Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Phạm Tuấn Anh
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ tận tình của thầy cô trường Đại Học Thương Mại Hà Nội.
Xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của TH.S Phạm Tuấn Anh -
Giảng viên khoa Tài chính – Ngân hàng trường ĐH Thương Mại - giáo viên hướng
dẫn trực tiếp, cùng sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô, chú, anh, chị trong công ty cổ
phần Việt Tiên Sơn trong suốt quá trình tôi hoàn thành khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
SVTH: Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Lớp: K8CT2
1
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Phạm Tuấn Anh
MỤC LỤC
SVTH: Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Lớp: K8CT2
2
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Phạm Tuấn Anh
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng số 1. Tình hình tài sản - vốn 3 năm của Công ty Cổ phần Việt Tiên Sơn
Bảng số 2. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh 3 năm của Công ty Cổ phần Việt
Tiên Sơn
Bảng số 3. Bảng so sánh kết quả kinh doanh của công ty
Bảng số 4: Khoản phải thu của công ty 3 năm 2011, 2012, 2013
Bảng số 5: So sánh khoản phải thu 3 năm 2011, 2012, 2013 của công ty cổ phần Việt
Tiên Sơn
SVTH: Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Lớp: K8CT2
tế đó, tôi thấy doanh nghiệp cần phải có cái nhìn đúng đắn hơn về tầm quan trọng của
công tác quản trị khoản phải thu, đồng thời có những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao
hiệu quả công tác quản trị khoản phải thu của doanh nghiệp.
Căn cứ vào yêu cầu thực tế của doanh nghiệp cần hoàn thiện công tác quản trị
khoản phải thu tôi lựa chọn đề tài: “Quản trị khoản phải thu của công ty cổ phần Việt
Tiên Sơn” là đề tài khóa luận tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu và phân tích thực trạng quản trị khoản phải thu tại công ty Cổ
phần Việt Tiên Sơn.
- Phân tích các nhân tố môi trường kinh doanh tác động tới quản trị khoản phải
thu tại công ty Cổ phần Việt Tiên Sơn.
- Nhận dạng các thành công, các vấn đề tồn tại và nguyên nhân của các tồn tại
trong quản trị khoản phải thu tại công ty Cổ phần Việt Tiên Sơn.
- Trên cơ sở các phân tích thực trạng, kết hợp với phân tích các yếu tố môi
trường kinh doanh của công ty Cổ phần Việt Tiên Sơn, đề xuất hướng giải quyết các
vấn đề tồn tại trong quản trị khoản phải thu tại công ty Cổ phần Việt Tiên Sơn.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Thực trạng quản trị khoản phải thu tại công ty Cổ phần Việt Tiên Sơn.
SVTH: Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Lớp: K8CT2
5
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Phạm Tuấn Anh
+ Các yếu tố môi trường kinh doanh tác động tới quản trị khoản phải thu tại
công ty Cổ phần Việt Tiên Sơn.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về mặt không gian: khóa luận được nghiên cứu tại công ty Cổ phần Việt
Tiên Sơn.
+ Về mặt thời gian: trong 3 năm từ 2011 đến 2013
Khi đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các chủ ngân
hàng, hay các đối tác kinh doanh thường quan tâm đến tình hình tài chính của doanh
nghiệp. Phải nhấn mạnh rằng, bất cứ một doanh nghiệp hay một tổ chức kinh tế nào
cũng tồn tại những khoản tiền phải thu đối với các con nợ. Khoản phải thu không bao
giờ tách khỏi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó phản ánh tình hình
tài chính của doanh nghiệp. Vậy khoản phải thu là gì? Nó có liên quan đến tình hình
tài chính của doanh nghiệp như thế nào?
Khoản phải thu: Là bộ phận tài sản của doanh nghiệp đang bị các đơn vị hoặc
cá nhân khác chiếm dụng mà doanh nghiệp có trách nhiệm thu hồi.
