Các loại báo cáo kiểm toán. Áp dụng phương pháp phân tích đánh giá tổng quát để phân tích bảng cân đối kế toán của một đơn vị cụ thể. - Pdf 26

Đề tài: Các loại báo cáo kiểm toán. Áp dụng phương pháp phân tích đánh giá
tổng quát để phân tích bảng cân đối kế toán của một đơn vị cụ thể.
I. Cơ sở lý luận
1. Báo cáo kiểm toán
1.1. Khái niệm
1.1.1. Khái niệm kiểm toán
Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và thẩm quyền thu thập và đánh giá các
bằng chứng về cac thông tin có thể định lượng được cảu một đơn vị cụ thể, nhằm mục
đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn
mực đã được thiết lập.
1.1.2. Khái niệm báo cáo kiểm toán
Báo cáo kiểm toán là sản phẩm cuối cùng của một cuộc kiểm toán, là văn bản do kiểm
toán viên phát hành để trình bày ý kiến của mình về thông tin tái chính được kiểm
toán.
1.2. Các yếu tố cơ bản của báo cáo kiểm toán
Tùy theo mỗi quốc gia, mỗi hạng kiểm toán có những quy định khác nhau về BCTC,
song theo thông lệ kiểm toán quốc tế và đoạn chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS 700)
quy định:
Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính gồm các yếu tố cơ bản và được trình bày theo
thứ tự sau:
a) Tên và địa chỉ công ty kiểm toán
b) Số hiệu báo cáo kiểm toán
c) Tiêu đề báo cáo kiểm toán
d) Người nhận báo cáo kiểm toán
e) Mở đầu của báo cáo kiểm toán
• Nêu đối tượng của cuộc kiểm toán báo cáo tài chính
• Nêu trách nhiệm của giám đốc (hoặc người đúng đầu) đơn vị được kiểm toán và
trách nhiệm của kiểm toán viên và công ty kiểm toán
f) Phạm vi và căn cứ thực hiện cuộc kiểm toán
• Nêu chuẩn mực kiểm toán được áp dụng để thực hiện cuộc kiểm toán
• Nêu những công việc và thủ tục kiểm toán mà kiểm toán viên được thực

phản ánh.
Báo cáo kiểm toán phải khẳng định rõ ràng việc lập báo cáo tài chính là thuộc
trách nhiệm của Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị được kiểm toán. Trách nhiệm
của kiểm toán viên và công ty kiểm toán là đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính dựa trên
kết quả kiểm toán của mình.
Báo cáo tài chính phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính của doanh nghiệp.
Việc lập báo cáo tài chính đòi hỏi Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị phải tuân
thủ chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận; Phải lựa chọn các
nguyên tắc và phương pháp kế toán cũng như phải đưa ra các ước tính kế toán và các
xét đoán thích hợp. Ngược lại trách nhiệm của kiểm toán viên và công ty kiểm toán là
kiểm tra các thông tin trên báo cáo tài chính và đưa ra ý kiến về báo cáo này.
Phạm vi và căn cứ thực hiện cuộc kiểm toán
Báo cáo kiểm toán phải nêu rõ phạm vi và căn cứ thực hiện cuộc kiểm toán
bằng cách khẳng định rằng công việc kiểm toán được thực hiện theo mẫu chuẩn mực
kế toán Việt Nam, hoặc chuẩn mực kiểm toán quốc tế được chấp nhận.
