Vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý trường phổ thông
nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên.
MỤC LỤC
Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài; 2. Mục tiêu nghiên cứu; 3. Nhiệm vụ nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
Phần nội dung
Chương I: Một số vấn đề lí luận của việc vận dụng nguyên tắc TTDC
nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
1. Cơ sở khoa học của việc vận dụng nguyên tắc TTDC nhằm
nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
2. Cơ sở pháp lý của việc vận dụng nguyên tắc TTDC nhằm nâng
cao chất lượng đội ngũ giáo viên
3. Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng nguyên tắc TTDC nhằm
nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
Chương II: Thực trạng của việc vận dụng nguyên tắc TTDC nhằm nâng
cao chất lượng đội ngũ GV trường phổ thông .
1. Những thành tựu chung
2. Những yếu kém và bất cập
3. Nguyên nhân
4. Một số vấn đề đặt ra trong việc vận dụng nguyên tắc TTDC trong
quản lý trường phổ thông nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ GV
Chương III: Một số biện pháp của việc vận dụng nguyên tắc TDC nhằm
nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường phổ thông .
Phần kết luận
1. Kết luận
2. Bài học kinh nghiệm
3
5
1
PHẦN MỞ ĐẦU
nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có những hạn chế, bất cập. Số lượng giáo viên còn
thiếu nhiều, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số...Cơ cấu
2
giáo viên đang mất cân đối giữa các môn học, bậc học, các vùng, miền. Chất lượng
chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo có mặt chưa đáp ứng yêu cầu và truyền
đạt lý thuyết, ít chú ý đến phát triển tư duy, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành của
người học; một bộ phận nhà giáo thiếu gương mẫu trong đạo dức, lối sống, nhân cách,
chưa làm gương tốt cho học sinh, sinh viên. Năng lực của sự nghiệp giáo dục. Chế độ,
chính sách còn bất hợp lý, chưa tạo được động lực đủ mạnh để phát huy tiềm năng của
đội ngũ này.
Tình hình trên đòi hỏi phải tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục một cách toàn diện. Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt,
vừa mang tính chiến lược lâu dài, nhằm thực hiện thành công Chiến lược phát triển giáo
dục 2001-2010 và chấn hưng đất nước”.
Từ nhận thức trên đây, tôi thấy vị trí, vai trò của giáo viên trong sự nghiệp giáo
dục, càng thấy hơn trách nhiệm xây dựng đội ngũ giáo viên “vừa hồng vừa chuyên” của
các nhà quản lý giáo dục. Từ đó, tôi thấy rõ hơn trách nhiệm xây dựng đội ngũ giáo
viên đạt chuẩn ở các trường phổ thông là việc làm cần thiết và phải làm ngay. Đó cũng
là mục tiêu hàng đầu của quản lý nhà nước.
Xuất phát từ những lý do khách quan và lý do chủ quan như đã phân tích ở trên,
tôi lựa chọn đề tài: “ Một số biện pháp quản lý nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ
giáo viên trường phổ thông ”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên trường
phổ thông ”.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
a. Xác định cơ sở khoa học của việc quản lý nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ giáo
viên trường phổ thông
b. Thực trạng của đội ngũ giáo viên trường phổ thông .
c. Những giải pháp nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ GV trường phổ thông .
giai đoạn hiện nay đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ giỏi về trình độ nhận thức, trình độ
chuyên môn, trình độ sư phạm, trình độ công nghệ thông tin, có năng lực, phẩm chất
đạo đức tốt.
Đảng, Nhà nước, ngành giáo dục đã và đang có chính sách và những biện
pháp tích cực, cụ thể nhằm tháo gỡ những khó khăn của giáo dục nói chung và đội
ngũ giáo viên nói riêng, chuẩn bị cho sự đổi mới toàn diện giáo dục khi bước vào
thiên niên kỉ mới. Tuy nhiên, mọi chính sách, biện pháp dù tích cực đến mấy cũng
4
trở thành hình thức nếu bản thân đội ngũ giáo viên và mỗi giáo viên không ý thức
đầy đủ trách nhiệm khó khăn và cao cả của mình để tự đổi mới và tự vươn lên.
b) Nguyên tắc tập trung dân chủ
Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động chính trị xã
hội ở nước ta, đồng thời cũng là một nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước của nước ta.