Khoản phải thu có liên quan đến các đối tác có quan hệ kinh tế đối với doanh
nghiệp bao gồm các khoản:
- Khoản phải thu từ khách hàng
- Khoản ứng trước cho người bán
- Khoản phải thu nội bộ
- Khoản tạm ứng cho công nhân viên
- Các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ
- Các khoản phải thu khác.
1.1.2 Khái niệm quản trị khoản phải thu
Cùng với quản trị tiền mặt và hàng tồn kho, quản trị khoản phải thu có liên
quan đến quyết định về quản trị tài sản của giám đốc tài chính. Quyết định quản trị
khoản phải thu gắn với việc đánh đổi giữa chi phí liên quan đến khoản phải thu và
doanh thu tăng thêm do bán chịu hàng hóa.
Quản trị khoản phải thu đòi hỏi trả lời năm tập hợp câu hỏi sau:
- Doanh nghiệp đề nghị bán hàng hay dịch vụ của mình với điều kiện gì? Dành
cho khách hàng thời gian bao lâu để thanh toán tiền mua hàng? Doanh nghiệp có
chuẩn bị để giảm giá cho khách hàng thanh toán nhanh không?
- Doanh nghiệp cần đảm bảo gì về số tiền khách hàng nợ? Chỉ cần khách hàng
kí vào biên nhận, hay buộc khách hàng kí một loại giấy nhận nợ chính thức nào khác?
- Phân loại khách hàng: Loại khách hàng nào có thể trả tiền ngay? Để tìm hiểu,
doanh nghiệp có nghiên cứu hồ sơ quá khứ hay các báo cáo tài chính đã qua của khách
nghiệp giao cho các cán bộ công nhân viên để thực hiện một nhiệm vụ được giao hoặc
giải quyết một số công việc như mua hàng hoá, trả chi phí công tác…
- Khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ:
+) Khoản thế chấp: thường phát sinh trong quan hệ vay vốn. Khi vay vốn có thế
chấp, người vay phải mang tài sản của mình giao cho người cho vay trong thời gian
vay vốn.
+) Khoản ký cược: là số tiền doanh nghiệp dùng vào việc đặt cược khi thuê
mướn tài sản theo yêu cầu của người cho thuê nhằm mục đích ràng buộc trách nhiệm
vật chất và nâng cao trách nhiệm cho người đi thuê trong việc quản lý sử dụng tài sản
đi thuê và sử dụng đúng hạn. Số tiền ký cược do bên cho thuê quy định và có thể lớn
hơn giá trị tài sản cho thuê.
+) Ký quỹ: là số tiền, hay tài sản được gửi trước để làm tin trong các quan hệ
mua bán, nhận đại lý bán hàng, tham gia đấu thầu,…
1.2 Nội dung quản trị khoản phải thu
1.2.1 Hoạch định chính sách tín dụng của doanh nghiệp
Sự cần thiết của chính sách tín dụng:
SVTH: Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Lớp: K8CT2
8
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Phạm Tuấn Anh
Trong mối quan hệ tài chính giữa các doanh nghiệp, những doanh nghiệp đóng
vai trò là người bán thường phải bán chịu hàng hoá của mình trong một thời gian nhất
định và những doanh nghiệp đóng vai trò làm người mua lại thường cố gắng kéo dài
thời hạn thanh toán. Mỗi doanh nghiệp đều có các khoản mua chịu và bán chịu hàng
hoá từ đó hình thành nên khoản phải thu của doanh nghiệp. Có thể nói hầu hết các
doanh nghiệp đều phát sinh khoản này nhưng với mức độ khác nhau, từ mức không
đáng kể đến mức không thể kiểm soát nổi. Kiểm soát khoản phải thu liên quan đến
việc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro. Nếu không bán chịu hàng hoá sẽ mất đi cơ hội
bán hàng, nếu bán chịu hàng hoá quá nhiều thì chi phí cho khoản phải thu tăng có
Điều kiện tín dụng:
- Điều kiện doanh nghiệp:
Đặc điểm về sản phẩm, ngành nghề kinh doanh và tiềm lực tài chính là những
yếu tố tác động trực tiếp đến chính sách tín dụng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có
quy mô lớn, có tiềm lực tài chính mạnh, sản phẩm có thời gian sử dụng lâu bền thường
cho phép mở rộng chính sách tín dụng hơn các doanh nghiệp ít vốn, sản phẩm dễ bị hư
hỏng, mất phẩm chất, khó bảo quản. Đối với những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
có tính thời vụ, trong thời kỳ cần sản phẩm có nhu cầu tiêu thụ lớn cần khuyến khích
tiêu thụ để thu hồi vốn.
