380 Kiểm toán thuế giá trị gia tăng (VAT) trên báo cáo tài chính áp dụng phương pháp khấu trừ thuế do Công ty Hợp danh Kiểm toán Quốc Gia Việt Nam - Pdf 22

Chuyên đề thực tập Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................................1
CHƯƠNG 1:........................................................................................................3
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KIỂM TOÁN THUẾ GTGT.....................................3
1.1- Lí luận chung về thuế GTGT:.............................................................3
1.1.1- Khái niệm thuế GTGT tại Việt Nam:..............................................3
1.1.2- Nội dung thuế GTGT:.....................................................................5
1.1.2.1- Đặc điểm thuế GTGT: .............................................................5
1.1.2.2- Phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:. .10
1.1.2.3- Quản lý thuế GTGT:..............................................................14
1.1.3- Đặc điểm kế toán thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ: .........15
Thuế GTGT là quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước
nên kế toán thuế GTGT phải tổ chức phản ánh ghi chép chính xác, đầy
đủ, kịp thời. .............................................................................................15
1.1.3.1- Chứng từ:................................................................................15
Các CSKD thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu
trừ phải sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng. Khi lập hóa đơn bán hàng
hóa, dịch vụ, CSKD phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố ghi trên hóa đơn,
về giá bán phải ghi rõ: giá bán chưa có thuế, phụ thu và phí tính ngoài
giá bán (nếu có), thuế GTGT, giá thanh toán đã có thuế.....................15
Các CSKD trực tiếp bán lẻ hàng hóa cho người tiêu dùng, đối với
hàng hóa có giá bán dưới mức quy định phải lập hóa đơn GTGT thì
phải lập bảng kê hàng bán lẻ theo mẫu của cơ quan Thuế để làm căn
cứ tính thuế GTGT..............................................................................15
Trong kỳ nếu phát sinh các nghiệp vụ mua vào đối với hàng hóa là
nông sản phẩm không có hóa đơn GTGT hoặc hóa đơn bán hàng thì
ngoài các Bảng đã nêu, doanh nghiệp còn phải lập Bảng kê thu mua
các loại hàng hóa đó để nộp cho cơ quan thuế làm cơ sở xác định số
thuế đầu vào được khấu trừ trong kỳ...................................................15
Hóa đơn, chứng từ hợp pháp là hóa đơn do BTC (Tổng cục thuế) phát

2.1.2 - Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý tại công ty: ............................43
2.1.3- Hệ thống kiểm soát chất lượng:....................................................44
2.1.3.1- Chất lượng kiểm toán viên:....................................................44
2.1.3.2- Ban kiểm soát chất lượng:......................................................45
2.1.4- Quy trình kiểm toán khoản mục thuế GTGT theo phương pháp
khấu trừ tại VNFC: .................................................................................47
2.1.4.1- Lập kế hoạch kiểm toán:........................................................48
2.1.4.2- Thực hiện kế hoạch kiểm toán: .............................................51
2.1.4.3- Kết thúc kiểm toán:................................................................52
2.2- Thực tế quy trình kiểm toán khoản mục thuế GTGT trên BCTC
trong các doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu trừ thuế do VNFC
thực hiện:....................................................................................................53
2.2.1- Lập kế hoạch kiểm toán:...............................................................53
2.2.2- Thực hiện kiểm toán:....................................................................61
2.2.2.1- Đối chiếu số thuế GTGT đầu kỳ với số trình bầy trên Báo cáo
kiểm toán năm trước hoặc Biên bản quyết toán thuế:.........................61
Từ các số liệu khách hàng cung cấp, KTV lập bảng tổng hợp thuế
GTGT trong năm 2005 cho XN A.......................................................61
Biểu 2.8: Bảng tổng hợp thuế GTGT năm 2005 của XN A................61
Nợ Có.................................................................................................61
Số dư đầu kỳ: 0 ......................................................62
Số phát sinh: 2.291.623.134 2.291.623.134.............................62
Số dư cuối kỳ: 0..........................................................62
Vì chưa có biên bản quyết toán thuế GTGT năm 2004 và báo cáo
kiểm toán năm trước nên số liệu này được lấy trên sổ TK 3331 (KTV
cho rằng số liệu trên là đầy đủ để tiến hành các thủ tục tiếp theo và
nêu phần này trong ý kiến ngoại trừ) ..................................................62
2.2.2.2- Kiểm tra tính đầy đủ của thuế GTGT phát sinh trong kỳ:.....62
Phạm Thị Bích Thu - Kiểm toán 44
Chuyên đề thực tập Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

