CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI SẢN PHẨM NẤM LINH CHI TRÊN
THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Sau công cuộc cải cách kinh tế năm 1986, nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước theo định hướng
XHCN. Với sự chuyển hướng đúng đắn đó, kinh tế Việt Nam đã có được rất nhiều thành tựu to
lớn. Nền kinh tế không chỉ tăng trưởng với tốc độ cao, mà thu nhập bình quân đầu người cũng
không ngừng tăng lên. “Nếu thu nhập bình quân đầu người năm 2001 là 423 USD/ người thì
đến năm 2006 là 722 USD/ người, tăng gần 70,7%; năm 2008 thu nhập bình quân đầu người là
1034 USD /người, năm 2009 thu nhập bình quân đầu người là 1109 USD/người, tăng 162,2%
so với năm 2001; theo chỉ tiêu của Nhà nước thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt
khoảng 1200 USD/ người”
1
. Thu nhập tăng cao, đời sống của người dân ngày càng được cải
thiện, từ quan niệm “ăn no, mặc ấm” bây giờ họ quan niệm “ăn ngon mặc đẹp”. Người dân có
điều kiện quan tâm nhiều hơn đến chất lượng cuộc sống, đặc biệt là chăm sóc cho sức khoẻ của
mình. Do đó, các thực phẩm chức năng ngày càng được con người quan tâm hơn. Nấm linh chi
với tác dụng kiện não, bảo gan, cường tâm, cường phế, giải độc nên ngày càng được mọi người
biết đến nhiều hơn. Cũng chính vì có nhiều tác dụng mà nấm linh chi đang ngày càng được
mọi người sử dụng nhiều hơn, nhu cầu về nấm linh chi đang không ngừng tăng thêm.
Đứng trước nhu cầu ngày càng cao của người dân, thị trường cung cấp sản phẩm nấm linh
chi đang ngày càng sôi động hơn, phong phú hơn về chủng loại sản phẩm. Ngày càng có nhiều
doanh nghiệp gia nhập ngành, tính cạnh tranh trong ngành nấm linh chi đang không ngừng gia
tăng mạnh mẽ. Bên cạnh đó, bản thân các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng này còn gặp phải
sự cạnh tranh rất mạnh trên thị trường. Đó là phải cạnh tranh với các sản phẩm linh chi của
Hàn Quốc, đó là sự quản lý của Nhà nước còn yếu kém, chưa có những chính sách cụ thể cho
việc phát triển thương mại cho sản phẩm này. Các doanh nghiệp trong ngành đang phải không
ngừng thay đổi, đề ra những con đường mới để phát triển thương mại sản phẩm. Hơn thế nữa,
các doanh nghiệp còn phải đối mặt với nạn hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng đã làm
suy giảm nghiêm trọng uy tín, thương hiệu, hình ảnh của các doanh nghiệp trong ngành. Vì thế
chi của công ty TNHH thương mại FCM trên thị trường nội địa” làm đề tài nghiên cứu của
mình với mong muốn sẽ mang lại giải pháp phát triển thương mại hữu hiệu cho các doanh
nghiệp kinh doanh nấm linh chi, giúp cho doanh nghiệp có thể đứng vững trên thị trường nội
địa và góp phần phát triển kinh tế.
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Với tính cấp thiết của đề tài được nêu trên, có thể thấy rằng việc nghiên cứu phát triển
thương mại sản phẩm nấm linh chi trên thị trường nội địa là hoàn toàn đúng đắn. Qua quá
trình nghiên cứu có rất nhiều câu hỏi được đặt ra:
- Phát triển thương mại sản phẩm là gì? Tại sao lại phải phát triển thương mại sản phẩm?
- Phát triển thương mại sản phẩm nấm linh chi chịu ảnh hưởng của các nhân tố nào?
- Những thành tựu, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại trong phát triển thương mại sản
phẩm nấm linh chi trên thị trường nội địa ?
2
- Đâu là những giải pháp để phát triển thương mại sản phẩm nấm linh chi cho công ty TNHH
thương mại FCM nói riêng và giải pháp phát triển thương mại cho toàn nghành nói chung.
Trả lời cho các câu hỏi đặt ra, đề tài: “ phát triển thương mại sản phẩm nấm linh chi của
công ty TNHH thương mại FCM trên thị trường nội địa ” tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
- Về lý thuyết: Phát triển thương mại sản phẩm và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển
thương mại sản phẩm .
- Về thực tiễn: nghiên cứu thực trạng phát triển thương mại sản phẩm nấm linh chi của công
ty TNHH thương mại FCM trên thị trường nội địa.
- Từ thực trạng hoạt động phát triển thương mại sản phẩm nấm linh chi, đề tài đưa ra những
giải pháp để phát triển thương mại sản phẩm nấm linh chi.