- Điều kiện khách hàng:
Điều kiện của khách hàng được đánh giá dựa vào các phán đoán sau:
+) Vốn hay sức mạnh tài chính: là thước đo về tình hình tài chính của một
doanh nghiệp, nó ảnh hưởng đến rủi ro thanh toán. Yếu tố này được xác định dựa vào
quy mô vốn chủ sở hữu, tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp, khả năng sinh lợi từ
hoạt động kinh doanh.
+) Khả năng thanh toán: được đánh giá qua hệ số thanh toán chung, hệ số thanh
toán nhanh, hệ số thanh toán lãi vay …của khách hàng.
+) Tư cách tín dụng: là thái độ tự giác đối với việc thanh toán nợ của khách
hàng. Yếu tố này được coi là rất quan trọng vì mỗi giao dịch tín dụng được ngầm hiểu
là một sự hứa hẹn thanh toán.
+) Vật thế chấp: là tài sản khách hàng dùng đảm bảo cho món nợ của mình.
+) Điều kiện kinh tế: là sự phát triển của nền kinh tế nói chung và mức độ phát
triển của từng vùng địa lý nói riêng có ảnh hưởng đến việc thanh toán của khách hàng
đối với món nợ.
1.2.2 Kiểm soát khoản phải thu
Phòng ngừa rủi ro
Khi DN nới lỏng chính sách tín dụng thường góp phần làm mở rộng thị trường
tiêu thụ, tăng doanh thu nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn. Vì vậy, phòng
ngừa rủi ro đối với KPT là nhu cầu cần thiết đối với mọi DN để ổn định tình hình tài
SVTH: Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
cần đánh giá liệu lợi ích tiềm tang từ việc duy trì tình trạng không phòng ngừa có đáng
giá hơn mức rủi ro hay không. Các công ty nên hài lòng khi phòng ngừa nếu RCHr trở
nên rất thấp và đặc biệt hài lòng khi nó âm. Tuy vậy, các công ty bảo thủ có thể cảm
thấy phòng ngừa là đáng giá ngay cả khi RCHr là cao.
SVTH: Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Lớp: K8CT2
11
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Phạm Tuấn Anh
• Phòng ngừa bằng quyển chọn bán tiền tệ: Quyền chọn bán tiền tệ là một
công cụ phòng ngừa có giá trị. Quyền chọn bán tiền tệ cung cấp cho người nắm giữ nó
quyền được bán một lượng nhất định một đồng tiền nào đó với một giá trị xác định
trong tương lai. Quyền chọn bán tiền tệ có thể được các công ty sử dụng để phòng
ngừa các khoản phải thu trong tương lai bằng ngoại tệ bởi vì nó cho phép xác định
được mức giá tại đó khoản phải thu trong tương lai có thể được bán. Quyền chọn bán
tiền tệ không phải là nghĩa vụ đối với người sở hữu nó về việc phải bán một lượng tiền
với một giá xác định. Nếu tại thời điểm công ty nhận ngoại tệ, tỷ giá giao ngay hiện
hành của ngoại tệ cao hơn giá thực thi, công ty có thể để quyền chọn bán tự động hết
hạn và bán số ngoại tệ nhận được theo tỷ giá giao ngay hiện hành.