Điều đó chỉ khả năng của kiểm toán viên thực hiện các thỉ tục kiểm toán xét
thấy cần thiết tùy theo từng tình huống cụ thể. Thủ tục này là cần thiết để đảm bảo cho
người đọc báo cáo kiểm toán hiểu rằng cuộc kiểm toán được thực hiện theo các chuẩn
mực và thông lệ được thừa nhận. Trong trường hợp riêng biệt, kiểm toán viên được
thực hiện các thủ tục kiểm toán khác thì cần phải ghi rõ trong báo cáo kiểm toán
Báo cáo kiểm toán phải nêu rõ các công việc đã thực hiện bao gồm :
a) Các phương pháp kiểm toán (chọn mẫu, thử nghiệm cơ bản,…) những
bằng chứng kiểm toán đủ để xác minh được thông tin trong báo cáo tài chính
b) Đánh giá việc tuân thủ chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp
nhận ). Các nguên tắc và phương pháp kế toán được áp dụng để lập báo cáo tài chính
c) Đánh giá các ước tính kế toán và xét đoán quan trọng đã được Giám đốc (hoặc
người đứng đầu) đơn vị được kiểm toán thực hiện khi lập báo cáo tài chính
d) Đánh giá việc trình bày toàn bộ tình hình tài chính trên các báo cáo tài chính
Báo cáo kiểm toán phải được nêu rõ là cuộc kiểm toán đã cung cấp những cơ sở hợp lý
để làm căn cứ cho ý kiến của kiểm toán viên

BCKT phải ký rõ tên của kiểm toán viên đã đăng ký hành nghề kiểm toán ở
Việt Nam- Người chịu trách nhiệm kiểm toán, và ký rõ tên của Giám đốc ( hoặc người
được ủy quyền ) phải đóng dấu của công ty ( hoặc chi nhánh ) chịu trách nhiệm phát
hành báo cáo kiểm toán. Giữa các trang của báo cáo kiểm toán và báo cáo tài chính
được kiểm toán phải đóng dấu giáp lai
Phù hợp với thông lệ chung của quốc tế, Giám đốc ( hoặc người được ủy
quyền ) được phép ký bằng tên của Công ty kiểm toán thay cho chữ ký tên của mình,
nhưng vẫn phải ghi rõ họ và tên, số hiệu giấy phép hành nghề kiểm toán ở Việt Nam
của chính mình, và đóng dấu công ty kiểm toán
Trường hợp có từ hai công ty kiểm toán cùng thực hiện một cuộc kiểm toán thì
báo cáo kiểm toán phải được ký bởi Giám đốc ( hoặc người được ủy quyền ) của đủ
các công ty kiểm toán theo đúng thủ tục. Trường hợp này kiểm toán viên chịu trách
nhiệm kiểm toán không phải ký tên trên báo cáo kiểm toán
“ Người được ủy quyền “ kỳ báo cáo kiểm toán có thể là Phó Giám đốc công
ty , Giám đốc hoặc Phó Giám đôc chi nhánh và là người có giấy phép hành nghề kiểm
toán ở Việt Nam và phải được Giám đốc công ty ủy quyền bằng văn bản
Ngôn ngữ trình bày trên báo cáo kiểm toán là tiếng Việt Nam hoặc tiếng nước
ngoài khác thỏa thuận trên hợp đồng kiểm toán.
Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính hợp nhất
BCKT phải được lập riêng cho từng cuộc kiểm toán báo cáo tài chính của từng
đơn vị khác hàng ( Công ty, đơn vị xó tư cách pháp nhân độc lập ) theo thỏa thuận ghi
trên hợp đồng kiểm toán
Trường hợp kiểm toán báo cáo tài chính hợp nhất của Tổng công ty, theo thỏa
thuận trên hợp đồng kiểm toán, nếu kiểm toán báo cáo tài chính cho từng công ty độc
lập của Tổng công ty thì phải lập báo cáo kiểm toán cho từng công ty độc lập. Nếu
kiểm toán báo cáo tài chính cho từng đơn vị phụ thuộc trong Tổng công ty, thì được
phép lập báo cáo kiểm toán hoặc “Biên bản kiểm toán”. Biên bản kiêm toán này phải
bao gồm các nội dung cơ bản của báo cáo kiểm toán.
Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính hợp nhất của Tổng công ty phải được
lập dựa trên kết quả kiểm toán được thực hện đối với các đơn vị thành viên, và kết quả

phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu…”.
Ý kiến chấp nhận toàn phần còn được áp dụng cho cả trường hợp báo cáo kiểm toán
có một đoạn nhận xét để làm sáng tỏ một số yếu tố ảnh hưởng không trọng yếu đến
báo cáo tài chính, nhưng không có ảnh hưởng đến báo cáo kiểm toán. Đoạn nhận xét
này thường đặt sau đoạn đưa ra ý kiến nhằm giúp người đọc đánh giá ảnh hưởng của
các yếu tố ảnh hưởng đến báo cáo tài chính.
