Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán - Kiểm toán
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRONG DOANH
NGHIỆP THƯƠNG MẠI
1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu về kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới đã và đang trở thành một trong những
xu thế chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại. Những phát triển mạnh mẽ về
khoa học và công nghệ đã góp phần đẩy mạnh quá trình quốc tế hóa nền kinh tế thế
giới. Thương mại thế giới đã phát triển lên nhanh chóng, thúc đẩy mạnh mẽ sự hội
nhập và giao lưu kinh tế giữa các nước trong và ngoài khu vực, góp phần làm cho sản
xuất trong nước phát triển. Điều này đòi hỏi hàng hóa phải ngày càng phong phú, đa
dạng về mẫu mã, chủng loại, đồng thời nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh. Tuy
nhiên để làm được điều này cũng đặt ra cho doanh nghiệp không ít khó khăn trong việc
tiêu thụ hàng hóa, bởi càng mở rộng thì mức độ cạnh tranh càng cao. Bên cạnh việc
nâng cao chất lượng sản phẩm trong quá trình sản xuất, doanh nghiệp còn phải không
ngừng đề ra các giải pháp nhằm nâng cao doanh số hàng bán, thực hiện tốt khâu bán
hàng. Bởi vì, chỉ khi bán được hàng hóa thì doanh nghiệp mới có thể hạn chế được rủi ro
trong kinh doanh, có thu nhập để bù đắp chi phí, tăng nhanh tốc độ lưu chuyển vốn. Đây
cũng là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp tạo được nhiều việc làm cho người lao động,
cải thiện đời sống vật chất,tinh thần cho họ và thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước.
Kế toán đóng vai trò là một công cụ quản lí hiệu quả trong việc phản ánh, tổ chức
thông tin, phục vụ đắc lực cho việc chỉ đạo sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mỗi
doanh nghiệp tùy theo loại hình kinh doanh, quy mô sản xuất kinh doanh mà bộ máy
kế toán sẽ được tổ chức theo các mô hình khác nhau. Tuy nhiên, xét riêng đối với
doanh nghiệp thương mại thì một bộ phận được xem như không thể thiếu trong bộ máy
kế toán là bộ phận kế toán bán hàng. Bởi các thông tin liên quan đến tình hình tiêu thụ
hàng hóa nói riêng và tình hình sản xuất kinh doanh nói chung của doanh nghiệp không
những là mối quan tâm của các nhà lãnh đạo và nhân viên trong doanh nghiệp mà còn
là mối quan tâm của các cơ quan , đơn vị bên ngoài doanh nghiệp, như: các nhà đầu tư,
SV: Trần Thị Thu Thuỷ Lớp: K43D4
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán - Kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán - Kiểm toán
1.2. Xác lập và tuyên bố đề tài
Qua quá trình thực tập tại công ty cổ phần sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu
Lam Sơn kết hợp với thu thập thông tin bằng việc phát phiếu điều tra trắc nghiệm. Em
nhận thấy, bộ phận kế toán bán hàng thức ăn chăn nuôi tại công ty tuy đã đạt được
nhiều ưu điểm nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định.
Tổ chức được một bộ phận kế toán bán hàng hợp lý và hiệu quả là mối quan tâm của
không chỉ những người làm kế toán mà còn là mối quan tâm của các cấp lãnh đạo trong
công ty cũng như các đối tượng sử dụng thông tin kế toán bên ngoài công ty. Đặc biệt
mặt hàng thức ăn chăn nuôi lại là mặt hàng chủ yếu mang lại doanh thu cho công ty.
Chính vì thế bộ phận kế toán bán hàng thức ăn chăn nuôi có một vai trò hết sức quan
trọng. Nhận thức được điều này, em đã lựa chọn đề tài: “Kế toán bán hàng thức ăn
chăn nuôi tại Công ty cổ phần sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu Lam Sơn”
để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu về kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại
Trước hết, nghiên cứu về kế toán bán hàng giúp em hệ thống hóa, bổ sung và
hoàn thiện hơn các kiến thức về kế toán nói chung và kế toán bán hàng nói riêng bao
gồm : các chuẩn mực kế toán , chế độ kế toán, luật kế toán và các văn bản pháp quy có
liên quan do Bộ tài chính ban hành.