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu, đề tài vận dụng các lý thuyết được học về phát triển
thương mại vào trong trường hợp cụ thể để giải quyết những vấn đề trong thực tiễn, qua đó
kiểm chứng lại những gì đã học để rút ra những bài học mới cho mình. Mục tiêu cụ thể của đề
tài nghiên cứu gồm:
1.3.1 Về lý thuyết:
Làm rõ, hệ thống hóa một số lý thuyết liên quan đến phát triển thương mại sản phẩm
linh chi của công ty TNHH thương mại FCM trong 5 năm giai đoạn 2005- 2009. Để những
nhận định đánh giá chính xác hơn, đề tài còn lấy số liệu về kết quả phát triển thương mại sản
phẩm nấm linh chi của công ty Nấm linh chi, Công ty TNHH thương mại và sản xuất Minh
Anh. Những giải pháp, đề xuất phát triển thương mại sản phẩm nấm linh chi được áp dụng
cho công ty TNHH thương mại FCM trong giai đoạn 2010 đến năm 2015.
1.5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết
cấu thành 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về phát triển thương mại sản phẩm nấm linh chi trên thị
trường nội địa.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển thương mại sản phẩm nấm linh chi.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích thực trạng phát triển thương mại sản
phẩm nấm linh chi trên thị trường nội địa.
Chương 4: Các kết luận và đề xuất phát triển thương mại sản phẩm nấm linh chi trên thị trường
nội địa.
4
CHƯƠNG 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI
SẢN PHẨM NẤM LINH CHI
2.1 Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản
2.1.1 Mô tả về nấm linh chi
a/ Nấm linh chi
Linh chi (Ganoderma) là các loài nấm gỗ mọc hoang trong thiên nhiên.Cách đây hàng
ngàn năm, nấm Linh Chi đã được dùng để làm thuốc. Các sách dược thảo của nhiều triều đại ở
Trung Quốc đều ghi nhận Linh Chi được sử dụng làm thuốc từ lâu đời. Sách “Thần nông bản
thảo” đã nói: “Linh chi là thuốc kết tinh được cái quý của mây mưa trên núi cao, cái tinh của
ngũ hành trong ngày đêm mà khoe năm sắc nên có thể giữ sức khoẻ cho các bậc đế vương”.
Đến đời Minh (năm 1590) trong sách “Bản thảo cương mục”, tác giả Lý Thời Trân đã mô tả 6
loại Linh Chi và khái quát tác dụng trị liệu của Linh Chi: Linh Chi đều có tính bình, không
độc, có tác dụng làm tăng trí nhớ, dưỡng tim, bổ gan khí, an thần, chữa trị tức ngực. Với hệ hô
Theo sách Bản thảo cương mục (in năm 1595) của Lý Thời Trân, đại danh y Trung Quốc đã
phân loại linh chi theo màu sắc thành 6 loại, mỗi loại có công dụng chữa khác nhau:
* Loại có màu vàng gọi là Hoàng chi hoặc Kim chi.
* Loại có màu xanh gọi là Thanh chi.
* Loại có màu hồng, màu đỏ gọi là Hồng chi hay Ðơn chi hoặc Xích chi.
* Loại có màu trắng gọi là Bạch chi hay Ngọc chi.
* Loại có màu đen gọi là Huyền chi hay Hắc chi.
* Loại có màu tím gọi là Tử chi.
- Phân theo các loại sản phẩm chiết xuất từ nấm linh chi của công ty TNHH thương mại
FCM
lingzhi- 100% linh chi
Lingzhi chiết xuất từ nấm linh chi tự nhiên giúp tăng cường
sức đề kháng cho cơ thể, tăng tuần hoàn máu giúp da dẻ hồng
hào, hỗ trợ điều trị các bệnh về tim mạch. Các
polysaccharicdes có trong nấm linh chi có tác dụng chống
ung thư, chống rối loạn miễn dịch, điều hòa huyết áp.
+ Thành phần ganoderic acids giúp giảm nhẹ các dị ứng, đẩy
mạnh sự hấp thụ oxy và làm tăng hoạt động của gan, phòng chống rối loạn chức năng gan như:
viêm gan , xơ gan, gan nhiễm mỡ
+ Tăng cường sức đề kháng, tăng cường tuần hoàn máu giúp da dẻ hồng hào
Ginsenglingzhi- Linh chi sâm
Ginsenglingzhi là sự kết hợp giữa cao khô linh chi và nhân sâm tự nhiên, giúp tăng cường sức
đề kháng, tăng thính lực, tăng trí nhớ, bảo vệ cơ thể, chống stress, hỗ trợ tốt cho người bị bệnh
tiền đình, tăng thể trạng tinh thần của người ốm tạo cảm giác thèm ăn, giúp người bệnh bình
phục nhanh
6
Ginsenglingzhi có tác dụng:
+ Tăng khả năng miễn dịch cho cơ thể
+ Tăng thính lực, tăng trí nhớ
+ Tăng cường sức co bóp của cơ tim
- Cường phế (thêm sức cho phổi, hệ hô hấp)
- Giải độc (giải toả trạng thái nhiễm độc)
- Giải cảm (giải toả trạng thái dị cảm)
- Trường sinh (sống lâu tăng tuổi thọ).