Tập trung dân chủ là một nguyên tắc Hiến định; Điều 6, Chương I, Hiến pháp
1992 (đã sửa đổi, bổ xung năm 2001) ghi nhận:
"Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và
hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ".
Quan điểm về tổ chức và hoạt động của nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân
chủ đã được Nhà nước CHXHCN Việt Nam ghi nhận trong ba văn bản Hiến pháp:
Hiến pháp 1959 (Điều 4, Chương I); Hiến pháp 1980 (Điều 6, Chương I); Hiến pháp
1992 (Điều 6, Chương I - sửa đổi).
* Những yêu cầu và nội dung của
nguyên tắc tập trung dân chủ
Tập trung dân chủ là sự kết hợp hài hoà giữa sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung,
thống nhất của các cơ quan trung ương, của cấp trên với mở rộng dân chủ, nhằm tăng
cường tính chủ động, sáng tạo và khai thác mọi tiềm năng của các cơ quan địa phương,
của cấp dưới, đồng thời đảm bảo phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham
gia quản lý nhà nước và thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân.
Sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương cần tập trung vào các vấn đề vĩ mô như: thể
chủ cơ sở ở một trường học ?
Như vậy, nguyên tắc
tập trung dân chủ
đối với quản lí trường phổ thông có
nghĩa là nhà nước thống nhất, tập trung quản lí về chế độ, chính sách giáo dục ; về
mục tiêu, nội dung giáo dục và qui chế văn bằng... đồng thời tạo điều kiện cho cơ sở
chủ động sáng tạo trong việc triển khai các hoạt động giáo dục và quản lí trường phổ
thông cụ thể, tránh việc ôm đồm hoặc buông lỏng trên cơ sở phân cấp, phân quyền
về quản lí trường phổ thông rõ ràng bằng một hành lang pháp lí hợp lí, đồng bộ.
Đối với cơ sở phát huy quyền làm chủ của tập thể sư phạm, đồng thời đề cao
trách nhiệm cá nhân theo chế độ thủ trưởng đối với việc quản lí trường phổ thông .
Dân chủ hoá giáo dục, dân chủ hoá nhà trường là các tư tưởng lớn, tuy nhiên việc
dựa vào các văn bản pháp luật, pháp qui để đảm bảo quyền và nghĩa vụ đối với mọi
đối tượng tham gia hoạt động giáo dục là điều cần nắm chắc khi triển khai nguyên
tắc tập trung dân chủ ở cơ sở.
Nội dung cơ bản của nguyên tắc tập trung dân chủ ở đây là phát huy quyền chủ
động của Hiệu trưởng phối hợp với tổ chức Đảng, các tổ chức đoàn thể xã hội trong
quản lý trường phổ thông .
6
Sự phối hợp giữa Hiệu trưởng với tổ chức Đảng, các tổ chức đoàn thể xã hội
trong trường phổ thông hình thành nên hệ thống các mối quan hệ. Hệ thống quan hệ
này có nhiều mức độ.
Có thể chỉ tham gia ở mức độ góp phần vào một hoạt động, một tổ chức chung
nào đó, chưa thể hiện được chiều sâu trong việc làm.
Có thể cùng góp sức làm chung một công việc, nhưng có thể không thực hiện
chung một trách nhiệm. Sự cộng tác đôi khi có tính chất nhất thời, tuỳ từng vụ việc.
Sự hợp tác cùng chung sức, hỗ trợ lẫn nhau trong một công việc một lĩnh vực
hoạt động, nhằm một mục tiêu giáo dục (MTGD)
Tóm lại quan hệ đó là quan hệ phối hợp với nhiều mức độ khác nhau.
Quan hệ ấy cũng nhiều tầng, bậc do vai trò của từng lực lượng trong quan hệ
HCM trong trường phổ thông PT được các văn bản nhà nước quy định, là trách
nhiệm chung, sự thống nhất thực hiện MTGD.
