TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, giáo trình luật tố tụng dân
sự,Nxb.CAND,Hà Nội,2009.
2. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.
3. Ths. Liêu Thị Hạnh, Luận văn Thạc sĩ Luật học “Thụ lý vụ án dân sự, một
số vấn đề lý luận và thực tiễn”.
4. Phùng Thị Tuyết Trinh, khóa luận tốt nghiệp “Quyền yêu cầu và thay đổi
yêu cầu của đương sự trong tố tụng dân sự” năm 2010
5. TS.Nguyễn Công Bình, luận án tiến sĩ “Bảo đảm quyền bảo vệ của
Đương sự trong TTDSVN”.
6. Đặng Anh Tuấn, Khoá luận tốt nghiệp “Quyền khởi kiện và việc xác định
tư cách đương sự trong tố tụng dân sự”- Hà Nội, 2010.
7. Luật gia Nguyễn Thị Hằng Nga, Một số quy định về thời hiệu khởi kiện vụ
án dân sự và những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng.
8. Liễu Thị Hạnh, Luận văn thạc sĩ luật học “Thụ lý vụ án dân sự một số vấn
đề lý luận và thực tiễn”
Bài làm
Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể
khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu tòa án có thẩm
quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác. Tòa án chỉ
thụ lý giải quyết vụ án dân sự khi có đơn khởi kiện của các chủ thể. Điều 161
BLTTDS không chỉ ghi nhận quyền khởi kiện dân sự mà còn quy định các điều
kiện về thủ tục khởi kiện, yêu cầu khởi kiện. Vậy khởi kiện vụ án dân sự bao
gồm những điều kiện nào? Nó có những ưu điểm và bất cập ra sao? Trong bài
làm của mình em sẽ đi trình bày rõ 2 vấn đề trên.
1
1. Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự
a. Về chủ thể khởi kiện.
Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự là các chủ thể theo quy định của pháp luật
được tham giam vào quan hệ pháp luật TTDS. Các chủ thể này bao gồm cá
nhân, cơ quan hoặc tổ chức đáp ứng được những điều kiện do pháp luật quy
Tòa án chỉ thụ lý VADS đối với những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải
quyết của mình. Theo BLTTDS thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án
được quy định tại các Điều 25,27,29,33,34,35,36 bao gồm thẩm quyền theo loại
việc, thẩm quyền theo cấp và thẩm quyền theo lãnh thổ. Việc xác định thẩm
quyền là một điều kiện cần thiết để đảm bảo cho hoạt động bình thường và hợp
lý của bộ máy nhà nước. Đồng thời việc phân định thẩm quyền giữa các Tòa án
cũng góp phần cho các Tòa án thực hiện đúng nhiệm vụ của mình và người dân
dễ dàng thực hiện quyền khởi kiện. Thẩm quyền của Tòa án được xác định một
cách chính xác sẽ tránh được sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ của
Tòa án với các cơ quan nhà nước khác, giữa các Tòa án và các bộ phận trong
một Tòa án, góp phần giải quyết đúng đắn, tạo điều kiện cho các đương sự tham
gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Để vụ án được thụ lý,
đơn khởi kiện phải gửi đến đúng Tòa án có thẩm quyền giải quyết, xét xử. Khi
xác định tranh chấp dân sự có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hay không,
trước hết phải xác định tranh chấp đó có thuộc thẩm quyền chung về dân sự của
Tòa hay ko? Nội dung tranh chấp yêu cầu Tòa án giải quyết phải được quy định
tại các điều 25,27,29 BLTTDS; phải đúng thẩm quyền theo lãnh thổ quy định tại
các điều 33 và 34 BLTTDS và đúng thẩm quyền theo lãnh thổ quy định tại các
điều 35, 36 BLTTDS. Trong trường hợp người khởi kiện có quyền lựa chọn Tòa
án theo Điều 36 BLTTDS thì yêu cầu đương sự cam kết không khởi kiện tại các
tòa án khác. Nếu do thỏa thuận lựa chọn Tòa án giải quyết thì phải kiểm tra tính
hợp pháp của thỏa thuận.
Những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định
khác đầy đủ và chi tiết, khi nhận đơn khởi kiện Tòa án căn cứ vào yêu cầu của
đương sự mà đối chiếu nội dung loại việc đó có thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án mình hay ko? Khi xác định thẩm quyền, Tòa án cũng phải xác định đó là
3
loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại hay lao
động để vào sổ thụ lý loại án đúng với quy định. Việc xác định này có ý nghĩa
rất lớn khi xác định các quy phạm pháp luật nội dung để áp dụng. Chẳng hạn
kiện bất khả kháng; trở ngại khách quan; người có quyền khởi kiện chưa thành
niên, bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà
chưa có người đại diện; người đại diện của họ bị chết mà chưa có người thay thế
hoặc vì lý do chính đáng khác mà ko thể tiếp tục đại diện (Điều 161)
d. Vụ án chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết định có hiệu
lực pháp luật của tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường
hợp có quy định khác của pháp luật
Nếu một vụ án đã được tòa án của Việt Nam giải quyết bằng một bản án
hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương sự không được khởi kiện lại
đối với vụ án đó nữa, trừ các trường hợp sau đây:
- Bản án, quyết định của tòa án bác đơn xin ly hôn;
- Yêu cầu xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường
thiệt hại;
- Vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho
ở nhờ mà tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện.
- Các trường hợp khác pháp luật quy định.
Ngoài ra, trường hợp Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy
định tại điểm c, e và g khoản 1 Điều 92 BLTTDS bao gồm: người khởi kiện rút
đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền
khởi kiện; nguyên đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt; đã
có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là
một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa
vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã (khoản 1 Điều 193 BLTTDS) thì đương
sự có quyền khởi kiện lại.
Do vậy, Tòa án chỉ được thụ lý giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa
án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp
luật. Điều kiện này nhằm đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định, sự ổn định
của các quan hệ xã hội, một việc đã được giải quyết thì không giải quyết lại nữa
5