Qua phân tích các hoạt chất về mặt dược tính, dược lý và sử dụng nấm Linh Chi, người
ta thấy Linh Chi có tác dụng rất tốt với các bệnh:
Đối với bệnh về hệ tim mạch: Nấm Linh Chi có tác dụng điều hoà, ổn định huyết áp. Khi
dùng cho người huyết áp cao, nấm Linh Chi không làm tăng mà làm giảm bớt, dùng nhiều thì
huyết áp ổn định.
Đối với những người suy nhược cơ thể, huyết áp thấp thì nấm Linh Chi có tác dụng nâng
huyết áp lên gần mức dễ chịu nhờ cải thiện, chuyển hoá dinh dưỡng.
Đối với bệnh nhiễm mỡ, xơ mạch, dùng nấm Linh Chi có tác dụng giảm cholesterol toàn
phần, làm tăng nhóm lipoprotein tỷ trọng cao trong máu, làm giảm hệ số sinh bệnh. Nấm Linh
Chi làm giảm xu thế kết bờ của tiểu cầu, giảm nồng độ mỡ trong máu, giảm co tắc mạch, giải
toả cơn đau thắt tim.
Đối với các bệnh về hô hấp, nấm Linh Chi đem lại kết quả tốt, nhất là với những ca điều trị
viêm phế quản dị ứng, hen phế quản tới 80% có tác dụng giảm và làm nhẹ bệnh theo hướng
khỏi hẳn. .
Ngoài ra, Linh Chi còn được dùng để chữa bệnh mất ngủ, lở dạ dày, tê thấp, suyễn, sưng cổ
họng. Người Trung Hoa hiện nay còn dùng Linh Chi để cho da mặt thêm mịn, có lẽ là do các
chất hormone trong loại nấm này. Nhiều y gia Nhật Bản lại dùng Linh Chi trong các loại thuốc
trị rụng tóc. Vì tác dụng bổ khí và làm tăng hệ thống miễn nhiễm của cơ thể, người ta còn dùng
Linh Chi để phụ với các loại thuốc trị ung thư. Bác sĩ Fukumi Morishige, một chuyên gia giải
phẫu tim đang nghiên cứu công dụng của Linh Chi trong việc trị bệnh ung thư tại viện Linus
Pauling Institute of Science & Medicine, Hoa Kỳ, cho biết là dùng Linh Chi chung với sinh tố
C liều lượng lớn (megadose) có tác dụng mạnh hơn vì sinh tố C giúp cho việc hấp thụ dược
tính của Linh Chi.
2.1.2 Phát triển thương mại sản phẩm
- Bản chất của phát triển thương mại sản phẩm
Để đánh giá sự phát triển của một nền kinh tế người ta dùng thuật ngữ phát triển kinh tế.
mại về mặt chất lượng còn được thể hiện thông qua cách thức sử dụng các nguồn lực thương
mại để phát triển thương mại sản phẩm. Số lượng và chất lượng nguồn lực được sử dụng trong
thương mại có ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của sản phẩm, của ngành, của doanh nghiệp
và của cả nền kinh tế.
+ Sự phát triển đạt được tính tối ưu và hiệu quả: Hiệu quả phản ánh quan hệ so sánh
giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Một phương án kinh doanh sẽ
được coi là tối ưu khi nó đạt được hiệu quả cao nhất, tức là chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó là
nhỏ nhất. Suy cho cùng, phát triển được coi là tối ưu và hiệu quả khi nó kết hợp hài hoà giữa
các mục tiêu phát triển kinh tế - công bằng xã hội - bảo vệ môi trường và hướng tới phát triển
bền vững, nghĩa là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu của hiện tại mà không gây trở ngại
cho việc đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai.
- Phát triển thương mại có thể đi theo các hướng khác nhau:
9
Phát triển thương mại theo chiều rộng có thể hiểu là gia tăng quy mô của các hoạt động
đó, là dung lượng thị trường, số lượng khách hàng, thị phần chiếm lĩnh trên thị trường, số
lượng hàng hoá. Phát triển thương mại về chiều rộng là những nỗ lực nhằm tăn doang số bán,
tăng số lượng sản phẩm, mở rộng đối tượng khách hàng, chiếm lĩnh thị trường nhiều hơn.