Trong mối quan hệ phối hợp vì MTGD, Hiệu trưởng phải luôn luôn giữ vai trò
trung tâm, nòng cốt. Tuỳ theo nội dung hoạt động, đặc điểm của tổ chức đoàn thể làm
cơ sở để xác định mức độ phối hợp và xây dựng cơ chế phối hợp. Sự vận hành của cơ
chế được chỉ đạo bởi nguyên tắc Đảng lãnh đạo - Chính quyền quản lý - Nhân dân
làm chủ, toàn xã hội tham gia dưới sự quản lý của Nhà nước.
. Hiệu trưởng phối hợp với Công đoàn trong trường phổ thông PT
Quan hệ phối hợp giữa Hiệu trưởng và Công đoàn trong trường phổ thông PT là
sự vận dụng mềm dẻo, có tính nguyên tắc về quyền, trách nhiệm của tổ chức công đoàn
với thủ trưởng đơn vị cơ quan.
- Quyền kiến nghị, tham gia ý kiến của Công đoàn đối với Hiệu trưởng trong
các hoạt động : Xây dựng chương trình kế hoạch năm học ; Dự hội nghị của trường
và các cuộc họp quan trọng do Hiệu trưởng tổ chức ; Giải quyết và sắp xếp việc làm
của cán bộ, giáo viên, nhân viên; Quản lý bảo hiểm xã hội ; Giải quyết khiếu nại, tố
cáo.....
- Quyền cùng thực hiện công việc của Công đoàn với Hiệu trưởng:
Tổ chức thi đua; Chăm lo công tác bảo hiểm xã hội; Quản lý quỹ phúc lợi;
Quyền thoả thuận quyết định của Công đoàn với Hiệu trưởng: Quy định mối quan hệ
giữa Hiệu trưởng với Công đoàn; Quyết định tiền lương, thưởng, nhà ở, kỷ luật;
Điều kiện làm việc cung cấp thông tin cho Công đoàn; Thời gian hoạt động, điều
kiện hoạt động của cán bộ Công đoàn.
- Quyền "đối thoại" giữa Công đoàn và Hiệu trưởng.
8
Đại diện người lao động đối thoại với Hiệu trưởng; Cấp phát tài chính, và
nhiều hoạt động khác.
Trong thời kỳ đổi mới của đất nước, Công đoàn ngành Giáo dục đã phối hợp
với Bộ GD & ĐT tạo phát động bốn cuộc vận động : dân chủ hoá nhà trường, xã hội
hoá giáo dục, kỷ cương - tình thương - trách nhiệm và gia đình nhà giáo văn hóa.
Hiệu trưởng và Công đoàn trong trường phổ thông PT phối hợp thực hiện bốn
chương trình giáo dục ngoài nhà trường.
Các hoạt động ngoại khoá tuy gắn với từng bộ môn nhưng cần có sự hỗ trợ của
Đoàn, nhất là những hoạt động phù hợp với tính chất của lứa tuổi và chức năng của
Đoàn. Chương trình hoạt động giáo dục ngoài nhà trường xây dựng theo các chủ
điểm có sự phối hợp từ Trung ương (Bộ GD&-ĐT và Trung ương Đoàn TNCS
HCM). Đoàn có vai trò chủ động tổ chức hoạt động này.
- Đoàn thanh niên giữ vai trò chính trong các hoạt động thăm quan, du lịch, vui
chơi giải trí, thể dục thể thao, sinh hoạt câu lạc bộ … Đoàn còn giữ vai trò nòng cốt
của nhiều chương trình xã hội trong nhà trường như phong trào "thanh niên lập
nghiệp", "Tuổi trẻ giữ nước" cuộc vận động lớn năm 2001 - 2002 " xã hội tình
nguyện vì trẻ em đặc biệt khó khăn" do Trung ương Đoàn phát động.