• Phòng ngừa khoản phải thu thông qua thị trường tiền tệ: Một phòng ngừa
qua thị trường tiền tệ là việc sử dụng một tình trạng trên thị trường tiền tệ để bù đắp
một tình trạng khoản phải thu trong tương lai. Khi xác định được giá trị của khoản
phải thu trong tương lai công ty đã vay trước một lượng tiền đó để phục vụ hoạt động
sản xuất kinh doanh của mình và đến khi trả khoản vay trên thì giá trị của nó chính
bằng giá trị khoản phải thu mà công ty nhận được.
Công ty phải tiến hàng hai tình huống trên thị trường tiền tệ là: Vay ngoại tệ thể
hiện khoản phải thu trong tương lai và đầu tư vào đồng tiền trong nước. Tuy nhiên
công ty sẽ không biết liệu việc phòng ngừa được lựa chọn đối với khoản phải thu có
tốt hơn không phòng ngừa hay không cho đến khi kỳ hạn của khoản phải thu trôi qua.
• Phòng ngừa bằng hợp đồng tương lai: Một phòng ngừa bằng hợp đồng tương
phải thu, đặc biệt các khoản nợ quá hạn và các khoản nợ khó đòi.
Các tổn thất do không thu hồi được kịp và đầy đủ cần xác định rõ mức độ,
nguyên nhân của từng khoản nợ và có biện pháp xử lý thích hợp như gia hạn nợ, thoả
ước xử lý nợ, xoá một phần nợ cho khách hàng hoặc khởi kiện trước pháp luật,…Các
doanh nghiệp phải có các biện pháp phòng ngừa rủi ro như lựa chọn khách hàng, giới
hạn tín dụng, yêu cầu đặt cọc, tạm ứng,…
Đối với các doanh nghiệp nhà nước, các khoản nợ khó đòi thực sự không có
khả năng đòi, được cơ quan quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp xem xét,
thẩm định cho phép hạch toán vào kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp phải tiếp tục
theo dõi trên sổ kế toán và đôn đốc thường xuyên để thu hồi khoản phải thu sau khi trừ
đi chi phí thu nợ, hạch toán vào thu nhập bất thường của doanh nghiệp.
SVTH: Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Lớp: K8CT2
13
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Phạm Tuấn Anh
Đối với những khoản nợ quá hạn, doanh nghiệp có thể áp dụng các quy trình
thu hồi nợ theo cấp độ: gọi điện thoại, thư nhắc lại, thư khuyên nhủ hoặc thư chuyển
cho cơ quan chuyên trách thu hồi giúp. Nếu các biện pháp này không có hiệu lực,
doanh nghiệp có thể nhờ đến các hãng chuyên thu nợ hoặc nhờ tư vấn của luật sư.
Đồng thời đối với các khách hàng không trả nợ đúng hạn, doanh nghiệp cần
ngừng cấp tín dụng cho đến khi họ thanh toán xong nợ cũ. Ngoài ra doanh nghiệp
cũng có thể áp dụng hình thức mua nợ để tránh những món nợ khó đòi và chuyển rủi
ro sang công ty mua nợ.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị khoản phải thu
1.3.1 Các nhân tố bên trong
Sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp chủ yếu ở việc doanh nghiệp có
nắm bắt và kiểm soát được các nhân tố này hay không
- Trình độ nguồn nhân lực: đây là một trong những nguồn vốn quý nhất của
doanh nghiệp có ảnh hưởng to lớn đến sự thành bại trong kinh doanh và khả năng cạnh
của nó, tiền phát hành quá mức cần thiết và làm cho đồng tiền không có giá trị thanh
toán. Mặc khác, lạm phát còn làm chi phí lớn khó tiêu thụ hàng hoá, chi phí trả lãi vay
cao. Khi lạm phát gay gắt sẽ gây hậu quả là tìm cách tháo chạy khởi đồng tiền và tìm
mua bất cứ hàng hoá nào mà không có nhu cầu. Mục tiêu kiềm chế lạm phát không
đồng nghĩa với việc là đưa lạm phát bằng 0. Bởi lẽ, lạm phát không hoàn toàn tiêu cực,
nếu ở một nước nào đó có thể duy trì được lạm phát ở mức độ cho phép nào đó thì sẽ
có lợi cho sự phát triển nền kinh tế.