Thứ hai, khảo sát và phân tích thực trạng kế toán bán hàng nói chung và kế toán
bán hàng thức ăn chăn nuôi nói riêng tại công ty cổ phần sản xuất kinh doanh và xuất
nhập khẩu Lam Sơn nhằm đánh giá những kết quả đã đạt được , những hạn chế còn tồn
tại và nguyên nhân của những hạn chế đó.
Thứ ba, từ thực trạng này đề xuất ra các quan điểm, phương hướng giải quyết
những hạn chế còn tồn tại nhằm hoàn thiện bộ phận kế toán bán hàng cũng như bộ máy
kế toán của công ty.
1.4. Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu
Nghiên cứu kế toán bán hàng thuộc công ty cổ phần sản xuất kinh doanh và xuất
nhập khẩu LAM SƠN, khu công nghiệp , ngã ba Đông La, Đông Hưng, Thái Bình.
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán - Kiểm toán
CHƯƠNG 2
TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
2.1. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản
Theo mục a đoạn 2 chuẩn mực kế toán số 14- “Doanh thu và thu nhập khác ”:
Bán hàng :
Bán hàng là bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra và bán hàng hóa mua vào.
Theo đoạn 3 ,VAS 14: “ Doanh thu và thu nhập khác”
Doanh thu:
Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kì kế
toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp
góp phần tăng vốn chủ sở hữu.
Giảm giá hàng bán:
Giảm giá hàng bán là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm
chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.
Chiết khấu thương mại
Chiết khấu thương mại là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách
hàng mua hàng với khối lượng lớn. Trường hợp mua hàng nhiều lần mới đạt đến lượng
hàng được hưởng chiết khấu thương mại thì khoản chiết khấu thương mại này được ghi
giảm trừ vào giá bán trên hóa đơn lần cuối cùng.
Hàng bán bị trả lại
Hàng bán bị trả lại là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách
hàng trả lại và từ chối thanh toán.
Chiết khấu thanh toán
Chiết khấu thanh toán là khoản tiền người bán giảm trừ cho người mua, do người
mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn hợp đồng.
Theo mục 2.2 phần IV thông tư 89/2002/TT-BTC ban hành ngày 9/10/2002 của
Bộ tài chính hướng dẫn kế toán thực hiện 4 chuẩn mực kế toán ban hành theo quyết
định 149/2001/BTC :
hàng hóa mà mình cần sau đó mang đến bộ phận thu tiền để thanh toán, nhân viên thu
tiền sẽ tiến hành thu tiền và lập hóa đơn bán hàng.
SV: Trần Thị Thu Thuỷ Lớp: K43D4
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán - Kiểm toán
Hình thức bán hàng trả góp : theo hình thức này, người mua được trả tiền mua
hàng thành nhiều lần trong một thời gian nhất định và người mua phải trả cho DN bán
hàng một số tiền lớn hơn giá bán trả tiền một lần.
Phương thức bán hàng đại lý:
Phương thức bán hàng đại lý là phương thức bán hàng mà trong đó DN thương
mại giao hàng cho cơ sở nhận bán đại lý, ký gởi để các cơ sở này trực tiếp bán hàng.
Sau khi bán được hàng, cơ sở đại lý thanh toán tiền hàng cho DNTM và được hưởng
một khoản tiền gọi là hoa hồng đại lý. Số hàng chuyển giao cho các cơ sở đại lý vẫn
thuộc quyền sở hữu của các DNTM, đến khi nào cơ sở đại lý thanh toán tiền bán hàng
hoặc chấp nhận thanh toán thì nghiệp vụ bán hàng mới hoàn thành.
2.2.2. Các phương thức thanh toán
Sau khi giao hàng cho bên mua và được chấp nhận thanh toán thì bên bán có thể
nhận tiền hàng theo nhiều phương thức khác nhau tùy thuộc vào sự tín nhiệm, thỏa
thuận giữa hai bên mà lựa chọn phương thức thanh toán cho phù hợp. Hiện nay các
DNTM thường áp dụng các phương thức thanh toán sau:
Phương thức thanh toán trực tiếp:
Phương thức thanh toán trực tiếp là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về
tiền tệ sẽ được chuyển từ người mua sang người bán ngay sau khi quyền sở hữu hàng
hóa bị chuyển giao. Thanh toán trực tiếp có thể bằng tiền mặt, ngân phiếu, séc hoặc có
thể bằng hàng hóa (nếu bán theo phương thức hàng đổi hàng), ở hình thức này sự vận
động của hàng hóa gắn liền với sự vận động của tiền tệ.