Để phát huy vai trò trách nhiệm của Đoàn TNCS HCM trong trường phổ thông
PT về công tác giáo dục cần phát triển tổ chức Đoàn ngày càng vững mạnh. Cho nên
ở những nơi, những lúc cần thiết chính Hiệu trưởng phải tham gia vào việc xây dựng,
củng cố Đoàn Thanh niên, nhất là đổi mới phương thức hoạt động của Đoàn tạo nên
tính đồng bộ trong việc đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục trong trường TH
Tóm lại, nội dung cơ bản của nguyên tắc tập trung dân chủ ở đây là phát huy
quyền chủ động của cơ sở dựa trên hành lang pháp lí được qui định bởi Luật Giáo
dục và những văn bản pháp quy trong hoạt động quản lí giáo dục, đồng thời nâng
cao tinh thần cá nhân phụ trách, tập thể lãnh đạo và phát huy dân chủ của tập thể
theo qui chế dân chủ cơ sở do chính phủ và Bộ giáo dục ban hành. Muốn có nguyên
tắc tập trung dân chủ ở cơ sở, trong tổ chức điều hành công việc hàng ngày cần thực
hiện tốt chế độ thủ trưởng nhưng phải bảo đảm thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.
1.2. Tập thể sư phạm trong trường phổ thông
a. Khái niệm
Tập thể sư phạm trong trường phổ thông là tổ chức của tập thể lao động sư phạm,
đứng đầu là Hiệu trưởng. Tập thể sư phạm liên kết các giáo viên, cán bộ, nhân viên
thành một cộng đồng giáo dục có tổ chức, có mục đích giáo dục thống nhất, có
10
phương thức hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường. Đội ngũ
Lao động của giáo viên là loại hình lao động đặc thù, đối tượng lao động sư phạm trường
phổ thông là học sinh lứa tuổi từ 06 đến 11 tuổi; lứa tuổi có sự phát triển cao về tâm lý,
sinh lý. Học sinh có nhu cầu cao về trí tuệ và tình cảm với người thầy. Phương tiện lao
động cũng rất đặc thù. Đó là nhân cách của người thầy cùng các thiết bị dạy học, trong đó
nhân cách người thầy đóng vai trò quan trọng nhất. Thời gian lao động sư phạm không
chỉ đảm bảo được quy định trong chương trình đào tạo và chế độ lao động sư phạm
không chỉ đảm bảo được quy định trong chương trình đào tạo và chế độ lao động mà cần
mang tính năng động, sáng tạo, cộng với say mê nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm
trước thế hệ trẻ và trước toàn xã hội.
Sản phẩm của lao động sư phạm là những nhân cách phát triển toàn diện, đạt được
mục tiêu giáo dục của nhà trường. Nghĩa là sản phẩm đó không được quyền có phế phẩm.
Học sinh TH phải thoả mãn được những nhu cầu của bản thân, gia đình và xã hội. Lao
động sư phạm của người giáo viên vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật và
tính nhân đạo cao. Nó mang đặc thù của nghề sư phạm, đồng thời có tính liên kết công
tác, phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. Bời vì sự hình thành
và phát triển nhân cách của người học sinh cũng như sự chi phối của "Tổng hoà các mỗi
quan hệ xã hội" trong đó tạp thể sư phạm nhà trường là lực lượng giáo dục chuyên biệt có
hệ thống, thường xuyên và cơ bản nhất.
Các yếu tố tâm lý xã hội của tập thể sư phạm: quá trình tâm lý xã hội của một tập thể
sư phạm thường biểu hiện ở sự giao tiếp thích nghi, tìm hiểu, đánh giá, cảm hoá, thuyết
phục, bắc chước, lan truyền cảm xúc cho nhau. Sự chia rẽ, xung đột cũng có thể xảy ra
trong quá trình tâm lý của tập thể sư phạm. Trong quá trình đó, mối quan hệ thường tập
trung vào Ban lãnh đạo của tập thể sư phạm.
Công đoàn
Ban giám hiệu
Hội đồng trường
Đoàn, Đội, (Sao
Nhi đồng,...)
Hội đồng thi đua
khen thưởng,
- Để thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo, Điều 15, Luật Giáo dục năm 2005 nhấn
mạnh vai trò và trách nhiệm của nhà giáo : "Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc
bảo đảm chất lượng GD.
Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học.
Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách sử dụng, đãi ngộ, bảo
đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện vai trò và trách
13
nhiệm của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy
học ".