Phát triển thương mại theo chiều sâu có thể hiểu là chất lượng của phát triển thương
mại. Chiều sâu của phát triển thương mại thể hiện qua 2 tiêu chí đánh giá đó là tốc độ phát
triển và sự chuyển dịch cơ cấu của sản phẩm, từ những sản phẩm thô sang những sản phẩm
tinh, từ những sản phẩm chứa nhiều lao động sang những sản phẩm chứa hàm lượng công
nghệ cao, tốn nhiều chất xám, những sản phẩm đắt tiền, có giá trị lớn. Phát triển thương mại về
chiều sâu là khiến cho tốc độ phát triển nhanh, ổn định hơn, cơ cấu sản phẩm chuyển dịch theo
hướng hợp lý hơn, hiệu quả hơn và hướng tới phát triển bền vững
- Giải quyết vấn đề phát triển thương mại sản phẩm nấm linh chi chúng ta có thể đứng trên
góc độ sau:
+ Phát triển thị trường: thị trường là nhân tố có ảnh hưởng quan trọng chi phối việc phát
triển thương mại sản phẩm nấm linh chi. Phát triển thị trường nấm linh chi là mở rộng đối
tượng tiêu dùng sản phẩm, tìm kiếm thêm thị trường mới để từ đó gia tăng lượng hàng bán ra,
thỏa mãn nhu cầu của thị trường. Khi xem xét kỹ thị trường giúp các nhà quản trị ra quyết định
mại sản phẩm nấm linh chi có rất nhiều tiêu chí khác nhau.Với bản chất của thương mại đã chỉ
ra ở phần trên có thể phản ánh phát triển thương mại thông qua các tiêu chí sau:
- Không ngừng mở rộng quy mô thương mại.
- Đảm bảo tăng trưởng ổn định và hợp lý.
- Kết hợp hài hoà giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường.
Đây sẽ là những tiêu chí để đánh giá kết quả hoạt động phát triển thương mại nấm linh
chi trên thị trường nội địa theo cả chiều rộng và chiều sâu.
b/ Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động thương mại
Từ các tiêu chí phản ánh phát triển thương mại đã nêu trên có thể xây dựng rất nhiều
các chỉ tiêu khác nhau để phản ánh phát triển thương mi sản phẩm nấm linh chi . Các chỉ tiêu
đó có thể là chỉ tiêu định tính hay chỉ tiêu định lượng. Tuy nhiên, nếu dựa theo nội hàm của
phát triển thương mại có thể xây dựng các chỉ tiêu để đánh gía phát triển thương mại sản phẩm
nấm linh chi như sau:
- Các chỉ tiêu phản ánh phát triển thương mại về mặt quy mô
Để đánh giá sự phát triển thương mại về mặt quy mô ta sử dụng một số chỉ tiêu thể
hiện quy mô như: tổng giá trị thương mại sản phẩm, doanh thu, sản lượng (doanh số) sản
phẩm trên thị trường, tổng mức lưu chuyển hàng hoá…
+) Sản lượng( doanh số) sản phẩm trên thị trường(Q): “Sản lượng là tổng lượng hàng
hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp bán được trên thị trường”
3
. Sản lượng tiêu thụ của sảm phẩm
trên thị trường tăng lên nghĩa là sản phẩm ngày càng thâm nhập sâu vào thị trường, sản phẩm
3
GS.TS Ngô Đình Giao: kinh tế học vi mô, nhà xuất bản giáo dục, 2008, tr49
11
đang đi nhanh vào quá trình lưu thông và tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng trên thị
trường.
+) Doanh thu: “Doanh thu là thu nhập mà doanh nghiệp nhận được từ việc bán hàng
hoá và dịch vụ”
4
Công thức:
1
2 3
. .
n
n
T t t t
−
=
T
: Tốc độ tăng trưởng bình quân.
2 3
. .
n
t t t
: Tốc độ tăng trưởng hàng năm.
+ Độ lệch chuẩn: Là đại lượng đo lường mức độ phân tán của tốc độ tăng trưởng hàng năm
so với tốc độ tăng trưởng trung bình.
Công thức:
2
( )
i
t t
n
δ
−
−
=
∑
δ
x
: Doanh thu mặt hàng X
DT : Tổng doanh thu
Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu thị trường phản ánhh tỷ trọng doanh thu bán sản phẩm trên
một thị trường cụ thể so với tổng doanh thu bán sản phẩm đó của doanh nghiệp.Hiện nay, hầu
hết các sản phẩm có xu hướng chuyển dich từ những thị trường cũ di chuyển sang thị trường
mới hơn và ngày càng thâm nhập sâu hơn vào thị trường mới và qua đó làm cho sản phẩm
ngày càng đến được tới nhiều người tiêu dùng.