3.2- Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện kiểm toán khoản mục thuế
GTGT tại VNFC:.......................................................................................74
3.2.1- Tính tất yếu của việc hoàn thiện kiểm toán khoản mục thuế GTGT
trên BCTC do VNFC thực hiện:..............................................................74
3.2.2- Kiến nghị:......................................................................................75
KẾT LUẬN........................................................................................................80
Phạm Thị Bích Thu - Kiểm toán 44
Chuyên đề thực tập Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
LỜI MỞ ĐẦU
Lịch sử ra đời và phát triển thuế khoá ở mỗi quốc gia không giống nhau.
Ở Việt Nam, thuế nhằm mục đích phục vụ cho quá trình phát triển của đất nước.
Thuế GTGT ra đời cũng không nằm ngoài mục đích đó. Hiện nay, khoản mục
thuế GTGT trên BCTC bị trình bầy sai lệch rất cao, tình trạng khai khống thuế
GTGT đầu vào để rút ruột NSNN đang diễn ra liên tục.
Kiểm toán ra đời, đặc biệt là kiểm toán BCTC trong đó kiểm toán tình
hình thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN đã đáp ứng và trợ giúp đắc lực trong
công tác quản lý kinh tế của Nhà nước và góp phần cung cấp những thông tin
đáng tin cậy cho nhiều đối tượng quan tâm.
Mặt khác, hiện nay trên thế giới và trong nước chưa có những hướng dẫn,
quy định cụ thể cho kiểm toán thuế. Khi kiểm toán thuế, KTV mới chỉ tuân theo
các Chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán và các quy định cụ thể của từng
công ty kiểm toán. Vì vậy, quy trình kiểm toán thuế nói chung và thuế GTGT
nói riêng mang nét đặc thù của từng công ty kiểm toán và đang trong quá trình
“vừa nghiên cứu vừa thực hành”.
Nhận thức được tầm quan trọng của quy trình kiểm toán thuế GTGT cũng
như đối tượng chính của kiểm toán theo NĐ 105 và NĐ 133/2005/NĐ-CP về các
doanh nghiệp bắt buộc kiểm toán và từ thực trạng kiểm toán khoản mục thuế
GTGT của Công ty Hợp danh Kiểm toán Quốc gia Việt Nam, em chọn đề tài:
“Tìm hiểu quy trình kiểm toán thuế GTGT trên BCTC trong các doanh
nghiệp áp dụng phương pháp khấu trừ thuế do Công ty Hợp danh Kiểm

1.1- Lí luận chung về thuế GTGT:
1.1.1- Khái niệm thuế GTGT tại Việt Nam:
Sự xuất hiện của thuế nói chung và thuế GTGT nói riêng trong nhân loại
luôn gắn liền với nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và chức năng điều hành quản lý
kinh tế - xã hội của Nhà nước. Anghen chỉ rõ: “Để duy trì quyền lực công cộng
cần có sự đóng góp của những người công dân cho Nhà nước, đó là thuế má…”.
(Mác-Ănghen, tập 2, Tr.522). Vì vậy việc ấn định các thứ thuế và trực tiếp thực
hiện thu thuế của Nhà nước là một trong những dấu hiệu cơ bản của Nhà nước.
Mặc dù sự ra đời của thuế mang tính tất yếu khách quan song cũng phải
thấy rằng quan niệm về thuế mỗi thời một khác. Trong thời cổ đại, khi sức sản
xuất chưa phát triển, quan hệ trao đổi diễn ra chủ yếu dưới hình thức hiện vật thì
khái niệm về thuế rất đơn giản và được thể hiện dưới dạng hiện vật, lao vụ.
Bước sang thời kỳ hiện đại cùng với việc mở rộng chức năng, nhiệm vụ của Nhà
nước và sự phát triển của các quan hệ hàng hóa, tiền tệ, các hình thức thuế ngày
càng đa dạng, phong phú và được tiền tệ hóa nên thuế được thể hiện dưới hình
thức giá trị.
Cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối về khái niệm thuế, bởi
thuế được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau:
Dưới góc độ kinh tế tài chính: Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập
bắt buộc của các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn
được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng.
Dưới góc độ kinh tế chính trị học: Thuế là hệ thống các quan hệ kinh tế
nhất định biểu hiện dưới hình thức tiền tệ phát sinh trong quá trình phân phối để
Phạm Thị Bích Thu - Kiểm toán 44 - 3 -
Chuyên đề thực tập Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
hình thành sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm phát triển sản xuất, nâng cao đời sống
của nhân dân.
Dưới góc độ pháp lý: Thuế là nghĩa vụ pháp lý của các tổ chức và cá nhân
phải chuyển một phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình vào NSNN.
Từ những khái niệm trên kết hợp với việc nghiên cứu về thuế của nước ta