Phương thức thanh toán trả chậm:
Phương thức thanh toán trả chậm là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về
tiền tệ sẽ được chuyển giao sau một khoảng thời gian so với thời điểm chuyển quyền
sở hữu về hàng hóa, do đó hình thành khoản công nợ phải thu khách hàng. Nợ phải thu
cần được hạch toán, quản lí chi tiết cho từng đối tượng phải thu và ghi chép theo từng
toán, vì điều này cũng liên quan trực tiếp tới kế toán bán hàng.
Không chỉ có các chuyên đề, luận văn nghiên cứu về kế toán bán hàng mà có rất
nhiều các tài liệu , tạp chí cũng đề cập tới những vấn đề liên quan đến kế toán bán hàng.
SV: Trần Thị Thu Thuỷ Lớp: K43D4
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán - Kiểm toán
Bài viết: vận dụng nguyên tắc thực hiện đối với ghi nhận doanh thu trong kế toán
của TS Lê Văn Liên –THS Nguyễn Thị Hồng Vân (Theo Tạp chí Kế toán) có đề cập
tới việc vận dụng nguyên tắc thực hiện để kế toán doanh thu bán hàng trong một số
trường hợp đặc biệt. Sau đây em xin trích dẫn bài viết này :
Bán hàng qua đại lý :
Để tăng DT bán hàng thì cần thiết phải tăng các địa điểm bán hàng. Nếu chỉ bán
hàng tại các điểm bán của đơn vị kế toán, DT bán hàng sẽ bị hạn chế. Khi đó, bán hàng
qua các đại lý là phương thức được lựa chọn, tức là nhờ đơn vị khác bán hộ hàng hóa
đồng thời thanh tóan cho bên bán hàng hộ một khoản tiền hoa hồng đại lý. Mối quan hệ
này có thể được biểu diễn theo sơ đồ sau:
Bên gửi hàng bán đại lý có thể ghi nhận DT vào một trong các thời điểm sau:
ngày bên đại lý bán được hàng; hoặc ngày nhận được hồ sơ thanh toán từ bên đại lý;
hoặc ngày nhận được tiền bán hàng từ bên đại lý.
Nếu vận dụng theo nguyên tắc thực hiện, DT sẽ được ghi nhận vào ngày bên đại
lý bán được hàng (tiêu chuẩn bán haán sẽ là ngày hàng gửi bán đại lý được xác định là
tiêu thụ.
Bán hàng trả góp:
Bán hàng trả góp là phương thức bán hàng tiến hành thanh toán tiền hàng nhiều
lần Tiền bán hàng có thể được thanh toán theo tuần, tháng quý hoặc năm. Trong
trường hợp những hàng hóa có giá trị cao, bên mua khó có thể thanh toán tiền mua một
lần. Trong những tình huống đó, bán hàng theo phương thức trả góp là phổ biến.
Vận dụng nguyên tắc thực hiện để ghi nhận daonh thu trong trường hợp bán hàng
trả góp, doanh thu sẽ được ghi nhận vào ngày hàng hóa được giao cho bên mua. Như
vậy, doanh thu bán hàng trả góp được ghi nhận trên cơ sở tiêu chuẩn bán hàng. Theo
đó, bán hàng trả góp và bán hàng thông thường không có sự khác biệt”.
thì giao dịch không được coi là hoạt động bán hàng và doanh thu không được ghi nhận.
SV: Trần Thị Thu Thuỷ Lớp: K43D4
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán - Kiểm toán
Nếu doanh nghiệp chỉ còn phải chịu một phần nhỏ rủi ro gắn liền với quyền sở
hữu hàng hóa thì việc bán hàng được xác định và doanh thu được ghi nhận.
Doanh thu bán hàng chỉ được ghi nhận khi đảm bảo là DN nhận được lợi ích kinh
tế từ giao dịch. Trong trường hợp lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng còn phụ thuộc
yếu tố không chắc chắn thì chỉ ghi nhận doanh thu khi yếu tố không chắc chắn này đã
xử lí xong. Nếu doanh thu đã được ghi nhận trong trường hợp chưa thu được tiền thì
khi xác định khoản tiền nợ phải thu này là không thu được thì phải hạch toán vào chi
phí sản xuất kinh doanh trong kì mà không được ghi giảm doanh thu. Khi xác định
khoản phải thu là không chắc chắn thu được thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi
mà không ghi giảm doanh thu. Các khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là
không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi.