Thứ ba, sự chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế tham gia vào phân phối sản phẩm:
phản ánh tỷ trọng doanh thu của một thành phần kinh tế tham gia vào phân phối sản phẩm trên
tổng doanh thu bán sản phẩm đó. Hiện nay có xu hướn đa dạng hoá các thành phần kinh tế
tham gia vào phân phối sản phẩm với các thành phần chính như thành phần kinh tế nhà nước,
kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài…Mỗi thành phần có vai trò
nhất định trong việc phân phối sản phẩm.
Thứ tư, chuyển dịch về phương thức kinh doanh sản phẩm: phản ánh tỷ trọng doanh thu
bán sản phẩm theo một phương thức kinh doanh nào đó so với tổng doanh thu bán sản phẩm
đó. Hiện nay, xu hướng kinh doanh hiện đại đang ngày càng trở nên phổ biến và chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng doanh thu bán hàng hoá. Việc chuyển dịch cơ cấu phương thức kinh
doanh như hiện nay đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn.
13
- Các chỉ tiêu phản ánh phát triển thương mại theo hiệu quả thương mại: “Hiệu quả thương mại
phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra của quá trình trao đổi hàng
hoá, dịch vụ trên thị trường.
Công thức chung biểu hiện hiệu quả thương mại: H=
C
K
Trong đó, H là hiệu quả
K là kết quả đạt được
C là chi phí sử dụng nguồn lực
Thực chất, hiệu quả thương mại là trình độ sử dụng các nguồn lực thương mại nhằm
14
Lợi nhuận là đại lượng tuyệt đối đánh giá hoạt động kinh doanh nhưng nó mới chỉ biểu
hiện một cách đơn giản mối quan hệ so sánh giữa thu và chi. Để đưa ra đánh giá sâu rộng hơn
ta phải sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận ( doanh lợi)
“Tỷ suất lợi nhuận là đại lượng tương đối dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh
doanh ,nó được xác định thông qua sự so sánh giữa chỉ tiêu lợi nhuận với các chỉ tiêu đặc thù
của hoạt động kinh doanh như doanh thu, vốn và chi phí”.
Công thức:
Tỷ suất lợi nhuận =
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng doanh thu có thể mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Tỷ suất lợi nhuận càng cao thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt. Để tăng tỷ suất
lợi nhuận các doanh nghiệp phải tăng doanh thu, giảm chi phí với điều kiện là tốc độ tăng
doanh thu phải cao hơn tốc độ tăng lợi nhuận.
+ Hiệu quả sử dụng các nguồn lực:Hiệu quả sử dụng nguồn lực thể hiện thông qua hai chỉ tiêu:
Thứ nhất, hiệu quả sử dụng vốn:Vốn kinh doanh là số tiền ứng trước về các tài sản cần
thiết nhằm thực hiện hoạt động kinh doanh trong kỳ.
Công thức:
HQ
vốn
=
V
LN
Trong đó, HQ
vốn
là hiệu quả sử dụng vốn
LN là lợi nhuận
V là số vốn bình quân sử dụng trong một kỳ kế toán
Ý nghĩa: chỉ tiêu này cho biết với mỗi đồng vốn bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
- Hiệu quả sử dụng lao động: được đo lường , đánh giá bằng chỉ tiêu năng suất lao động.
Công thức:
giảm nghèo. Hiệu quả xã hội còn thể hịên thông qua việc gia tăng việc làm thu hút lao động và
hạn chế gia tăng thất nghiệp, qua đó giúp hạn chế gia tăng các tệ nạn xã hội, ổn định cuộc sống
cho người dân.
Hiệu quả môi trường phản ánh các kết quả đạt được so với các nguồn tài nguyên đã sử
dụng. Nói cách khác hiệu quả môi trường chính là trình độ sử dụng các nguồn tài nguyên thiên
nhiên sẵn có. Sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên hợp lý là việc sử dụng nguồn tài
nguyên sao cho có hiệu quả cao nhất mà không để ảnh hưởng đến việc sử dụng tài nguyên của
thế hệ sau này. Hiệu quả môi trường còn thế hiện thông qua việc bảp vệ môi trường sinh thía,
chống ô nhiễm môi trường.
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thương mại sản phẩm nấm linh chi trên thị
trường nội địa
Hoạt động thương mại của sản phẩm luôn diễn ra trong một môi trường cụ thể. Do vậy,
phát triển thương mại của sản phẩm nấm linh chi cũng luôn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố.
Trong đó có những nhân tố sau:
a/ Nhóm nhân tố thuộc về thị trường
Thị truờng bao gồm cả thị trường trong nước và thị trường quốc tế, tuy nhiên đề tài chỉ
nghiên cứu ảnh hưởng của thị trường trong nước tới phát triển thương mại sản phẩm nấm linh
chi.Các nhân tố thuộc về thị trường trong nước bao gồm: cung, cầu, cơ cấu, đặc điểm của thị
trường tiêu thụ sản phẩm…Đây là các nhân tố có ảnh hưởng lớn tới phát triển thương mại sản
phẩm nấm linh chi trên thị trường nội địa.