Ví dụ : “theo ý kiến của chúng tôi báo cáo tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lý
trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của công ty ABC tại ngày 31/12/X,
cũng như kết quả kinh doanh và các luồng tiền lưu chuyển tiền tệ trong năm tài chính
kết thúc tại ngày 31/12/X, phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện
hành và các qui định pháp lý có liên quan. Ở đây chúng tôi không phủ nhận ý kiến
chấp nhận toàn phần như trên, mà chỉ muốn lưu ý người đọc báo cáo tài chính đến
điểm X trong phần thuyết minh báo cáo tài chính: công ty ABC đã đưa vào sử dụng
công trình xây dựng có giá trị XX VNĐ, 3 tháng trước ngày kết thúc niên độ tài chính,
nhưng chưa ghi tăng tài sản cố định, chưa tính khấu hao và cũng chưa lập dự phòng.
Điều này cần được thuyết minh rõ ràng trong báo cáo tài chính…”
Ý kiến chấp nhận toàn phần không có nghĩa là báo cáo tài chính được kiểm toán là
hoàn toàn đúng, mà có thể sai sót nhưng sai sót đó là không trọng yếu.
1.3.2. Ý kiến chấp nhận từng phần
Báo cáo kiểm toán đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần được trình bày trong trường hợp
kiểm toán viên và công ty kiểm toán cho rằng báo cáo tài chính chỉ phản ánh trung
thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị, nếu không
bị ảnh hưởng của yếu tố tùy thuộc (hoặc ngoại trừ) mà kiểm toán viên đã nêu ra trong
báo cáo kiểm toán. Điều này cũng có nghĩa là nếu các yếu tố do kiểm toán viên nêu ra
trong báo cáo kiểm toán có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính thì báo cáo tài
chính đó không phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu.
Yếu tố tùy thuộc là yếu tố trọng yếu nhưng không chắc chắn, như các vấn đề liên quan
đến tính liên tục hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hoặc một khoản doanh thu
có thể không được công nhận làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của công ty.
Yếu tố tùy thuộc do kiểm toán viên nêu ra thường liên quan đến các sự kiện có thể xảy

không đồng ý với Giám đốc hay do công việc kiểm toán bị giới hạn, là quan trọng
nhưng không liên quan tới một số lượng lớn các khoản mục tới mức có thể dẫn đến “ý
kiến từ chối, hoặc ý kiến không chấp nhận”. ý kiến chấp nhận từng phần còn được thể
hiện bởi thuật ngữ “ngoại trừ” ảnh hưởng của các vấn đề không được chấp nhận, bằng
mẫu câu : “ Ngoại trừ những ảnh hưởng (nếu có) của những vấn đề nêu trên, báo cáo
tài chính phản ánh trung thực và hợp lý trên các khiá cạnh trọng yếu…”
1.3.3 Ý kiến từ chối (hoặc không thể đưa ra ý kiến)
Ý kiến từ chối ( hoặc không thể đưa ra ý kiến) được đưa ra trong trường hợp hậu quả
của việc giới hạn phạm vi kiểm toán là quan trọng hoặc thiếu thông tin liên quan đến
một số lượng lớn các khản mục tới mức mà kiểm toán viên không thể thu thập đầy đủ
và thích hợp các bằng chứng kiểm toán để có thể cho ý kiến về báo cáo tài chính, bằng
mẫu câu: “Theo ý kiến của chúng tôi, vì các lý do nêu trên, chúng tôi không thể đưa ra
ý kiến về báo cáo tài chính…”
1.3.4 Ý kiến không chấp nhận ( hoặc ý kiến trái ngược)
Ý kiến không chấp nhận ( hoặc ý kiến trái ngược) được đưa ra trong trường hợp các
vấn đề không thống nhất với giám đốc là quan trọng hoặc liên quan đến một số lượng
lớn các khoản mục đến mức độ mà kiểm toán viên cho rằng ý kiến chấp nhận từng
phần là chưa đủ để thể hiện tính chất và mức độ sai sót trọng yếu của báo cáo tài chính
bằng mẫu câu : “Theo ý kiến của chúng tôi, vì ảnh hưởng trọng yếu của những vấn đề
nêu trên, báo cáo tài chính phản ánh không trung thực và không hợp lý trên các khía
cạnh trọng yếu…”
Mỗi khi kiểm toán viên đưa ra ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần (ý kiến
chấp nhận từng phần, ý kiến từ chối, hoặc ý kiến không chấp nhận) thì phải mô tả rõ
ràng trong báo cáo kiểm toán tất cả những lý do chủ yếu dẫn đến ý kiến đó và định
lượng, nếu được, những ảnh hưởng đến báo cáo tài chính. Thông thường, các thông tin
này được ghi trong một đoạn riêng nằm trước đoạn đưa ra ý kiến của kiểm toán viên,
có thể tham chiếu đến một đoạn thuyết minh chi tiết hơn trong báo cáo tài chính (nếu
có)
Những tình huống dẫn đến ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần.