Doanh thu và chi phí liên quan tới cùng một giao dịch phải được ghi nhận đồng
thời theo nguyên tắc phù hợp.
Xác định doanh thu:
Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lí của các khoản thu được hoặc sẽ thu
được.
Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa DN và bên
mua hoặc sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản thu hoặc sẽ
thu sau khi trừ các khoản chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và hàng bán trả lại.
Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì doanh
thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được
trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỉ lệ lãi suất hiện
hành. Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa
sẽ thu được trong tương lai.
Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương
tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo ra
doanh thu.
nghiệp kinh doanh có ít loại mặt hàng, hàng tồn kho có giá trị lớn, mặt hàng ổn định
và loại hàng tồn kho nhận diện được thì mới có thể áp dụng. Còn đối với những doanh
nghiệp có nhiều loại hàng thì không thể áp dụng được phương pháp này.
SV: Trần Thị Thu Thuỷ Lớp: K43D4
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán - Kiểm toán
Phương pháp giá bình quân:
Theo phương pháp này giá trị của từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị
trung bình của từng loại hàng tồn kho đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được
mua trong kỳ. Phương pháp bình quân có thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi
nhập hàng , phụ thuộc vào tình hình của doanh nghiệp.
Theo giá bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ:
Theo phương pháp này đến cuối kỳ mới tính trị giá vốn của hàng xuất kho trong
kỳ. Tùy theo kỳ dự trữ của doanh nghiệp áp dụng mà kế toán căn cứ vào giá mua, giá
nhập, lượng hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ để tính giá đơn vị bình quân:
Phương pháp này khá đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính toán một lần vào cuối kỳ.
Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm là công tác kế toán dồn vào cuối kỳ ảnh
hưởng đến tiến độ của các phần hành khác. Hơn nữa, phương pháp này chưa đáp ứng
yêu cầu kịp thời của thông tin kế toán ngay tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ.
Theo giá bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập:
Sau mỗi lần nhập sản phẩm, vật tư , hàng hóa, kế toán phải xác định lại giá trị
thực của hàng tồn kho và giá đơn vị bình quân. Căn cứ vào giá đơn vị bình quân và
lượng xuất giữa hai lần nhập , kế toán tính giá xuất theo công thức:
Giá đơn vị bình quân
sau mỗi lần nhập
=
Trị giá thực tế vật tư, SP, hàng hoá tồn kho sau
mỗi lần nhập
Số lượng vật tư, SP, hàng hoá thực tế tồn kho sau
mỗi lần nhập
của mặt hàng đó.
Tuy nhiên, phương pháp này cũng có nhược điểm làm cho doanh thu hiện tại
không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại. Theo phương pháp này, doanh thu
hiện tại được tạo ra bởi giá trị sản phẩm, vật tư,hàng hóa đã có từ rất lâu. Đồng thời
nếu số lượng chủng loại nhiều, phát sinh nhập xuất liên tục dẫn đến những chi phí cho
việc hạch toán cũng như khối lượng công việc sẽ tăng lên rất nhiều.
Phương pháp nhập sau xuất trước ( LIFO):
Phương pháp này giả định là hàng được mua sau hoặc sản xuất sau thì được xuất
trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là những hàng được mua hoặc sản xuất trước đó.
Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập
sau hoặc gần sau cùng, giá trị của hàng tồn kho đươc tính theo giá của hàng nhập ko
đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ.
Như vậy, với phương pháp này chi phí của lần mua gần nhất sẽ tương đối sát với
giá vốn của hàng thay thế. Việc thực hiện phương pháp này sẽ đảm bảo được yêu cầu
của nguyên tắc phù hợp trong kế toán. Tuy nhiên, trị giá vốn của hàng tồn kho cuối kỳ
có thể không sát với giá thị trường của hàng thay thế.
2.4.2. Kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại theo quyết định
15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng bộ tài chính
SV: Trần Thị Thu Thuỷ Lớp: K43D4
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán - Kiểm toán
2.4.2.1. Chứng từ sử dụng
Tùy theo hình thức, phương thức bán hàng mà kế toán nghiệp vụ bán hàng sử
dụng chứng từ sau:
- Hóa đơn giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ.