- Cầu: là lượng hàng hoá mà người tiêu dùng có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác
nhau. Đây là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển thương mại sản phẩm. Khi cầu về
một loại hàng hoá dịch vụ tăng lên đồng nghĩa với việc doanh nghiêp phải thay đổi mức cung
ứng của mình trên thị trường đồng thời phải có những giải pháp phát triển thương mại sản
phẩm giữ chân khách hàng, nâng cao chất lượng phục vụ của mình. Ngược lại, khi cầu về hàng
16
hoá dịch vụ giảm sút thì doanh nghiệp cũng phải có những nghiên cứu, tìm hiểu xem tại sao
cầu về hàng hoá giảm sút để có thể có biện pháp khắc phục tình trạng cầu giảm sút. Bên cạnh
đó, đặc điểm về cầu của một loại hàng hoá, sản phẩm như thu nhập, quy mô cầu, đặc điểm,
thói quen tiêu dùng… cũng có ảnh hưởng đến phát triển thương mại sản phẩm đó. Do đó,
Hiện nay, mặc dù sau cải cách thu nhập người dân đã tăng nhiều nhưng so với các nước
trên thế giới, Việt Nam vẫn là nước có thu nhập trung bình nên việc tiêu thụ các sản phẩm có
giá cao như nấm linh chi vẫn còn hạn chế rất nhiều. Người dân vẫn chưa có thói quen sử dụng
các sản phẩm chức năng để nâng cao sức đề kháng cho mình. Hơn nữa, giá thành của sản
phẩm nấm linh chi tương đối cao nên không phải ai cũng có thể sử dụng các sản phẩm này.
Những người tiêu dùng sản phẩm này hiện nay cũng chủ yếu là những người có tri thức và đã
tìm hiểu kỹ về sản phẩm này. Mặt khác, quá trình xây dựng pháp luật riêng cho ngành kinh
doanh thực phẩm chức năng còn chưa rõ ràng, gây khó khăn cho các cơ quan quản lý và các
doanh nghiệp thực hiện khi muốn lưu thông hàng hóa này trên thị trường. Các quy định thủ tục
về nhập khẩu nấm linh chi đã đựoc sủa đổi nhưng vẫn còn phức tạp làm mất nhiều thời gian
cho các doanh nghiệp muốn nhập khẩu sản phẩm này.
Chính vì vậy, các nhà kinh doanh sản phẩm nấm linh chi cần phải nghiên cứu và tìm
hiểu kỹ đặc điểm của thị trường tiêu thụ sản phẩm nấm linh chi để có thể đề ra các giải pháp
phù hợp cho phát triển thương mại sản phẩm nấm linh chi.
b/ Nhóm nhân tố thuộc về năng lực của ngành
Nhân tố ảnh hưởng nhiều nhất tới phát triển thương mại của một sản phẩm chính là
năng lực của ngành đó. Năng lực của ngành bao gồm một số yếu tố như năng lực tài chính,
công nghệ, nhân lực và các kênh phân phối.
- Năng lực tài chính: Năng lực về tài chính là số vốn mà doanh nghiệp có và huy động được để
phát triển thương mại . Nếu cóg năng lực về tài chính mạnh sẽ đảm bảo cho việc mở rộng và
phát triển quy mô sản xuất, việc lưu thông hàng hoá trên thị trường sẽ diễn ra dễ dàng hơn,
cũng có thể dùng nguồn vốn này để đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho công ty…từ đó càng nâng
cao năng lực nghành góp phần gia tăng giá trị thương mại cho nghành và cho toàn xã hội.
Ngược lại, nếu năng lực tài chính kém thì khả năng đầu tư của doanh nghiệp cũng kém, doanh
nghiệp sẽ gặp khó khăn khi muốn mở rộng quy mô sản xuất. Như chúng ta biết nấm linh chi là
sản phẩm có giá thành tương đối cao nên việc kinh doanh mặt hàng này yêu cầu phải có năng
lực tài chính khá lớn mới có thể duy trì được hoạt động kinh doanh.