Kiểm toán viên không thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần trong trường hợp xảy ra

do nêu trên, báo cáo tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh
trọng yếu…”
Hoặc :
“do những hạn chế từ phía đơn vị mà chúng tôi đã khong kiêm tra được toàn bộ doanh
thu, cũng không nhận được đủ các bản xác nhận nợ phải thu từ khách hàng, và vì tính
trọng yếu của các sự kiện này, chúng tôi từ chối đưa ra ý kiến của mình về báo cáo tài
chính của đơn vị
Không nhất trí với đơn vị được kiểm toán
Trường hợp kiểm toán viên không nhất trí với giám đốc một số vấn đề, như việc lựa
chọn và áp dụng chuẩn mực và chế độ kế toán, hay sự không phù hợp của các thông
tin ghi trong báo cáo tài chính hoặc phần thuyết minh báo cáo tài chính.
Nếu những điểm không nhất trí với giam đốc là trọng yếu đối với báo cáo tài chính, thì
kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần hoặc ý kiến không chấp nhận.
Ví dụ về không nhất trí với giám đốc:
“…như đã nêu trong phần thuyết minh X của báo cáo tài chính, đơn vị đã không tính
khấu hao tài sản cố định, trong khi tài sản cố định này đã thực sự được sử dụng trên 6
tháng, với mức khấu hao đangs lẽ phải tính là XXX VNĐ. Do vậy, chi phí kinh doanh
đã bị thiếu và giá trị thuần của tài sản đã cao hơn thực tế với giá trị tương đương XXX
VNĐ, làm cho lãi tăng giả tạo XXX VNĐ.
Theo ý kiến của chúng tôi, ngoại trừ ảnh hưởng (nếu có) đến báo cáo tài chính của sự
kiện trên, báo cáo tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng
yếu…”
Hoặc:
“…ngày 25/3/X, công ty đã cho vay một khoản tiền lớn là XXX VNĐ, đến ngày
31/12/X vẫn chưa làm xong thủ tục xác nhận nợ. điều đó cần thiết phải ghi rõ trong
phần thuyết minh báo cáo tài chính…
Theo ý kiến của chúng tôi, ngoại trừ ảnh hưởng (nếu có) của việc bỏ sót phần thuyết
minh nói trên, báo cáo tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh
trọng yếu…”
Hoặc :

khoản mục trong BCTC có thể thu được khi tiến hành thử nghiệm chi tiết các nghiệp
vụ số dư hoặc phân tích hay kết hợp cả hai phương pháp phân tích và thử nghiệm chi
tiết nghiệp vụ và số dư tài khoản.
Khi sử dụng phương pháp phân tích trong thực hành kiểm toán,KTV cần chú ý đến
mấy vấn đề sau:
• Mục đích phương pháp phân tích và mức độ KTV có thể tin cậy vào phương
pháp phân tích.
• Tính hữu dụng, hiệu quả của các thong tin tài chính và phi tài chính dùng để
phân tích.
• Tính so sánh của các thong tin hiện có,kể cả độ tin cậy của nó
• Kinh nghiệm kiểm toán kỳ trước và tính hiệu lực của hệ thống KSNB trong
doanh nghiệp.Nếu hệ thống KSNB yếu, không nên áp dụng phương pháp phân
tích để đưa ra kết luận.