Điều 27, Luật Giáo dục năm 2005 còn nhấn mạnh : “Mục tiêu của GD phổ thông
1. Mục tiêu của GD phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí
tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động
và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư
cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc
sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Điều 28, Luật Giáo dục năm 2005 nhấn mạnh : “Yêu cầu về nội dung, phương pháp
GD phổ thông
1. Nội dung GD phổ thông phải bảo đảm tính phổ thông , cơ bản, toàn diện, hướng
nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của
học sinh, đáp ứng mục tiêu GD ở mỗi cấp học.
2. Phương pháp GD phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng
tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương
pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg, ngày 11 tháng 01 năm 2005, về việc
phê duyệt Đề án"Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2010"; Quyết định số 09 cũng đã ghi
nhận mục tiêu, các nhiệm vụ chủ yếu, các giải pháp của việc xây dựng, nâng cao
chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 –
2010. Trong đó các nhiệm vụ chủ yếu mà Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg
Ngoài ra, còn nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác về việc xây dựng, nâng
cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục của nhà nước
như :
- Chỉ thị số 18 ngày 27/08/2001 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp cấp
bách xây dựng đội ngũ nhà giáo.
- Chỉ thị số 16/1999/CT-BGD&ĐT về vấn đề bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý
GD&ĐT trong các dịp nghỉ hè.
- Chỉ thị năm học của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT và hướng dẫn nhiệm vụ năm học,.....
3. Cơ sở thực tiễn :
Nghị quyết BCH Trung ương 2 của Đảng CSVN về giáo dục và đào tạo đã có
nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Có thể nói rằng: trong
15
những năm qua, đội ngũ giáo viên phổ thông không những lớn mạnh về số lượng
cũng như về chất lượng, trình độ chuẩn ngày một nâng cao.
Tuy nhiên trên thực tế, đội ngũ giáo viên vẫn còn trong tình trạng chưa đủ về
số lượng, yếu về chất lượng, thiếu đồng bộ về cơ cấu.
Nhưng vấn đề đáng lo ngại nhất là chất lượng đích thực của đội ngũ giáo viên.
Có thể thấy trình độ chuyên môn còn yếu, ít am hiểu các kiến thức về cuộc sống và
khoa học cơ bản. Nhiều giáo viên không những hạn chế về kiến thức mà còn thiếu
một cái "Tâm" về giáo dục. Một bộ phận giáo viên có trình độ chuyên môn tốt
nhưng chỉ lo dạy thêm, chạy sô kiếm tiền.
Trong số giáo viên này, họ nói thực rằng: "Vấn đề đáng quan tâm là kiếm
được bao nhiều tiền, dạy được bao nhiêu lớp" mà không biết, vì thế mà uy tín của rất
kém về ý thức phấn đấu, không chịu tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ
chuyên môn mà chú tâm vào những việc vặt vãnh, tầm thường. Thái độ thường trực
của những giáo viên này là mệt mỏi, bàng quan với những công việc của chính
mình, công việc trên lớp thì qua loa, chiếu lệ.
Ngoài ra còn một số rào cản, ảnh hưởng không nhỏ đến động lực trong mỗi
giáo viên, không kích thích, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Đó là công tác
bổ nhiệm cán bộ, công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra đánh giá giáo viên, công tác
Hệ thống các trường đào tạo giáo viên, quy mô đào tạo giáo viên ở các cấp học, bậc
học, các địa phương được mở rộng. Chất lượng đào tạo giáo viên đang dần được nâng
cao. Công tác bồi dưỡng giáo viên được thực hiện thường xuyên và định kỳ, nhiều
người được cử đi học ở trong nước và nước ngoài để nâng cao trình độ. Hiện nay tỷ lệ
giáo viên đạt chuẩn ở các bậc học là: mầm non 54,5%; tiểu học 87,5%; trung học cơ sở
(THCS) 91,5%; trung học phổ thông (THPT) 95,35%; dạy nghề 71%; trung học
chuyên nghiệp (THCN) 85,17%. Bậc đại học và sau đại học đã có 1.654 giáo sư và phó
giáo sư, 5.743 tiến sĩ và tiến sĩ khoa học, 10.599 thạc sĩ và 571 chuyên khoa cấp I,II.