- Công nghệ: Cùng với sự bùng nổ khoa học kỹ thuật , công nghệ hiện đại ngày càng được áp
dụng nhiều vào trong sản xuất thì công nghệ ngày càng có vai trò quan trọng trong việc phát
triển thương mại sản phẩm. Khi áp dụng công nghệ khoa học kỹ thuật, các doanh nghiệp đạt
mặt hàng khác. Hoặc có mối liên kết chặt chẽ với nhau , sự phát triển của nghành này sẽ kéo
theo hoặc kìm hãm sự phát triển của nghành khác. Nghành kinh doanh nấm linh chi có liên
quan chặt chẽ với các ngành như:
- Hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc có tác động lớn tới hoạt động kinh doanh
của ngành. Nếu hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc tốt sẽ là nhân tố tích cực thúc
đẩy phát triển thương mại sản phẩm nấm linh chi.Ngược lại, hệ thống này mà yếu kém sẽ làm
cho việc lưu thông hàng hóa khó khăn và tốn kém. Hiện nay hệ thống giao thông vận tải đã
được cải thiện nhiều hơn giúp cho việc lưu thông sản phẩm nấm linh chi từ địa phương này
đến địa phương khác dễ dàng hơn . Sản phẩm nấm linh chi có thể đến được tay người tiêu
19
dùng nhanh chóng hơn. Đồng thời cũng tiết kiệm đựoc chi phí cho các khâu trung gian. Tuy
nhiên, hệ thống thống tin liên lạc vẫn còn nhiều trở ngại do trình độ dân trí còn hạn chế nên chỉ
có một bộ phận.
- Ngành sản xuất nấm linh chi cũng tác động nhiều đến phát triển thương mại sản phẩm.
Đây là nguồn cung cấp đầu vào để sản xuất sản phẩm nấm linh chi.Nếu nguồn cung cấp
nguyên liệu dồi dào sẽ tạo nhiều thuận lợi cho việc chế biến sản phẩm, các hoạt động thương
mại cũng từ đó mà diễn ra dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn. Hiện đang có hai nguồn cung cấp
nấm linh chi chủ yếu là nguồn trong nước và nhập khẩu từ nước ngoài. Chất lượng nấm linh
chi sẽ quyết định chất lượng sản phấm nấm linh chi của các doanh nghiệp. Nếu chất lượng
nguồn nguyên liệu đầu vào tốt thì chi phí để sản xuất sản phẩm nấm linh chi cũng sẽ được
giảm bớt còn chất lượng sản phẩm nấm linh chi cũng đựơc nâng cao và ngược lại.
d/ Nhân tố luật pháp
Mọi hoạt động đều diễn ra trong môi trường luât pháp và thể chế nhất định. Do đó hoạt
động thương mại cũng chịu sự ảnh hưởng của luật pháp. Đó là những nguyên tắc và luật lệ do
xã hội quy định để điều tiết các hành vi của các thành viên trong xã hội. Nó chi phối hoạt động
thương mại cả trong và ngoài nước. Sự thống nhất , đầy đủ và đồng bộ của hệ thống luật sẽ là
điều kiện thúc đẩy hoạt động thương mại phát triển. Mặt khác,các quy định phápluật có thể là
hàng rào cản trở các hoạt động thương mại của doanh nghiêp.Các hoạt động thương mại phải
tuân thủ những quy định mà pháp luật đề ra. Tuy nhiên, các hoạt động thương mại cũng có sự
tác động ngược trở lại tới hệ thống luật pháp. Các hoạt động thương mại của nghành không
tổn thất cho ngân sách nhà nước. Chính vì vậy, chính sách hỗ trợ vốn chỉ áp dụng cho một số
ngành thật sự cần vốn để sản xuất, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm trong nước so với
các sản phẩm nhập khẩu.
- Chính sách hỗ trợ công nghệ: Công nghệ luôn luôn là yếu tố quan trọng trong sản xuất nhất là
trong giai đoạn CNH,HĐH hiện nay. Công nghệ giúp cho doanh nghiệp có thể sản xuất với
năng suất cao hơn, sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng tốt hơn đáp ứngnhu cầu ngày
càng cao của nguời tiêu dùng. Tuy nhiên chính sách hỗ trợ công nghệ cần phải được cân nhắc
kỹ trước khi quyết định để tránh nhập vềnhững công nghệ có chi phí lớn mà hiệu quả lại không
cao gây lãng phí.
2.3 Tổng quan khách thể nghiên cứu các công trình năm trước
Phát triển thương mại sản phẩm nấm linh chi là một đề tài tương đối mới. Hiện nay
chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu về vấn đề này. Tuy nhiên, cũng có một số đề tài nghiên cứu
về phát triển thương mại sản phẩm trên thị trường Hà Nội và nghiên cứu về sản phẩm của công
ty TNHH thương mại FCM. Cụ thể:
2.3.1 Các đề tài cùng nghiên cứu về phát triển thương mại sản phẩm trên thị trường Hà
Nội:
Trong quá trình tìm hiểu, thu thập thống kê các công trình nghiên cứu năm trước tại
trương Đại học Thương Mại thì có rất ít công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển thương
mại sản phẩm trên thị trường Hà Nội như :
21
- Luận văn của Nguyễn Thị Loan với đề tài “Phát triển thương mại sản phẩm dược của công ty
CP sáng tạo Châu Âu trên thị trường miền Bắc.”