+ Giai đoạn kết thúc một cuộc kiểm toán: ở giai đoạn này,việc phân tích đành giá tổng
quát có vai trò rất quan trọng đối với KTV.Khi đã kiểm toán và có kết luận về từng bộ
phận cấu thành BCTC,mà đặc biệt kiểm toán hiện đại ngày nay tiến hành trên cơ sỏ
mẫu chọn trong kiểm toán. Để có mức thoả mãn trong kiểm toán càng cao và ta ưg
them độ tin cậy cho KTV thì cần phải một lần nữa sử dụng phương pháp phân tích
đánh giá tổng quát về những thong tin cần kiểm toán và bằng chứng thu thập được để
củng cố them cho các bằng chứng và kết luận của KTV,kể cả việc thử lại khả năng tiếp
tục hoạt động của doanh nghiệp trước khi KTV ký vào báo cáo kiểm toán.
2.2 Kỹ thuật phân tích:
Nội dung phân tích đánh giá tổng quát bao gồm:
 Phân tích xu hướng
 Phân tích tỷ suất
• Phân tích xu hướng là phương pháp so sánh về lượng trên cùng một chỉ tiêu.Kỹ
thuật so sánh trong phân tích xu hướng thường sử dụng:
-So sánh số liệu thực tế kỳ này với kỳ trước.
-So sánh số liệu thực tế với kế hoạch, định mức, dự toán…
-So sánh số liệu thực tế của doanh nghiệp với số liệu bình quân của ngành hoặc số

-Có sự lẫn lộn trong phân loại các khoản công nợ ngắn hạn và dài hạn.
-Có sai sót về tính đúng kỳ trong số dư cuối năm.
Để phân tích và nhận biết rủi ro từ việc khả năng thanh toán hiện thời có sự biến
động,có thể xem xét them các chỉ tiêu khác như khả năng thanh toán nhanh,số ngày
phải thu,vòng quay HTk ,vòng quay vốn kinh doanh.
Tỷ suất này =1 : có nghĩa TS lưu động vừa đủ thanh toán nợ ngắn hạn
=2 : có nghĩa đảm bảo vốn vừa thanh toán đủ nợ ngắn hạn,vừa tiếp
tục hoạt động được
>2 : có nghĩa là dnghiệp có khả năng thanh toán nhưng đầu tư thừa tài
sản lưu động
<2 : có nghĩa là doanh nghiệp có khả năng thanh toán nhưng đầu tư
thiếu ts lưu động
a.2 Tỷ suất khả năng thanh toán nhanh:
Tỷ suất khả năng thanh = Vốn bằng tiền + tài sản tương đương tiền
toán nhanh Tổng số nợ ngắn hạn
Ý nghĩa:nói lên khả năng thanh toán nhanh (tức thời)các khoản công nợ ngắn hạn
bằng tiền và các khoản có thể chuyển hoá ngay bằng tiền.
Tỷ suất này =1 : thoả đáng
>1 :có khả năng thanh toán nhanh
<1 :khó khăn trong thanh toán công nợ ngắn hạn
a.3 Tỷ suất thanh toán lãi vay dài hạn:
Tỷ suất thanh toán lãi = Lãi trước thuế +Lãi vay dài hạn
vay dài hạn lãi vay dài hạn
Tỷ suất này =1 : dnghiệp không có lợi nhuận
=2 : dnghiệp có lợi nhuận trước thuế bằng lãi vốn vay
>=3 :lợi nhuận trước thuế = hay > 2 lần lãi vốn vay
a.4 Tỷ suất khả năng thanh toán dài hạn:
Tỷ suất khả năng thanh toán = Tổng tài sản
dài hạn Tổng số nợ phải trả(NH+DH)
Ý nghĩa : tỷ suất này không những có ý nghĩa với việc đánh giá khả năng thanh

tiết của từng khách hàng.Bên cạnh đó cũng có thể xem xét sự biến động trong báo cáo
tuổi nợ.
a.6 Số vòng luân chuyển HTK:
Số vòng luân chuyển hàng = Giá vốn hàng bán
tồn kho Số dư tồn kho bình quân
Thời gian một vòng luân = 3 6 5
chuyển hàng tồn kho số vòng luân chuyển HTK
Chỉ tiêu này thường bị ảnh hưởng bởi các nhân tố sau:
-Sự thay đổi về cơ cấu hàng tồn kho hoặc cơ cấu sản phẩm
-Kiểm kê thừa hoặc thiếu
-Sự thay đổi về quản lý hàng tồn khpo hoặc thủ tục kiểm soát.
-Sự thay đổi về giá hàng tồn kho.
-Sự thay đổi về phương pháp kế toán đối với hàng tồn kho.