Những năm gần đây, nhiều chế độ chính sách ưu đãi nhà giáo đã được thể chế hoá.
Nhờ đó, nhiều tỉnh đã giải quyết được một phần đáng kể tình trạng thiếu giáo viên, giáo
viên yếu kém. Chính sách miễn học phí cho các học sinh, sinh viên sư phạm đã tạo một
buớc chuyển biến rõ rệt chất lượng đầu vào của các trường sư phạm các cấp. Số giảng
viên trẻ được cử đi đào tạo sau đại học ở trong nước và nước ngoài ngày càng nhiều
đang góp phần khắc phục tình trạng hẫng hụt về trình độ đội ngũ giảng viên các trường
cao đẳng, đại học (CĐ, ĐH).
Đội ngũ CBQLGD hiện có khoảng 10.400 người ở cấp bộ, sở, phòng và có khoảng
80.000 người ở các trường học, chiếm 10% tổng số cán bộ công chức và viên chức toàn
ngành. Đội ngũ CBQLGD đã từng bước được hoàn chỉnh về cơ cấu và nghiệp vụ; nói
17
chung có ý thức chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn
và kinh nghiệm quản lý; đã và đang là lực lượng nòng cốt thực hiện các chủ trương, công
tác của ngành, của địa phương và nhà trường. Cơ chế tuyển chọn, quy trình, thủ tục bổ
nhiệm CBQLGD từng bước được hoàn thiện và được các cấp có thẩm quyền thực hiện
nghiêm túc. Nhìn chung, phần lớn CBQLGD được bố trí, sử dụng đúng chuyên môn, sở
trường, do đó đã tạo điều kiện để họ phát huy khả năng của bản thân.
Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004, Ban Bí thư Trung ương đã đánh giá:
"Những năm qua, chúng ta đã xây dựng được đọi ngũ NG& CBQLGD ngày càng đông
đảo, phần lớn có phẩm chất đạo đức và ý thức chính trị tốt, trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ ngày càng được nâng cao. Đội ngũ này đã đáp ứng quan trọng yêu cầu nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách
Chỉ thị số 40-CT/TW đã đánh giá: "Chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ nhà
giáo có mặt chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và phát triển kinh tế-xã hội, đa số
vẫn dạy theo lối cũ, nặng về truyền đạt lý thuyết, ít chú ý đến phát triển tư duy, năng lực
sáng tạo, kỹ năng thực hành của người học; một bộ phận nhà giáo thiếu gương mẩu
trong đạo đức, lối sống, nhân cách, chưa làm gương tốt cho học sinh, sinh viên.."
2.3. Công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên chưa theo kịp với những đổi mới
của giáo dục phổ thông . Chất lượng và hiệu quả công tác bồi dưỡng giáo viên còn
thấp. Chương trình, hình thức bồi dưỡng chưa đáp ứng yêu cầu, chậm được đổi mới.
Phương pháp bồi dưỡng vẫn chưa chú trọng phát huy tính chủ động, tích cực của người
học. Đội ngũ báo cáo viên còn nhiều bất cập. Tài liệu bồi dưỡng còn nghèo nàn, chưa
kịp thời. Kiểm tra, đánh giá nhiều khi còn mang tính hình thức.
Việc thực hiện quy hoạch hệ thống các trường sư phạm và xây dựng hai trường ĐH sư
phạm trọng điểm còn quá chậm chạp.
2.4. Năng lực của đội ngũ CBQLGD chưa ngang tầm với yêu cầu phát triển
của sự nghiệp giáo dục. Tính chuyên nghiệp chưa cao; nhận thức về nội dung và
phương pháp quản lý nhà nước, quản lý chuyên môn nghiệp vụ GD&ĐT còn yếu. Còn
những biểu hiện tiêu cực như buông lỏng quản lý, chạy theo thành tích, thiếu kiên quyết
chặn đứng các tiêu cực trong ngành đã được Đảng, Nhà nước nhắc nhở nhiều lần. Riêng
đối với CBQLNN về giáo dục (Trung ương, tỉnh, huyện) có nhiều mặt yếu kém đáng
quan tâm như tinh thần trách nhiệm trong hoạt động công vụ chưa cao, kỷ luật chưa
nghiêm, mất đoàn kết kéo dài. Công tác quy hoạch, kế hoạch chưa được quan tâm, việc
xây dựng chính sách thanh tra, kiểm tra còn nhiều bất cập.