- Luận văn của Trần Thị Thanh với đề tài “Giải pháp phát triển thương mại sản phẩm gạch
men cao cấp PRIME trên thị trường Hà Nội.”
- Luận văn của Nguyễn Thị Huệ với đề tài “Phát triển thương mại các sản phẩm đá và xi măng
đáp ứng nhu cầu xây dựng trên địa bàn Hà Nội”.
- Luận văn của Dương Thùy Dung với đề tài “Giải pháp phát triển thương mại sản phẩm thép
chế tạo trên địa bàn Hà Nội”.
- Luận văn của Tô Thị Mai với đề tài “Phát triển thương mại mặt hàng rượu vang sản xuất
trong nước trên thị trường Hà Nội”.
kinh doanh nấm linh chi và đưa ra những đề xuất để phát triển thương mại mang tính thực tiễn
và phù hợp với tình hình hiện tại của nghành.
2.4 Phân định nội dung nghiên cứu phát triển thương mại sản phẩm nấm linh chi của
công ty TNHH thương mại FCM trên thị trường nội địa
Nấm linh chi là một loại sản phẩm chức năng bắt đầu phổ biến trên thị trường Hà Nội.
Việc nghiên cứu về phát triển thương mại sản phẩm nấm linh chi trên thị trường àh Nội đang là
vấn đề cấp thiết bởi 3 lý do. Thứ nhất, việc mở rộng quy mô, tăng doanh thu và nâng cao hiệu
quả kinh doanh sản phẩm nấm linh chi đang là vấn đề cần quan tâm của công ty TNHH
thương mại FCM nói riêng và là vấn đề của các công ty kinh doanh mặt hàng này nói chung.
Thứ hai, thị trường tiêu thụ sản phẩm nấm linh hci còn nhỏ hẹp do các doanh nghiệp chưa khai
thác hết các tiềm năng của tập khách hàng trên thị trường Hà Nội. Thứ ba, vấn đề hàng giả
hàng nhái hàng kém chất lượng đang gây ra không ít khó khăn cho các doanh nghiệp kinh
doanh nấm linh chi trên thị trường Hà Nội trong quá trình khẳng định thương hiệu của mình.
Chính vì vậy, đề tài: “ Phát triển thương mại sản phẩm nấm linh chi của công ty TNHH
thương mại FCM trên thị trường nội địa”là thực sự cần thiết trong thời điểm hiện nay. Đề
tài mong muốn sẽ mang lại giải pháp phát triển thương mại hữu hiệu cho các doanh nghiệp
kinh doanh nấm linh chi, giúp cho doanh nghiệp có thể đứng vững trên thị trường nội địa và
góp phần phát triển kinh tế.
Đề tài được kết cấu thành 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về phát triển thương mại nấm linh chi trên thị trường nội địa.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển thương mại nấm linh chi.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích thực trạng phát triển thương mại sản
phẩm nấm linh chi trên thị trường nội địa.
Chương 4: Các kết luận và đề xuất phát triển thương mại nấm linh chi trên thị trường nội địa.
Tuy nhiên, phát triển thương mại là một khái niệm có phạm vi nghiên cứu tương đối
rộng nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu làm rõ một số vấn đề:
-Về mặt lý thuyết:
+ Đề tài sẽ đi làm rõ bản chất của phát triển thương mại, phân tích rõ nội hàm của phát triển
thương mại và xây dựng một số chỉ tiêu phản ánh phát triển thương mại sản phẩm. Tuy nhiên,
23
nấm linh chi trên thị trường Hà Nội , nguyên nhân củan hững hạn chế đó để có thể đưa ra các
giải pháp khắc phục.
+ Qua tìm hiểu em nhận thấy việc phát triển thị trường sản phẩm nấm linh chi còn rất nhiều
khó khăn và yếu kém: vấn đề thương hiệu cho các sản phẩm trong nước vẫn chưa đựoc quan
24
tâm, thị trường tiêu thụ sản phẩm vẫn còn bị bó hẹp. các giải pháp phát triển thương mại sản
phẩm chưa gắn liền với thực tiễn… Trên cơ sở đó đề tài sẽ chỉ tập trung đưa ra các đề xuất để
phát triển thị trường sản phẩm nấm linh chi cho công ty TNHH thương mại FCM và những
giải pháp áp dụng chung cho ngành kinh doanh nấm linh chi trong giai đoạn 2010-2012.
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG
PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI SẢN PHẨM NẤM LINH CHI
TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA
3.1 Phương pháp hệ nghiên cứu các vấn đề
Trong quá trình nghiên cứu luận văn có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như
sau:
25