-Sự thay đổi về chính sách dự phòng giảm giá hoặc ghi giảm hàng tồn kho.
Để phân tích và nhận biết rủi ro do việc vòng quay hàng tồn kho biến động, có thể
xem xét sự thay đổi của số dư một số tài khoản khác như thành phẩm,sản phẩm dở
dang,nguyên vật liệu,giá vốn hàng bán,và so sánh sự thay đổi của một số chỉ tiêu khác
như số ngày phải trả cà khả năng thanh toán bằng tiền.
B . Nhóm tỷ suất khả năng sinh lời :
b.1 Tỷ suất khả năng sinh lời:
Tỷ suất khả năng sinh lời = Lợi nhuận
của vốn kinh doanh Vốn kinh doanh
Tỷ suất khả năng sinh lời = lãi kinh doanh trước thuế + lãi vốn vay
của tài sản Tổng giá trị tài sản bình quân
Tổng giá trị tài sản =Tổng giá trị tài sản tồn đầu kỳ+ tổng giá trị tài sản tồn cuối
kỳ
bình quân 2
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản chỉ ra mối quan hệ giữa lợi nhuận thu được
và tổng mức đầu tư .Chỉ tiêu này cũng phản ánh hiệu quả của công ty trong việc quản
lý tài sản và tạo lợi nhuận.

Bên cạnh các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận gộp,chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận
ròng còn bị ảnh hưởng bởi các nhân tố sau đây:
-Sự thay đổi về kế toán như vốn hóa chi phí…
-Sự thay đổi của chi phí bán hàng,chi phí quản lý.
Để phân tích và nhận biết rủi ro từ vieevj chỉ tiêu này thay đổi,có thể xem xét sự thay
đổi của các tài khoản như doanh thu,lãi,các chi phí bán hàng,quản lý…và so sánh cùng
với sự thay đổi của các chỉ tiêu khác như lãi trên nợ dài hạn,chi phí bảo trì sửa chữa
trên tổng tài sản cố định,khả năng thanh toán nhanh.
b.4 Tỷ suất hiệu quả kinh doanh:
Tỷ suất hiệu quả = Lãi thuần từ hoạt động kinh doanh = A
kinh doanh Tổng doanh thu bán hàng thuần
Ý nghĩa: một đồng doanh thu bán hàng thuần mang lại bao nhiêu lãi cho doanh nghiệp.
C.Nhóm tỉ suất về cấu trúc tài chính:
c.1 Tỷ suất đầu tư(tỷ suất đầu tư về tài sản cố định và đầu tư dài hạn)
Tỷ suất đầu tư = Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
Tổng tài sản
Ý nghĩa : Tỷ suất này đánh giá năng lực hiện có của doanh nghiệp,đánh giá trình độ
trang bị máy móc,thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật . . .
- Tỷ suất này luôn luôn nhỏ hơn 1 và mức độ cao nhất của nó tùy theo doanh
nghiệp hoạt động trong ngành nào, lĩnh vực nào.
- Tỷ suất này ngày càng lớn chứng tỏ vị trí quan trọng của TSCĐ trong tổng số tài
sản hiện có của doanh nghiệp.
C.2 Tỷ suất tự tài trợ (tỷ suất tự tài trợ về tài sản cố định và đầu tư dài hạn)
Tỷ suất tự tài trợ = Nguồn vốn chủ sở hữu
TSCĐ và ĐTDH
Ý nghĩa : Phản ánh khả năng đàu tư tài sản cố định bằng nguồn vốn chủ sở hữu như
thế nào ? NVCSH đã dùng vào TSCĐ và ĐTDH là bao nhiêu?
Nếu doanh nghiệp có khả năng tài chính tốt thì NVCSH phải đủ đầu tư TSCĐ và
ĐTDH để hoạt động. Tỷ suất này càng cao thì tình hình tài chính ngày càng mạnh.