thuế của Việt Nam phù hợp hơn với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế. Từ
khi ra đời, thuế GTGT đã qua nhiều thay đổi như sau:
- Luật thuế GTGT số 02/1997/QH9 ngày 10 tháng 5 năm 1997
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT số 07/2003/QH11
ngày 17 tháng 6 năm 2003
- Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành Luật thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật thuế GTGT.
- Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 hướng dẫn thi hành
Nghị định số 158/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT
và Luật sửa đổi Luật thuế GTGT.
- Thông tư 84/2004/TT-BTC ngày 18/8/2004 sửa đổi, bổ sung Thông tư số
120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003.
- Nghị định 156/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 sửa đổi bổ sung các nghị
định quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT và TTĐB.
1.1.2- Nội dung thuế GTGT:
1.1.2.1- Đặc điểm thuế GTGT:
Trong quá trình áp dụng thuế GTGT vào thực tiễn, các nhà nghiên cứu đã
tổng kết thuế GTGT có ba đặc điểm chính sau:
Thứ nhất, thuế GTGT chỉ đánh vào giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ
Giá trị gia tăng đơn thuần là lao động sống và lợi nhuận. Theo đó thuật
ngữ GTGT còn được hiểu là giá trị cộng thêm vào, tức phần lao động sống và
lợi nhuận được thêm vào lao động quá khứ - lao động vật hóa và thuế GTGT
đánh trên phần giá trị tăng thêm đó. Chính vì vậy, các CSKD thường có gian lận
trong việc tính phần giá trị cộng thêm nhằm giảm số thuế phải nộp.
Phạm Thị Bích Thu - Kiểm toán 44 - 5 -
Chuyên đề thực tập Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Song trong thực tế, việc xác định GTGT trong sản xuất và lưu thông hàng
hóa, dịch vụ là rất khó khăn và khó có thể chính xác cho nên KTV gặp khó khăn
trong việc phát hiện gian lận và sai sót. Tuy nhiên, để đo lường lao động đã hao

chức, cá nhân ở nước ngoài) trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT (gồm 29
nhóm) với một số đặc điểm chủ yếu như sau:
- Những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phục vụ cho lợi ích cộng đồng, không
đặt vấn đề điều tiết tiêu dùng (Ví dụ: Nông sản, thuỷ sản, hải sản nuôi
trồng và đánh bắt chưa qua chế biến hoặc mới sơ chế; các dịch vụ khám
chữ bệnh; các dịch vụ công cộng về vệ sinh môi trường,…)
- Những hàng hóa, dịch vụ thuộc một số ngành, lĩnh vực đang khuyến
khích, cần được khuyến khích hoặc liên quan đến vốn đầu tư (Ví dụ: Thiết
bị, máy móc thiết yếu trong nước chưa sản xuất được; Dịch vụ tín dụng và
quỹ đầu tư; Dịch vụ về nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và các
vùng sâu, vùng xa,…)
- Những hàng hóa, dịch vụ không nhằm mục đích kinh doanh là chính (Ví
dụ: Các sản phẩm, dịch vụ thuộc lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể thao;
Dạy học, dạy nghề; Truyền thanh, truyền hình,…)
- Những hàng hóa, dịch vu cần ưu đãi có mức độ (Ví dụ: Vàng nhập khẩu
chưa chế tác; Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên khoáng sản khai thác
chưa qua chế biến,…)
Đối tượng nộp thuế GTGT: là các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản
xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân
biệt ngành nghề, hình thức tổ chức kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác có
nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT.
Như vậy, đối tượng nộp thuế GTGT là những chủ thể tham gia hoạt động
sản xuất kinh doanh có hành vi mua bán hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT mới
là đối tượng nộp thuế. Xét trong quan hệ tay ba: Nhà nước, người chịu thuế,
người nộp thuế thì người nộp thuế đóng vai trò trung gian thu thuế hộ Nhà nước
rồi nộp thuế vào NSNN thông qua hệ thống Kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng.
Do vậy, người nộp thuế bao giờ cũng bị ràng buộc bởi những điều kiện pháp lý
Phạm Thị Bích Thu - Kiểm toán 44 - 7 -
Chuyên đề thực tập Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
nhất định như phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận

Khi đề cập đến vấn đề này, các chuyên gia kinh tế - tài chính đều thống
nhất: ưu điểm cơ bản của thuế GTGT là khắc phục được các nhược điểm của
thuế doanh thu là đánh thuế trùng lắp, bằng cơ chế khấu trừ thuế đầu vào.
Những ưu điểm đó được thể hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, thuế GTGT có khả năng điều tiết sản xuất, điều tiết tiêu dùng
cao, khuyến khích hiện đại hóa sản xuất, chuyên môn hóa, đầu tư mới và hạ giá
thành sản phẩm, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt, thuế GTGT khuyến
khích mạnh mẽ các doanh nghiệp cùng tham gia hoạt động xuất khẩu hạn chế
nhập khẩu tạo ra sự bình đẳng trong kinh doanh giữa các doanh nghiệp.
Thứ hai, thuế GTGT đem lại nguồn thu tương đối lớn cho NSNN.
Thứ ba, thuế GTGT cho phép chống trốn lậu thuế có hiệu quả, tạo ra sự
kiểm soát lẫn nhau giữa các đơn vị có liên quan trong cung ứng hàng hóa, dịch
vụ. Bởi lẽ số thuế GTGT khấu trừ cho đầu vào của doanh nghiêp này chính là số
thuế GTGT thuộc đầu ra của doanh nghiệp tương ứng.
Thứ tư, thuế GTGT là phương pháp thu thuế tiên tiến, nâng cao được tinh
thần tự giác và nghĩa vụ của người nộp thuế thông qua việc tự kê khai, tự nộp,..
Những ưu điểm trên của thuế GTGT chỉ có thể phát huy được khi gắn liền
với những điều kiện và yêu cầu nhất định của cơ chế vận hành, mà những yêu
cầu này theo các chuyên gia kinh tế - tài chính được coi là một trong nhưng
nhược điểm của thuế GTGT cụ thể:
Thứ nhất, Chi phí quản lý hành chính thuế GTGT rất cao bởi phạm vi
đánh thuế GTGT rất rộng, nó không chỉ bao hàm các hoạt động chịu thuế doanh
thu mà còn bao gồm cả các hoạt động kinh doanh nhập khẩu, hoạt động sản xuất
các mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và cả các hoạt động sản xuất kinh doanh
nông nghiệp. Mặt khác, thuế GTGT vận hành theo cơ chế khấu trừ thuế, hoàn
thuế vì vậy khối lượng công việc quản lý của cơ quan thuế sẽ tăng, bộ máy cần
được tăng cường, theo đó chi phí quản lý thuế GTGT sẽ tốn kém, phức tạp.
Phạm Thị Bích Thu - Kiểm toán 44 - 9 -
Chuyên đề thực tập Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Thứ hai, Thuế GTGT mang tính chất lũy thoái so với thu nhập nên không

- Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, biếu tặng hoặc để trả thay
lương (trừ khuyến mại, quảng cáo không phải tính thuế GTGT), giá tính
thuế GTGT được xác định theo giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ cùng
loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này.
- Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, giá tính thuế là giá bán
trả một lần chưa có thuế GTGT của hàng hóa đó (không bao gồm lãi trả
góp theo từng kỳ).
- Đối với cơ sở kinh doanh được Nhà nước giao đất xây nhà, cơ sở hạ tầng
kỹ thuật để bán, chuyển nhượng gắn với quyền sử dụng đất, giá tính thuế
GTGT là giá bán, chuyển nhượng chưa có thuế trừ tiền sử dụng đất theo
giá đất quy định khi giao đất.
- Đối với hàng hóa,dịch vụ có tính đặc thù như tem bưu chính, vé sổ xố, vé
cước vận tải, sách, báo, tạp chí,… ghi giá thanh toán là giá đã có thuế
GTGT thì giá chưa thuế được xác định như sau:
Giá chưa có thuế GTGT =
Giá thanh toán (tiền vé, bán tem,…)
1+ (%) thuế suất của hàng hóa, dịch vụ đó
 Thuế suất thuế GTGT :
Luật thuế GTGT sửa đổi năm 2003 rút gọn chỉ còn ba mức thuế suất là
0%, 5%, 10% ít hơn Luật thuế GTGT ban hành năm năm 1997 mức thuế suất
20%. Các mức thuế suất này được áp dụng cho các nhóm hàng hoá, dịch vụ
thuộc diện chịu thuế GTGT khác nhau:
- Thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu bao gồm cả
hàng gia công xuất khẩu, hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế
GTGT xuất khẩu (trừ dịch vụ lữ hành ra nước ngoài, dịch vụ tái bảo hiểm
ra nước ngoài, đầu tư tài chính, đầu tư chứng khoán ra nước ngoài,…),
hàng bán cho doanh nghiệp khu chế xuất,…
- Thuế suất 5% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ như: Nước sạch phục vụ
sản xuất và sinh hoạt; thuốc chữa bệnh, phòng bệnh cho người và vật
nuôi; đồ chơi trẻ em; giáo cụ dùng để giảng dạy và học tập; sản phẩm