- Hóa đơn bán hàng thông thường đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo
phương pháp trực tiếp hoặc kinh doanh các mặt hàng không chịu thuế GTGT.
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ.
- Bảng kê bán lẻ hàng hóa
khoản 131. Số dư nợ được phản ánh ở chỉ tiêu bên tài sản, còn số dư có được phản ánh
ở chỉ tiêu bên nguồn vốn.
• Tài khoản 521 : “Chiết khấu thương mại”
Tài khoản này dùng để phán ánh khoản chiết khấu thương mại mà DN đã giảm
trừ hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do người mua đã mua hàng của DN với số
lượng lớn theo thỏa thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua
bán hoặc các cam kết về mua, bán hàng.
Tài khoản này không có số dư
• Tài khoản 531: hàng bán bị trả lại
Tài khoản này sử dụng để phản ánh doanh thu của số hàng hóa đã xác định là tiêu
thụ nhưng vì lí do về chất lượng, mẫu mã, quy cách mà người mua từ chối thanh toán
và trả lại cho DN.
Tài khoản này không có số dư cuối kì.
• Tài khoản 532 : giảm giá hàng bán.
Tài khoản này được sử dụng để phản ánh khoản người bán giảm trừ cho người
mua hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc quá thời hạn ghi trên hợp đồng hoặc
hàng hóa bị lạc hậu thị hiếu.
Tài khoản này cuối kì không có số dư.
• Một số tài khoản liên quan khác:
SV: Trần Thị Thu Thuỷ Lớp: K43D4
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán - Kiểm toán
Ngoài ra kế toán nghiệp vụ bán hàng còn sử dụng một số tài khoản sau: Tk 111-
tiền mặt, Tk 112- tiền gửi ngân hàng, Tk 138- phải thu khác, Tk 338- phải trả, phải nộp
khác, Tk 641- chi phí bán hàng , Tk 333- thuế và các khoản phải nộp cho nhà nước
2.4.2.3 Kế toán nghiệp vụ bán hàng trong doanh nghiệp thương mại:
2.4.2.3.1 . Kế toán nghiệp vụ bán hàng theo phương thức bán ở doanh nghiệp hạch
toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên:
Trường hợp doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:
Kế toán nghiệp vụ bán buôn hàng hóa:
Trường hợp bán buôn theo hình thức giao hàng trực tiếp cho khách hàng:
Trường hợp bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức giao tay ba:
Theo hình thức này hàng hóa không được đưa về nhập kho mà tiến hành giao
ngay cho khách hàng. Như vậy , kế toán không được ghi tăng hàng hóa của doanh
nghiệp mà căn cứ vào hóa đơn GTGT và chứng từ thanh toán của khách hàng để ghi
tăng khoản tiền của DN hoặc khoản phải thu khách hàng theo giá thanh toán, tăng
doanh thu bán hàng theo giá chưa có thuế GTGT và tăng thuế GTGT đầu ra( phản ánh
tương tự trường hợp bán buôn giao hàng trực tiếp cho khách hàng ). Đồng thời kế toán
căn cứ vào hóa đơn GTGT do nhà cung cấp lập phản ánh trị giá vốn hàng bán.
Trường hợp bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng:
Tương tự như trên kế toán phản ánh tăng trên tài khoản hàng gửi bán theo trị giá
mua chưa thuế của hàng vận chuyển thẳng, tăng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và
ghi giảm tiền của DN.
Sau khi có các bằng chứng xác định hàng gửi bán đã được tiêu thụ kế toán tiến hành
phản ánh doanh thu và giá vốn tuơng tự các trường hợp trên chỉ khác là tài khoản đối ứng
với tài khoản giá vốn không phải là Tk 156- hàng hóa mà là Tk 157- hàng gửi bán
Kế toán nghiệp vụ bán lẻ : chỉ khác so với kế toán nghiệp vụ bán buôn hàng
hóa về căn cứ ghi sổ kế toán là kế toán viên phải căn cứ vào bảng kê bán lẻ hàng hóa
mà mậu dịch viên lập khi hết ca hoặc hết ngày để phản ánh vào sổ kế toán.