Chú ý : Mặt trái của nó là nếu đầu tư quá nhiều NVCSH vào mua sắm TSCĐ thì bất

1.1.Ở Việt Nam
Mặc dù đã đạt được những kết quả quan trọng trong xây dựng và phát triển hệ
thống các tổ chức kiểm toán BCTC ở VN, song còn những hạn chế chủ yếu sau:
- Khuôn khổ pháp lý về tổ chức và hoạt động của hệ thống kiểm toán BCTC chưa đầy
đủ và đồng bộ: Địa vị pháp lý của KTNN và Tổng KTNN chưa được quy định trong
Hiến pháp như hầu hết các nước trên thế giới, còn tình trạng không tương thích giữa
các quy định về tổ chức và hoạt động KTNN; Chưa có luật về kiểm toán độc lập, hoạt
động của kiểm toán độc lập hiện nay được điều chỉnh bằng Nghị định của Chính phủ
chưa thực sự tạo lập được khuôn khổ pháp lý đủ mạnh cho sự phát triển các doanh
nghiệp kiểm toán độc lập và độ tin cậy của các khách hàng kiểm toán và xử lý rủi ro
trong hoạt động kiểm toán; Các quy định về kiểm toán nội bộ vừa thiếu, vừa không đủ
hiệu lực thúc đẩy sự ra đời và phát triển của hệ thống kiểm toán nội bộ;
- Các phương pháp chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán BCTC đặc biệt là quy trình,
chuẩn mực, quy định về kiểm soát chất lượng kiểm toán của cả ba phân hệ kiểm toán
mặc dù đã được chú trọng xây dựng và ban hành nhưng còn thiếu đồng bộ đã ảnh
hưởng nhất định đến chất lượng hoạt động kiểm toán. Chưa triển khai được kiểm toán
trong môi trường công nghệ thông tin, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác
kiểm toán còn hạn chế.
- Sự phát triển về tổ chức của cả ba phân hệ kiểm toán chưa đáp ứng được yêu cầu của
thực tiễn. KTNN cho đến nay đã có bước trưởng thành nhanh chóng về tổ chức và
nhân sự nhưng năng lực kiểm toán vẫn chưa tương xứng với chức năng, nhiệm vụ và
quyền hạn được giao, đặc biệt là thiếu các KTNN khu vực để kiểm toán ngân sách địa
phương. Các doanh nghiệp kiểm toán độc lập tuy số lượng phát triển khá nhanh nhưng
năng lực nhìn chung còn hạn chế. Hệ thống kiểm toán nội bộ phát triển chậm, chủ yếu
mới được hình thành ở một số Tổng công ty và ngân hàng thương mại Nhà nước;
- Hoạt động kiểm toán BCTC trong thực tế còn hạn chế cả về phạm vi, quy mô và chất
lượng. KTNN mới chỉ chú trọng kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm
toán hoạt động còn chưa được triển khai nhiều. Các doanh nghiệp kiểm toán độc lập
của VN còn hạn chế về kinh nghiệm hành nghề, năng lực và sức cạnh tranh, chất
lượng kiểm toán chưa đáp ứng được yêu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin. Chất

thu nhập của ngành kiểm toán thì ngược lại, theo thống kê của các công ty Kiểm toán
“Big Five”. Và tất nhiên thu nhập của nhân viên làm việc không thuộc lĩnh vực kiểm
toán cao hơn rất nhiều so với thu nhập của kiểm toán viên. Theo các dữ liệu thống kê
của hơn 50 công ty được niêm yết ở Mỹ từ năm 2001 đến năm 2002, tỷ lệ giữa thu
nhập của các ngành không liên quan đến kiểm toán so với tổng thu nhập chung là 69%
và 62% thậm chí có lúc còn lên đến 92%. Theo Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái Mỹ
(ASEC), thu nhập của ngành không liên quan đến kiểm toán ảnh hưởng đến tính độc
lập về mặt tài chính ở 2 mặt.
Thứ nhất, do lượng tiền thu nhập từ các ngành không liên quan đến chứng khoán lớn
có thể dẫn đến việc các công ty kiểm toán phụ thuộc vào khách hàng về lĩnh vực tài
chính, do đó có thể khiến cho các kiểm toán viên từ bỏ nguyên tắc nghề nghiệp khi
phát sinh mâu thuẫn giữa phía kiểm toán viên và khách hàng.
Thứ hai, là nhà tư vấn quản lý làm việc trong lĩnh vực giao dịch không liên quan
gì đến kiểm toán bị buộc phải làm việc trong lĩnh vực quản lý công ty, điều này khiến
cho kiểm toán viên làm việc trong phạm vi quản lý công ty cảm thấy thật khó khăn để
đánh giá cũng như đưa ra các phán xét liên quan đến các giao dịch và công việc kinh
doanh một cách khách quan.