- Thuế GTGT đầu vào
được khấu trừ
Trong đó:
 Thuế GTGT đầu ra = Giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế bán ra
(x) Thuế suất thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ đó
Phạm Thị Bích Thu - Kiểm toán 44 - 12 -
Chuyên đề thực tập Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
CSKD thuộc đối tượng tính thuế theo phương pháp khấu trừ khi bán hàng
hóa, dịch vụ phải tính và thu thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra. Khi lập
hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ, CSKD phải ghi rõ giá bán chưa có thuế, thuế
GTGT và tổng số tiền người mua phải thanh toán. Trường hợp hóa đơn chỉ ghi
giá thanh toán, không ghi giá chưa có thuế và thuế GTGT thì thuế GTGT của
hàng hóa, dịch vụ bán ra phải tính trên giá thanh toán ghi trên hóa đơn, chứng từ
Giá tính thuế GTGT đầu ra tính theo giá bán hàng hóa thu tiền một lần
bao gồm cả các khoản phụ thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu (nếu có).
 Để tính toán được số thuế GTGT được khấu trừ, cấn phân biệt hai khái
niệm: thuế GTGT đầu vào và thuế GTGT được khấu trừ. Trong đó:
 Thuế GTGT đầu vào = Tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT mua
hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế
GTGT, số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp thuế của hàng hóa nhập khẩu
hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn
của BTC áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động kinh
doanh tại Việt Nam không thuộc các hình thức đầu tư theo luật đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam
 Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ là thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ
dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT. Còn nếu
dùng để sản xuất hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT thì không được
khấu trừ thuế mà tính vào chi phí của hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế
GTGT hay vào nguyên giá của TSCĐ. Trường hợp hàng hóa, dịch vụ sử dụng
chung cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế

khẩu cùng với việc kê khai nhập khẩu với cơ quan hải quan thu thuế nhập khẩu.
Nộp thuế GTGT: Đối tượng nộp thuế GTGT có trách nhiệm nộp thuế
GTGT đầy đủ, đúng hạn vào NSNN với trình tự, thủ tục nộp thuế thự hiện đươc
quy định cụ thể trong luật thuế GTGT.
Quyết toán thuế GTGT: Các CSKD (trừ hộ kinh doanh vừa và nhỏ nộp
thuế theo mức ấn định) phải thực hiện lập và gửi quyết toán thuế GTGT hàng
năm cho cơ quan thuế. Cơ sở phải kê khai đầy đủ, đúng các chỉ tiêu và số liệu
theo mẫu quyết toán thuế, gửi bản quyết toán thuế theo mẫu ban hành đến cơ
quan thuế địa phương nơi cơ sở đăng ký nộp thuế.
Phạm Thị Bích Thu - Kiểm toán 44 - 14 -
Chuyên đề thực tập Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Hoàn thuế GTGT: CSKD thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp
khấu trừ được hoàn thuế trong trường hợp sau:
- CSKD trong 3 tháng liên tục trở lên có số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết
- CSKD đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh
doanh, đăng ký nộp thuế, có số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa,dịch vụ sử
dụng cho dự án từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế theo quý….
- Các tổ chức sử dụng tiền viện trợ, các đối tượng miễn trừ thuế mua hàng hóa,
dịch vụ tại Việt Nam được hoàn lại số thuế GTGT đã trả ghi trên hóa đơn GTGT,…
1.1.3- Đặc điểm kế toán thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:
Thuế GTGT là quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước nên
kế toán thuế GTGT phải tổ chức phản ánh ghi chép chính xác, đầy đủ, kịp thời.
1.1.3.1- Chứng từ:
Các CSKD thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
phải sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng. Khi lập hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ,
CSKD phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố ghi trên hóa đơn, về giá bán phải ghi rõ:
giá bán chưa có thuế, phụ thu và phí tính ngoài giá bán (nếu có), thuế GTGT, giá
thanh toán đã có thuế.
Các CSKD trực tiếp bán lẻ hàng hóa cho người tiêu dùng, đối với hàng
hóa có giá bán dưới mức quy định phải lập hóa đơn GTGT thì phải lập bảng kê