2.5. Cơ chế tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đãi ngộ, đánh giá, sàng lọc và chế độ
chính sách đối với NG&CBQLGD còn có phần bất hợp lý, chưa tạo được động lực đủ
mạnh để phát huy phẩm chất và năng lực của đội ngũ, nâng cao hiệu quả sử dụng, khắc
phục hạn chế, yếu kém.
19
3. NGUYÊN NHÂN
3.1. Về mặt chủ quan, trình độ quản lý của ngành giáo dục chưa theo kịp thực tiễn và nhu
cầu phát triển đội ngũ NG&CBQLGD trong quy trình đổi mới sự nghiệp giáo dục. Chậm
d. Một số vấn đề đặt ra trong việc vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ
trong quản lý trường phổ thông nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
trường phổ thông
Trên cơ sở xác định cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn, qua phân tích thực
trạng đội ngũ giáo viên trường phổ thông Nam Sơn, có thể thấy 4 vấn đề quan trọng
đặt ra cần phải tăng cường bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đó là:
- Tăng cường nâng cao tâm hồn, kiến thức, phương pháp sư phạm của người
thầy.
- Tăng cường nâng cao năng lực sư phạm
- Tăng cường nâng cao năng lực chuyên môn
- Tăng cường nâng cao năng lực sử dụng công nghệ thông tin.
- Tăng cường nâng cao năng lực công tác xã hội hóa giáo dục.
Năm vấn đề trên sẽ được giải quyết trong nội dung của chương III.
CHƯƠNG III
MỘT SỐ BIỆN PHÁP VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ
TRONG QUẢN LÝ TRƯỜNG PHỔ THÔNG NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Mục đích của việc vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý trường
phổ thông nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, phát huy sức mạnh tổng hợp
của tập thể, nâng cao chất lượng đội ngũ để thực hiện tốt nhất mục tiêu của nhà trường.
Đó là việc liên kết các giáo dục, nhân viên trong trường phổ thông ành một tập thể có
kỷ cương, nề nếp, đoàn kết thống nhất, có truyền thống tốt đẹp, có bầu không khí tâm lý
thuận lợi. Trong tập thể, mỗi người đều nhận thức rõ nhiệm vụ và quyền hạn của mình,
đều cảm thấy mình có điều kiện tốt nhất để hoạt động sáng tạo, cảm thấy hài lòng và
gắn bó vói nhà trường, từ đó phát huy tính năng động, sáng tạo, hiệu quả trong giảng
dạy và giáo dục. Một tập thể giáo viên như vậy sẽ là môi trường xã hội tốt đẹp cho việc
nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong nhà trường.
Để thực hiện mục tiêu đó, Hiệu trưởng nhà truong cần thực hiện các biện pháp
cơ bản sau đây :
21
Các Hội đồng trường, Hội đồng thi đua khen thưởng, Hội đồng kỷ luật làm việc
theo chế độ tập thể; trong đó, Hội đồng giáo dục là tổ chức tư vấn cho Hiệu trưởng
22
trong việc thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường, do Hiệu trưởng thành
lập và làm Chủ tịch.
Dân chủ trong quản lý nhà trường chính là việc Hiệu trưởng phải tạo điều kiện để
mọi thành viên trong trường phổ thông am gia quản lý, giúp họ có quyền được thông
tin, được tham gia thảo luận, phê bình, góp ý kiến, chất vấn, quyền được giám sát, kiểm
tra hoạt động của nhà trường.