Theo hình thức này có thể phát sinh một số trường hợp như:
Số tiền mậu dịch viên nộp về nhỏ hơn doanh số ghi trên bảng kê bán lẻ hàng hóa
thì mậu dịch viên phải bồi thường. Kế toán phản ánh ghi tăng số tiền mậu dịch viên
thực nộp, tăng khoản còn phải thu nếu chưa nộp hết đồng thời ghi tăng doanh thu và
thuế GTGT đầu ra phải nộp
Nếu số tiền mà mậu dịch viên thực nộp lớn hơn số ghi trên bảng kê bán lẻ thì đây
được xem là khoản thu nhập khác của DN. Kế toán ghi tăng trên tài khoản thu nhập khác
SV: Trần Thị Thu Thuỷ Lớp: K43D4
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán - Kiểm toán
Kế toán nghiệp vụ bán đại lý:
Khi doanh nghiệp giao hàng hóa cho cơ sở nhận đại lý, kế toán căn cứ vào phiếu
xuất kho hoặc hóa đơn GTGT để phản ánh ghi tăng hàng gửi bán của DN.
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán - Kiểm toán
toán phản ánh giá vốn của hàng bán bị trả lại bằng cách ghi giảm trên Tk 632, ghi tăng
hàng hóa trong doanh nghiệp.
Khi thanh toán với người mua hàng về số tiền của hàng bán bị trả lại: nếu doanh
nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, ghi tăng trên tài khoản hàng bán bị
trả lại theo giá chưa có thuế GTGT, giảm thuế GTGT phải nộp đồng thời ghi giảm trên
tài khoản tiền của doanh nghiệp. Nếu DN tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp,
ghi tăng trên tài khoản hàng bán bị trả lại theo giá đã bao gồm thuế GTGT và ghi giảm
trên tài khoản tiền hoặc phải thu khách hàng.
Kế toán khoản giảm giá hàng bán: khi có chứng từ xác định khoản giảm gía hàng bán
cho người mua về số lượng hàng đã bán do kém, mất phẩm chất, sai quy cách hợp đồng:
Nếu hàng hóa phải giảm giá cho người mua thuộc đối tượng chịu thuế GTGT
theo phương pháp khấu trừ và DN tính thuế theo phương pháp khấu trừ, kế toán ghi
tăng trên TK 532- “Giảm giá hàng bán”, giảm thuế GTGT phải nộp đồng thời ghi giảm
trên tài khoản tiền hoặc phải thu khách hàng.
Nếu hàng hóa phải giảm giá không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT hoặc chịu
thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì giá trị phản ánh trên TK 532 là giá đã bao
gồm thuế GTGT. Cuối kì kết chuyển tổng số giảm giá hàng bán phát sinh trong kì sang
Tk 511.
Kế toán các khoản dự phòng phải thu khó đòi:
Cuối kì kế toán năm hoặc cuối kì kế toán giữa niên độ( đối với DN có lập báo cáo
tài chính giữa niên độ), DN căn cứ các khoản nợ phải thu được xác định là không chắc
chắn thu được, kế toán tính và xác định số dự phòng nợ phải thu khó đòi cần trích lập
và hoàn nhập. Nếu số dự phòng nợ phải thu khó đòi cần trích lập ở kì kế toán này lớn
hơn số dự phòng nọ phải thu khó đòi đã trích lập ở kì kế toán trước chưa sử dụng hết,
thì số chênh lệch lớn hơn được hạch toán vào chi phí quản lí doanh nghiệp TK 642 đối
ứng với TK 139- dự phòng phải thu khó đòi.
Nếu số dự phòng cần trích lập nhỏ hơn số trích lập ở kì kế toán trước chưa sử
dụng hết thì số chênh lệch được hoàn nhập ghi giảm chi phí quản lí DN.
2.4.2.3.2. Kế toán nghiệp vụ bán hàng ở các doanh nghiệp thương mại kế toán
Sổ kế toán tổng hợp gồm: sổ nhật ký, sổ cái
Sổ kế toán chi tiết gồm: sổ, thẻ kế toán chi tiết
Doanh nghiệp căn cứ vào quy mô, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh , yêu
cầu quản lý, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ kế toán, điều kiện trang bị kỹ
thuật, lựa chọn một hình thức kế toán phù hợp và phải tuân thủ theo đúng quy định của
hình thức sổ kế toán đó.