+) Tỷ giá hối đoái: Việc thay dổi tỷ giá hối đoái sẽ dẫn đến tình trạng làm cho
đồng tiền nội tệ giảm hoặc tăng giá so với đồng ngoại tệ, tác động trực tiếp đến trao
đổi với nước ngoài như: xuất khẩu, đầu tư, việc chuyển đổi tiền, sức mua nó càng
nguy hiểm hơn đối với các khoản phải thu khi nó rơi vào đúng thời hạn thanh toán nợ
của khách hàng.
+) Lãi suất: Khi cần vốn vào đầu tư để kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ cần rất
nhiều đến sự tài trợ vốn của ngân hàng, các nhà cho vay thì lãi suất được tính toán một
cách kỹ lưỡng. Lãi suất liên quan đến việc mở rộng tín dụng, muốn tăng doanh số bán ra
thì phải mở rộng chính sách tín dụng thì phải cần đến vốn. Nếu khoản phải thu khách
hàng vẫn không giảm thì công ty không những không trả được lãi vay mà còn làm giảm
khả năng thanh toán nợ đối với các nhà cung cấp, nó sẽ góp phần làm gia tăng chi phí của
công ty. Do vậy, lãi suất ngân hàng cũng là yếu tố tác động rất lớn đến việc mở rộng các
chính sách phải thu tại công ty, nó còn là căn cứ để công ty có các chính sách chiết khấu
hợp lý đối với khách hàng và cũng là căn cứ để công ty cho khách hàng nợ trong một thời
gian nhất định đối với các khách hàng không mở tín dụng.
- Các nhân tố về môi trường tự nhiên: Đó là các nhân tố về khí hậu, vị trí địa lí,
địa hình…Các nhân tố này có ảnh hưởng lớn đến quyết định chính sách bán hàng của
doanh nghiệp. Chúng tác động đến việc doanh nghiệp lựa chọn vị trí, cách thức bán
hàng phù hợp với yêu cầu của người mua và nhằm khuyến khích người tiêu dùng.
SVTH: Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Lớp: K8CT2
15
Khóa luận tốt nghiệp
Trong đó, lĩnh vực hoạt động chính là đầu tư và xây dựng cơ bản. Lĩnh vực này
bao gồm các hoạt động: đầu tư, xây dựng cơ bản, xây dựng công nghiệp, xây dựng dân
dụng, nạo vét, san lấp… Trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng cơ bản Công ty đã trúng
thầu và giành được nhiều hợp đồng lớn, có ý nghĩa quan trọng như: khu dân cư tập
trung thị trấn Sao Đỏ, Khu trung tâm thương mại Thị trấn Sao Đỏ, dự án xây dựng nhà
máy sản xuất phân vi sinh ở Cẩm Giàng…Trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ nhà hàng
và hàng thủ công mỹ nghệ, Công ty đã đáp ứng được một lượng nhu cầu lớn của khách
du lịch trong nước và nước ngoài trên lộ trình du lịch tham quan các danh lam thắng
cảnh, di tích lịch sử như: Hạ Long, Cửa Ông, Tuần Châu…(Quảng Ninh), Côn Sơn,
Kiếp Bạc…(Chí Linh-Hải Dương)…tạo cho khách du lịch điểm dừng chân nghỉ ngơi
và mua sắm lý tưởng, đồng thời đem lại một nguồn doanh thu không nhỏ cho Công ty.
Trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh phân vi sinh, đây là một lĩnh vực mà Công ty
mới đi vào hoạt động, do đó còn rất khó khăn phía trước. Song Công ty quyết tâm phát
triển lĩnh vực này trở thành một lĩnh vực mũi nhọn tiếp theo để đáp ứng nhu cầu trồng
trọt rất lớn trên địa bàn tỉnh Hải Dương và các tỉnh lân cận.