TK 3331 dùng để phản ánh số thuế GTGT đầu ra, số thuế GTGT phải
nộp, số thuế GTGT đã nộp và còn phải nộp vào NSNN. TK này áp dụng chung
cho đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ và đối tượng nộp thuế
GTGT theo phương pháp trực tiếp. TK 3331 có hai TK cấp 3:
- TK 33311 “Thuế GTGT đầu ra” dùng để phản ánh số thuế GTGT đầu ra,
số thuế GTGT phải nộp, còn phải nộp của hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ.
- TK 33312 “Thuế GTGT hàng nhập khẩu” dùng để phản ánh thuế GTGT
phải nộp, đã nộp, còn phải nộp của hàng nhập khẩu.
.
1.1.3.3- Đặc điểm hạch toán thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:
Thuế GTGT được hạch toán theo sơ đồ sau:
Phạm Thị Bích Thu - Kiểm toán 44 - 16 -
Chuyên đề thực tập Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Biểu 1.1: Quy trình hạch toán thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
TK111, 112, 331 TK151, 152, 211,.. TK511, 512, 711,515 TK131, 111, 112
Giá mua vật tư, Doanh thu bán hàng
Hàng hóa, TSCĐ và thu nhập khác
Chưa có thuế GTGT

TK 133 TK 3331
Thuế GTGT đầu vào Kết chuyển số Thuế GTGT đầu ra
được khấu trừ thuế GTGT khấu phải nộp trong kỳ
trừ trong kỳ
Thuế GTGT được hoàn lại bằng tiền
TK 711 TK111, 112

Thuế GTGT được miễn Nộp thuế GTGT
giảm nhận lại bằng tiền cho NSNN
Thuế GTGT được miễn giảm trừ vào
số phải nộp

I- Thuế GTGT được khấu trừ
1. Số thuế GTGT còn được khấu trừ, còn được hoàn lại đầu kỳ
2. Số thuế GTGT được khấu trừ phát sinh
3. Số thuế GTGT đã được khấu trừ, đã hoàn lại, thuế GTGT
hàng mua trả lại và không được khấu trừ (12 = 13+14+15)
Trong đó:
a. Số thuế GTGT đã khấu trừ
10
11
12
13
X
Phạm Thị Bích Thu - Kiểm toán 44 - 18 -
Chuyên đề thực tập Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
b. Số thuế GTGT đã hoàn lại
c. Số thuế GTGT hàng mua trả lại, giảm giá hàng mua
d. Số thuế GTGT không được khấu trừ
4. Số thuế GTGT còn được khấu trừ, còn được hoàn lại cuối
kỳ (17=10+11-12)
II- Thuế GTGT được hoàn lại
1. Số thuế GTGT còn được hoàn lại đầu kỳ
2. Số thuế GTGT được hoàn lại phát sinh
3. Số thuế GTGT đã hoàn lại
4. Số thuế GTGT còn được hoàn lại cuối kỳ (23=20+21-22)
III- Thuế GTGT được giảm
1. Số thuế GTGT còn được giảm đầu kỳ
2. Số thuế GTGT được giảm phát sinh
3. Số thuế GTGT đã được giảm
4. Số thuế GTGT còn được giảm cuối kỳ (33=30+31-32)
IV. Thuế GTGT hàng bán nội địa