SV: Trần Thị Thu Thuỷ Lớp: K43D4
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán - Kiểm toán
Mỗi hình thức kế toán đều có các đặc trưng cơ bản khác nhau,sử dụng các loại sổ
và có trình tự ghi sổ kế toán khác nhau. Xét về kế toán bán hàng thì mỗi hình thức kế
toán có thể sử dụng các loại sổ sau:
Hình thức kế toán nhật ký chung: sổ nhật ký chung; sổ cái mở cho các tài khoản :
TK 511, TK 131, TK 632, TK 3331, TK 111 ; sổ kế toán chi tiết bán hàng, sổ chi tiết
tài khoản phải thu khách hàng , ngoài ra có thể mở thêm sổ nhật ký đặc biệt nếu cần
thiết như: sổ nhật ký thu tiền, sổ quỹ tiền mặt
Hình thức kế toán nhật ký – sổ cái: sử dụng sổ nhật ký – sổ cái và các sổ thẻ kế
toán chi tiết để phản ánh
Hình thức kế toán chứng từ ghi sổ: sử dụng chứng từ ghi sổ, sổ đăng ký chứng từ
ghi sổ, sổ cái, sổ chi tiết bán hàng, sổ chi tiết thanh toán với người mua.
Hình thức kế toán nhật ký – chứng từ: sử dụng nhật ký chứng từ số 8 ghi cho các
tài khoản 156, TK 157, TK511 , bảng kê số 8, 11 , sổ cái và các sổ thẻ kế toán chi tiết
Ngoài ra còn có hình thức kế toán trên máy vi tính: công việc kế toán được thực
hiện theo một chương trình phần mềm kế toán trên máy vi tính. Phần mềm được thiết
kế theo nguyên tắc của một trong bốn hình thức kế toán hoặc kết hợp các hình thức kế
toán trên. Phần mềm kế toán không hiển thị đầy đủ quy trình ghi sổ kế toán, nhưng
phải in được đầy đủ sổ kế toán và báo cáo tài chính theo quy định.
SV: Trần Thị Thu Thuỷ Lớp: K43D4
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán - Kiểm toán
CHƯƠNG 3:
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG KẾ TOÁN BÁN HÀNG
Số lượng phiếu thu về: 20 phiếu
Ngày thu: 25/3/2011
Các phiếu điều tra được thu thập lại để tổng hợp kết quả, cung cấp thông tin khái
quát về tổ chức công tác kế toán và kế toán bán hàng thức ăn chăn nuôi tại công ty.
Phương pháp này đơn giản, ít tốn kém nhưng mang lại nhiều thông tin hữu ích phục vụ
cho yêu cầu của việc nghiên cứu.
Phương pháp phỏng vấn:
Mục đích: phỏng vấn nhằm xác định lại sự chính xác của các thông tin thu thập
được từ phiếu điều tra và bổ sung thêm các thông tin khác ngoài phương pháp phiếu
điều tra.
Nội dung phỏng vấn:
Đối tượng được phỏng vấn là các nhân viên trong phòng kế toán. Các câu hỏi
phỏng vấn gồm những câu hỏi trắc nghiệm và có những câu hỏi mở để thu thập được ý
kiến của nhân viên kế toán về thực trạng kế toán tại công ty.
Các câu hỏi nhằm tìm hiểu thực trạng kế toán công ty về: chứng từ, tài khoản sử
dụng, sổ kế toán, và những ưu nhược điểm trong công tác kế toán bán hàng thức ăn
chăn nuôi tại công ty.
Phương pháp khác:
Bên cạnh phương pháp phiếu điều tra trắc nghiệm, phương pháp phỏng vấn em đã
sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu công ty để thu thập dữ liệu.
Các tài liệu tìm hiểu bao gồm: hóa đơn GTGT, hợp đồng thương mại, phiếu xuất
kho, phiếu thu, phiếu chi…các sổ kế toán như sổ nhật ký chung, sổ chi tiết bán hàng,
sổ cái TK 511, sổ cái TK 632 và các báo cáo tài chính của công ty. Ngoài ra còn tham
khảo các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán mà công ty áp dụng, các website về kế
toán, tạp chí liên quan
3.1.2 . Phương pháp phân tích dữ liệu
Dữ liệu thu thập được muốn phục vụ hữu ích cho quá trình nghiên cứu thì cần
phải được đưa vào xử lí, phân tích chi tiết cụ thể. Điều này được thực hiện bằng cách
sử dụng các phương pháp sau:
SV: Trần Thị Thu Thuỷ Lớp: K43D4
SV: Trần Thị Thu Thuỷ Lớp: K43D4