Do đặc điểm sản xuất và kinh doanh đa dạng như vậy nên thị trường hoạt động
của công ty là vô cùng rộng, đáp ứng mọi đối tượng khách hàng.Từ đó ta thấy Công ty
cổ phần Việt Tiên Sơn có những hướng đi đúng đắn, phù hợp, đáp ứng được yêu cầu
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
SVTH: Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Lớp: K8CT2
17
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Phạm Tuấn Anh
- Bộ máy quản lý của Công ty CP Việt Tiên Sơn được tổ chức theo mô hình
chực tuyến chức năng. Đứng đầu là chủ tịch hội đồng quản trị, sau đó đến Giám đốc
Công ty, đến các phó giám đốc và các phòng ban chức năng và các đơn vị trực thuộc
Công ty.
2.2.2 Tình hình tài sản – vốn
Bảng số 1. Tình hình tài sản - vốn 3 năm của Công ty Cổ phần Việt Tiên Sơn
(Trích số liệu: phòng tài chính – kế toán)
Cơ cấu tài sản:
Qua bảng số liệu trên, ta có thế thấy tổng tài sản tăng dần qua các năm. Cuối
năm 2011, tổng tài sản của công ty là 174.248.154.399 VNĐ. Năm 2012 tổng tài sản
đã tăng thêm 37.999.144.210 VNĐ (tương ứng với 21,8%). Năm 2013 tổng tài sản tiếp
tục tăng thêm 12,12% so với năm 2012 và đạt con số 25.717.208.040 VNĐ.
Tổng tài sản tăng lên là do sự tăng lên của cả tài sản dài hạn và tài sản ngắn
hạn. Cụ thể:
- Tài sản ngắn hạn năm 2012 tăng 28.605.017.260 VNĐ (tương ứng 24,1%) so
với năm 2011. Năm 2013, tài sản ngắn hạn của công ty là 155.977.079.436VNĐ tăng
5,88% so với năm 2012.
- Tài sản dài hạn của công ty tăng liên tục trong 3 năm 2011, 2012 và 2013.
Năm 2012, tài sản dài hạn tăng 9.394.126.950 VNĐ (tương ứng 16,91%) so với năm
SVTH: Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Lớp: K8CT2
18
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Phạm Tuấn Anh
2011. Năm 2013, tài sản dài hạn tiếp tục tăng thêm 26,26% so với năm 2012 và đạt
con số 17.052.405.270 VNĐ.
Xét về cơ cấu tài sản, tài sản ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng lớn. Điều này cho
thấy vốn của công ty chủ yếu đầu tư vào tài sản ngắn hạn. Tỷ trọng tài sản ngắn hạn
cũng tăng dần qua các năm: Năm 2011 là 68,12% sau đó tăng lên 69,4% năm 2012,
nhưng đến năm 2013 thì tài sản ngắn hạn giảm nhẹ và chiếm 65,55% trong cơ cấu tài
sản. Đối với một công ty kinh doanh đa dạng ở nhiều lĩnh vực, mặt hàng thì xu hướng
này là hợp lý vì đặc điểm của các ngành nghề này là giá trị các khoản mục phải thu
lớn. Qua bảng trên ta thấy quy mô về vốn của công ty đang có xu hướng tăng lên, quy
mô hoạt động được mở rộng, công ty đang trên đà tăng trưởng. Tài sản tăng tức là đầu
tư có hiệu quả và đang thực hiện mở rộng hơn nữa các mối quan hệ kinh doanh.