Chế độ thủ trưởng thể hiện ở chỗ: Nhà nước trao quyền quyết định cao nhất trong
nhà trường cho Hiệu trưởng, người đứng đầu trường trung học phổ thông để thực hiện
chức năng, nhiệm vụ quản lý, điều hành các hoạt động trong nhà trường. Hiệu trưởng
phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với các quyết định và kết quả hoạt động giáo dục của
trường. Vì vậy, trong quản lý nhà trường Hiệu trưởng cần giải quyết tốt mối quan hệ
giữa chế độ thủ trưởng với nguyên tắc tập trung dân chủ để thực hiện tốt các nhiệm vụ
được giao. Để thực hiện tốt các nhiệm vụ của nhà trường, Hiệu trưởng cần phải được
bồi dưỡng về lý luận, nghiệp vụ quản lý giáo dục, kiến thức, kỹ năng quản lý hành
chính nhà nước. Đó chính là điều kiện cần thiết để Hiệu trưởng nâng cao trình độ, năng
lực quản lý, tạo được sự tin cậy và ủng hộ của tập thể giáo viên, nhân viên, học sinh
trong trường.
Muốn thực hiện tốt chức năng quản lý nhà trường và thực hiện nghiêm chỉnh các
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Hiệu trưởng trường trung học phổ thông cần phải làm
tốt các hoạt động sau: tổ chức, điều hành các hoạt động giáo dục trong nhà trường, tổ
chức tốt việc thực hiện các chủ trương chính sách giáo dục, mà cụ thể là thực hiện các
mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục và các quy chế thi cử, nhiệm vụ của năm học:
quản lý đội ngũ giáo viên, nhân viên, học sinh, cơ sở vật chất thiết bị tài chính... theo
các quy định pháp luật của Nhà nước.
1.2. Kết hợp nhuần nhuyễn việc phát huy quyền tự chủ với thực hiện dân chủ trong
quản lý nhà trường.
Trên cơ sở Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 25 tháng 4 năm
Dân chủ đại diện trong nhà trường còn là hình thức thể hiện ý chí không trực tiếp
của chủ thể quyền lực, mà thông qua các đại diện có thẩm quyền do chủ thể bầu ra
(Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ), chủ thể
quyền lực có quyền được giám sát, kiểm tra hoạt động của các tổ chức đại diện của
mình.
Các tổ chức đại diện trong nhà trường có trách nhiệm sau:
+ Phối hợp với nhà trường trong việc tổ chức thực hiện Điều lệ Trường trung học
và các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục và đào tạo, trong các hoạt động khác
của nhà trường.
24
+ Nâng cao chất lượng sinh hoạt của các tổ chức, đoàn thể trong trường, dân chủ
bàn bạc góp ý kiến ở các chủ trương, biện pháp cụ thể để thực hiện các nhiệm vụ của
nhà trường.
+ Ban thanh tra nhân dân có trách nhiệm giám sát, kiểm tra việc thực hiện Điều lệ
Trường trung học và văn bản khác của Nhà nước đối với nhà trường, phát hiện các vi
phạm pháp luật, vi phạm kỷ luật lao động trong nhà trường để đề nghị Hiệu trưởng và
các cấp có thẩm quyền giải quyết.
Nhà trường phát huy quyền tự chủ và thực hiện chế độ dân chủ trong việc xây
dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch và nhiệm vụ năm học. Hiệu trưởng có thể
chủ động xây dựng các kế hoạch của nhà trường trong năm học trên cơ sở: Luật Giáo
dục, Điều lệ trường trung học; Nhiệm vụ của năm học và văn bản khác của Nhà nước
đối với nhà trường.
Để xây dựng các kế hoạch này, sau bước dự thảo kế hoạch, Hiệu trưởng phải tổ chức
lấy ý kiến tham gia đóng góp của tất cả các tổ chức bộ phận, cá nhân trong nhà trường.
Cuối cùng, Hiệu trưởng mới chính thức quyết định. Các kế hoạch của nhà trường trong
năm học gồm: Kế hoạch chung của năm học, kế hoạch tuyển sinh, kế hoạch giảng dạy
và giáo dục, kế hoạch mua sắm trang thiết bị dạy học.
Phát huy quyền tự chủ và thực hiện chế độ dân chủ trong việc xây dựng, quản lý
đội ngũ cán bộ, giáo viên; đây là yếu tố tiên quyết góp phần tạo ra động lực của sự phát
triển nhà trường. Đội ngũ giáo viên, nhân viên trong trường trung học phổ thông là lực