X
X
X
X
Ghi chú: Các chỉ tiêu có dấu (x) không có số liệu
Có thể coi việc hạch toán thuế GTGT và việc quản lý thuế GTGT là hai
quá trình kiểm soát song song đối với cùng đối tượng là số thuế GTGT phát sinh
trong kỳ. Tuy nhiên, mỗi quá trình này phục vụ cho một mục đích và đối tượng
khác nhau. Đặc điểm này cùng với tính chất đặc biệt nhạy cảm của khoản mục
thuế GTGT sẽ tạo nên những rủi ro tiềm tàng cần phải được kiểm soát bởi công
Phạm Thị Bích Thu - Kiểm toán 44 - 19 -
Chuyên đề thực tập Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
việc kiểm toán để nâng cao chất lượng của thông tin được trình bầy. Điều đó chi
phối trực tiếp đến mục tiêu và các thủ tục kiểm toán cụ thể đối với khoản mục
thuế GTGT sẽ được trình bầy ở phần sau.
1.2- Nội dung kiểm toán thuế GTGT trong kiểm toán BCTC:
1.2.1- Tầm quan trọng của việc kiểm toán thuế GTGT:
Thuế GTGT là loại thuế mới ra đời ở nước ta từ năm 1999 thay thế thuế
doanh thu. Thuế GTGT có ưu điểm nổi bật là phản ánh rõ ràng, minh bạch và
liên tục số thuế trong từng khâu của toàn bộ chu trình sản xuất, lưu thông, tiêu
thụ sản phẩm hàng hóa và dịch vụ và không bị tính trùng. Sau hơn năm năm có
hiệu lực, rất nhiều loại văn bản thuế GTGT đã ra đời nhằm không ngừng hoàn
thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động của các doanh nghiệp. Điều này khiến cho các
CSKD lúng túng trong quá trình hạch toán thuế GTGT. Do vậy, cần có sự xem
xét của các KTV với những chương trình kiểm toán toàn diện và sự hiểu biết sâu
sắc về loại thuế này đồng thời cập nhật được các văn bản pháp lý có liên quan để
giúp cho các doanh nghiệp hạch toán đúng với các quy định hiện hành.
Mặt khác, hệ thống thuế là nguồn thu chủ yếu cho hoạt động của Nhà
nước. Ở nước ta hiện nay, 90% nguồn thu là từ hệ thống thuế, trong đó nguồn
thu từ thuế GTGT đóng một vai trò đáng kể. Song thuế GTGT là loại thuế gián

- Kê khai thuế đầu vào được khấu trừ đối với cả bộ phận nguyên vật liệu
xuất dùng cho sản xuất hàng hóa chịu VAT trực tiếp.
- Kê khai thuế GTGT hàng nhập khẩu sai.
- Bù trừ thuế GTGT được khấu trừ và thuế GTGT phải nộp của các chi
nhánh trên BCTC hợp nhất.
- Hạch toán khấu trừ thuế VAT đầu vào lớn hơn đầu ra phải nộp, để số
âm trên BCTC.
Phạm Thị Bích Thu - Kiểm toán 44 - 21 -
Chuyên đề thực tập Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
- Trường hợp huỷ hóa đơn GTGT, xuất lại hóa đơn khác, người mua
trên hai hóa đơn này không trùng nhau.
* Thuế VAT đầu ra và khoản phải nộp Nhà nước:
- Không theo dõi chi tiết từng khoản thuế phải nộp và đã nộp.
- Quản lý và hạch toán thuế GTGT đầu ra chưa đúng quy định: không
viết hóa đơn khi bán hàng, áp thuế suất thuế GTGT đầu ra chưa đúng
tỷ lệ, tính toán sai giá tính thuế.
- Không tính thuế GTGT đầu ra đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế
GTGT theo phương pháp khấu trừ trong trường hợp tiêu dùng nội bộ
(trả thay lương, thưởng cho công nhân viên) hay do trao đổi hàng hóa.
- Nhầm lẫn giữa hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT với những
hàng hóa, dịch vụ chịu thuế suất 0%.
- Chưa xác định điều kiện ưu đãi được hưởng về thuế suất và năm miễn
giảm thuế theo quy định tại Thông tư 128 và Nghị định 164.
- Chưa hạch toán số thuế phải nộp bổ sung trong năm. Nộp báo cáo
quyết toán thuế cho cơ quan thuế chậm so với thời gian quy định.
- Chưa tổng hợp quyết toán thuế.
- Thuế tồn đọng lâu ngày chưa được xử lý.
1.2.3- Mục tiêu kiểm toán thuế GTGT:
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200, Khoản 11 quy định: “Mục tiêu
của kiểm toán Báo cáo tài chính là giúp cho KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status