Cơ cấu nguồn vốn:
6.Doanh thu hoạt
động tài chính
2.063.229.510 2.903.970.641 1.935.980.427
7. Chi phí tài chính 1.110.731.748 2.114.275.633 668.565.380
- Trong đó chi lãi
vay
1.110.731.748 2.114.275.633 668.565.380
8. Chi phí bán hàng 3.625.272.510 3.296.094.175 1.648.047.088
9. Chi phí QLDN 3.570.474.275 4.113.708.830 2.300.789.256
10.LN thuần từ
HĐKD
9.418.029.958 12.309.906.312 18.849.956.334
11. Thu nhập khác 122.190.126 103.610.992 1.103.610.992
12. Chi phí khác 0 0 0
13. Lợi nhuận khác 122.190.126 103.610.992 1.103.610.992
14. LN trước thuế 9.540.220.084 12.413.517.304 19.953.567.326
15. Thuế TNDN hiện
hành
2.385.055.021 3.103.379.326 4.988.391.831
16. LN sau thuế 7.155.165.063 9.310.137.978 14.965.175.494
(Trích số liệu: phòng tài chính – kế toán)
Bảng số 3. Bảng so sánh kết quả kinh doanh của công ty
Đơn vị: VNĐ
Chỉ tiêu Chênh lệch năm 2012-2011 Chênh lệch năm 2013-2012
Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%)
1.DThu BH & CCDV 77.931.523.910 36,86 31.219.499.000 10,79
2.Các khoản giảm trừ
doanh thu
0 0 0 0
3. Doanh thu thuần 77.931.523.910 36,86 31.219.499.000 10,79
ứng với 36.86% so với năm 2011. Năm 2013 tiếp tục tăng 31.219.499.000VNĐ (tương
ứng 10,79%) so với năm 2012. Điều này làm cho tổng doanh thu thuần của công ty
cũng tăng mạnh sau mỗi năm hoạt động. Chứng tỏ công ty ngày càng phát triển, mở
rộng thị trường và đa dạng ngành nghề kinh doanh.
- Tương ứng giá vốn hàng bán của doanh nghiệp cũng tăng đều qua các năm.
Cụ thể năm 2012 tăng 74.662.788.580VNĐ (tương đương 38,13%) so với năm 2011.
Sang năm 2013 tăng nhẹ 28.618.135.680VNĐ (ứng với 10,59%). Qua đây cho thấy sự
hiệu quả trong việc quản lý chi phí trong gía vốn hàng bán của các nhà quản trị doanh
nghiệp.
- Năm 2012 lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng
3.268.735.328VNĐ (ứng với 20,87%) so với năm 2011. Năm 2013 tiêp tục tăng
2.601.363.321VNĐ tương đương 13,74%.
- Doanh thu từ hoạt động của tài chính của công ty năm 2012 tăng
840.741.131VNĐ (tương ứng 40,75%). Năm 2013 giảm 967.990.214VNĐ (ứng với
33,33%) so với năm 2012. Chi phí tài chính (cụ thể là chi lãi vay) năm 2012 tăng
1.003.543.885VNĐ ứng với tăng 90.35% sao với năm 2011. Điều này cho thấy năm
2012 doanh nghiệp đã sử dụng vốn cao hơn năm 2011. Sang tới năm 2013 chi phí tài
chính giảm 1.445.710.253VNĐ tương đương tỷ lệ 68,39%.
- Chi phí bán hàng có xu hướng giảm dần qua mỗi năm. Cụ thể năm 2012 giảm
329.178.335VNĐ (ứng với 9,08%) so với năm 2011. Năm 2013 tiếp tục giảm
1.648.047.087VNĐ tương đương 50%.
SVTH: Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Lớp: K8CT2
21
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Phạm Tuấn Anh
- Năm 2012 Chi phí quản lý doanh nghiệp năm tăng 543.234.555VNĐ (ứng với
15,21%) sao với năm 2011. Năm 2013 giảm 1.812.919.575 tương ứng 44,07%.
Chi phí có xu hướng giảm qua các năm. Điều này chứng tỏ công ty hoạt động
ngày càng hiệu quả. Các nhà quản trị công ty ngày càng lỗ lực trên con đường tìm
SVTH: Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Lớp: K8CT2
22
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Phạm Tuấn Anh
Bên cạnh đó, các cuộc phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia trong doanh nghiệp
như Tổng giám đốc, trưởng phòng tài chính…cũng giúp có được những cái nhìn toàn
diện hơn về những vấn đề quan tâm. Từ những cuộc tiếp xúc trực tiếp với Tổng giám
đốc công ty đã giúp có được những ý kiến, đánh giá tổng quát và định hướng chung về
công tác quản trị khoản phải thu của công ty. Với những cuộc phỏng vấn trực tiếp
Trưởng phòng tài chinh và các cán bộ nhân viên phụ trách trực tiếp về công tác quản
trị khoản phải thu đã có được những thông tin và đánh giá sát thực về vấn đề quản trị
khoản phải thu tại công ty.
