởng ở những nơi khác. Suy thoái kinh tế toàn cầu
2008 đã tác động đến hầu hết các nền kinh tế trên thế giới và Việt Nam cũng không
phải một ngoại lệ. Lạm phát làm giá tiêu dùng tăng cao, cầu về hàng hóa giảm sút dẫn
đến các doanh nghiệp sản xuất gặp nhiều khó khăn, hoạt động nhập khẩu theo đó cũng
bị ảnh hưởng khá nhiều.
• Môi trường chính trị - xã hội
Suy thoái kinh tế trong những năm vừa qua đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến
mọi mặt của đời sống xã hội. Chính trị bất ổn ở nhiều nơi do nạn thất nghiệp gia tăng.
Ví dụ như ở châu Âu tỷ lệ thất nghiệp chung của khu vực này đứng ở mức 8,3%, tăng
hơn so với 8,1% trong tháng trước và cao hơn nhiều so với con số 6,7% cùng kỳ năm
ngoái. Hà Lan là quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất, đứng ở mức 2,8%. Trong khi
con số này ở Đức là 7,6%, còn Pháp thì tăng từ 8,6% lên 8,8%. Các nước đang phát
triển cũng chịu chung số phận khi mà hàng triệu công nhân trên toàn vùng Châu Á mất
việc vì các công ty, xí nghiệp phải cắt giảm sản xuất hay đóng cửa.
• Tình hình tại một số Quốc gia trên thế giới
Trung Quốc và Nhật Bản là hai thị trường nhập khẩu chủ yếu và quan trọng
nhất đối với công ty. Do đó, suy thoái kinh tế ảnh hưởng đến các thị trường này cũng
làm cho doanh nghiệp ảnh hưởng theo.
Các biện pháp kích cầu của chính phủ Nhật đã thúc đẩy kinh tế phát triển, bao
gồm cả việc giao tiền mặt cho dân chi tiêu, trợ cấp mua xe tiết kiệm nhiên liệu và thiết
bị gia đình.
Ngành sản xuất cũng bắt đầu hưởng lợi khi nhu cầu từ Trung Quốc và các thị
trường khác phục hồi. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, Nhật Bản có thể còn cả con
đường dài phía trước để có được sự phục hồi ổn định.
Kinh tế Nhật Bản phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu. Nhưng trong giai đoạn suy
thoái, xuất khẩu của Nhật đã giảm 45%. Suy thoái kinh tế ngày một sâu rộng khiến
người tiêu dùng các nước hạn chế chi tiêu.
Phạm Thị Loan Phượng Lớp K42E6
24
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
Trong báo cáo gần đây, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đưa ra đánh giá khá
thận trọng về kinh tế. Trong khi khẳng định, kinh tế Nhật đã không còn trở nên tồi tệ
hơn, thì ngân hàng này cũng cảnh báo, tỉ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao và tiêu dùng
chưa được cải thiện. Nền kinh tế trở nên tồi tệ đã hạn chế sản xuất trong nước phát
triển, xuất khẩu giảm mạnh không chỉ đối với các thị trường lớn như Mỹ và EU mà
ngay cả ở những nước có nền kinh tế đang phát triển.
3.2.2. Tổng quan về cuộc suy thoái kinh tế thế giới và ảnh hưởng của nó đến tới
hoạt động nhập khẩu hàng vật liệu xây dựng của công ty CP SXDVXNK Từ Liêm
3.2.2.1. Tình hình suy thoái ở Việt Nam
Về kinh tế nói chung: Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy thoái kinh tế
đã làm chậm tốc độ phát triển kinh tế của Việt Nam. Kể từ quý ba năm 2008, giá hàng
hóa thế giới có xu hướng giảm, trong quý bốn năm 2008, các đơn hàng xuất khẩu đối
với các sản phẩm dệt may và các sản phẩm công nghiệp khác đã sụt giảm và sự trì trệ
trong sản xuất ngày càng hiện rõ. Trong quý một năm 2009, tác động của khủng hoảng
đã trở nên rõ ràng khi GDP chỉ tăng 3,1% so với năm trước, và thấp hơn 4 phần trăm
so với mức tăng trưởng bình quân của quí một của một vài năm trước. Tuy nhiên, nhờ
có những nỗ lực của chính phủ nhằm hỗ trợ các hoạt động kinh tế, những dấu hiệu tích
cực của sự phục hồi cũng đang xuất hiện. Chính phủ đã công bố gói kích thích bao