Năm 2001, WorldCom Inc. đã trả cho công ty kiểm toán Arthur Andersen chi phí
dịch vụ lên đến khoảng 16,8 triệu đôla Mỹ trong đó chi phí cho kiểm toán là 4,4 triệu
đôla, dịch vụ tư vấn thuế là 7,6 triệu đôla, chi phí cho việc kiểm toán các bản báo cáo
tài chính là 1,6 triệu đôla và các dịch vụ tư vấn khác là 3,2 triệu đôla. Enron Corp. trả
Arthur Andersen chi phí kiểm toán 25 triệu, chi phí tư vấn và các phí dịch vụ khác lên
đến 27 triệu đôla, và tổng số là 52 triệu đôla. Như thế có nghĩa là công ty Enron Corp.
đã trả Arthur Andersen khoảng 1 triệu đôla/tuần. Chủ tịch tiền nhiệm của SEC Arthur
Levitt đã lên tiếng phê bình công ty Arthur Andersen thiếu tính độc lập, tự chủ khi làm
việc. Ông cho rằng một trong những nguyên nhân chính là các công ty kiểm toán lại
cung cấp cả dịch vụ tư vấn quản lý.
1.2.2.Thiếu tính thận trọng.
Khi tiến hành các thủ tục kiểm toán, CPA thường bộc lộ nhược điểm của họ là
thiếu tính thận trọng và tính hoài nghi nghiệp vụ cần thiết, và do đó thường tin vào lời

đã cử các kiểm toán viên không có kinh nghiệm kiểm toán hoặc cả tin vào kết quả báo
cáo và kiểm toán của các công ty, trong khi những kiểm toán viên giỏi không trực tiếp
dính vao quá trình kiểm toán. Sau vụ tập đoàn Enron sụp đổ, tổng biên tập của tạp chí
tài chính Bowman Accounting report đã nghiên cứu quá trình kiện cáp liên quan đến
CPA và chỉ ra rằng tổng doanh thu của công ty kiểm toán Arthur Andersen có được từ
dịch vụ tư vấn.
Các kiểm toán viên giàu kinh nghiệm và thu nhập cao mải mê mở rộng dịch vụ tư
vấn trong khi những người trẻ ít kinh nghiệm và thu nhập thấp thì chủ yếu làm kiểm
toán. Điều này giải thích một hiện tượng: một công ty lớn luân chuyển hàng từ nhà
kho này sang nhà kho khác, các CPA trẻ thường kiểm kê cùng một loại hàng hóa
nhưng lại ở hai địa điểm khác nhau mà không hề biết. Ví dụ này cho thấy những thất
bại trong kiểm toán thường bắt nguồn từ các kiểm toán viên thiếu kinh nghiệm.
1.2.4.Rắc rối trong hình mẫu kiểm soát.
Sự kiểm soát nghề CPA bao gồm 3 hình mẫu: tự kiểm soát, chính phủ kiểm soát và
kiểm soát độc lập. Các hình mẫu khác nhau thì có ảnh hưởng khác nhau. Sự độc lập
của hình thức tự kiểm soát là thấp nhất, ngược với kiểm soát độc lập. Sau khi được
thành lập, AICP hoạt động chức năng kép, không chỉ bảo vệ quyền hợp pháp của CPA
và còn kiểm soát hành động của CPA. CPA của Mỹ thuộc hình thức tự kiểm soát.
Nhưng thất bại của công ty kiểm toán Arthur Andersen khiến công chúng phải kiểm
tra lại hệ thống kiểm soát nghề CPA của Mỹ. Hình thức tự kiểm soát đóng vai trò quan
trọng trong việc cải thiện nghề CPA của Mỹ. Tuy nhiên, trong quá trình tự kiểm soát,
khi lợi ích nghề nghiệp và các lợi ích khác không được xác định, CPA có thể bảo vệ
được lợi ích nghề nghiệp nhưng lại xung đột với các quan hệ lợi ích khác, bao gồm hệ
thống kiểm tra chéo chuyên nghiệp trong nghề CPA.

Trích đoạn Một số nét khái quát về tình hình hoạt động SXKD năm 2009 thu thập được từ doanh nghiệp:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status