Nhằm hướng người được phỏng vấn đưa ra các ý kiến thẳng thắn, trung thực và
khách quan nhất nên các câu hỏi đi từ những câu mang tính chất thăm dò, nhận xét
chung về tình hình quản trị khoản phải thu tại công ty. Sau đó là các câu hỏi về thực
trạng cũng như những tồn tại trong lĩnh vực quản trị khoản phải thu tại công ty. Đồng
thời, bằng những hiểu biết cá nhân về thực trạng công ty, hướng họ mạnh dạn đưa ra
các gợi ý về giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn. Đây chính là mục đích thực sự của quá
trình thu thập dữ liệu sơ cấp.
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp:
Một trong những nguồn cung cấp thông tin chính cho luận văn đó chính là các
dữ liệu nội bộ doanh nghiệp. Đây chính là nguồn thông tin định lượng quan trọng biểu
hiện thực trạng kinh doanh của doanh nghiệp. Các số liệu này được tổng hợp từ phòng
kế toán tài chính của công ty.
Các dữ liệu này trước hết là các báo cáo tài chính của các năm gần đây, cụ thể
là từ năm 2011, 2012, 2013.
- Các bảng cân đối kế toán từng năm.
- Các bảng kết quả hoạt động kinh doanh từng năm.
- Các bảng tổng hợp tình hình khoản phải thu khách hàng.
từ đó mở rộng thị trường của mình. Đặc biệt là lĩnh vực xây dựng, công ty rất tích cực
ứng thầu các công trình, mở rộng phạm vi hoạt động nhằm tăng số lượng các công
trình dù phải chịu áp lực gay gắt từ những công ty khác trong và ngoài nước. Bên cạnh
đó doanh nghiệp cũng không ngừng tìm tòi, phát triển những bạn hàng mới ở những
lĩnh vực kinh doanh mới. Những thị trường mới và lĩnh vực kinh doanh mới này đã
góp phần giúp công ty gặt hái được những thành công đáng kể, thể hiện một hướng đi
mới đúng đắn cho công ty. Tuy giai đoạn vừa qua, tình hình kinh tế thế giới chưa ổn
định, kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn, nhưng công ty đã đưa ra những chính sách
để tranh thủ cơ hội kinh doanh đẩy mạnh sản xuất.
Qua các phiếu điều tra thu về, tình hình nợ phải thu của doanh nghiệp tăng cao,
bởi một số nguyên nhân sau:
- Do dư âm của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, khách hàng gặp khó khăn
về tài chính không thể thanh toán hợp đồng là nguyên nhân chủ yếu của các khoản nợ
phải thu.
- Do doanh nghiệp khi kí kết hợp đồng mua bán với các khách hàng quen thuộc
đã không dự tính được những thiệt hại có thể xảy ra để có biện pháp phòng ngừa cũng
như khắc phục.
SVTH: Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Lớp: K8CT2
24
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Phạm Tuấn Anh
- Do sự biến động về tỷ giá đặc biệt là giữa VNĐ và USD gây ra khó khăn cho
khách hàng trong việc thanh toán hợp đồng. Khách hàng này là một số công trình,
hạng mục công trình mà có vốn đầu tư của nước ngoài.
- Do khách hàng chưa chứng minh được khả năng thanh toán, năng lực tài
chính để xin cấp tín dụng thương mại. Nhiều khách hàng giấu thông tin thật, dung
khoản nợ tín dụng của công ty để thanh toán cho nơi khác gây nhiều rủi ro cho doanh
nghiệp.
Khi phát sinh các khoản thu khó hồi tất nhiên sẽ gây ảnh hưởng đến doanh