TÓM LƯỢC
Phản ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh là yêu cầu tất yếu đặt ra cho
doanh nghiệp.Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
trong và ngoài nước càng trở nên mạnh mẽ hơn.Những rủi ro luôn tiềm ẩn trong môi
trường kinh doanh.Chính vì vậy, công tác nghiên cứu nhằm hoàn thiện công tác quản
trị rủi ro là tất yếu, khách quan.Có như vậy mới đảm bảo được tính bền vững trong
kinh doanh, thích ứng được với sự thay đổi của môi trường kinh doanh phức tạp.
Trong thời gian thực tập tại Công Ty CP Đầu Tư Phát Triển Nhà Và Đô Thị Mới
Hà Nội, nhận thấy tầm quan trọng của công tác quản trị rủi ro với công ty trong thời
gian tới thông qua nghiên cứu tình hình thực tế tại công ty, em đã mạnh dạn thực hiện
khóa luận tốt nghiệp của mình với đề tài: “Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại
Công Ty CP Đầu Tư Phát Triển Nhà Và Đô Thị Mới Hà Nội”.
Khóa luận tốt nghiệp gồm phần mở đầu và 3 chương:
Phần mở đầu: Phần này trình bày cụ thể tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
trên, tổng quan tình hình nghiên cứu về công tác quản trị rủi ro của những luận văn,
khóa luận cùng đề tài những năm trước. Mục đích, phạm vi, phương pháp nghiên cứu
và kết cấu của đề tài này.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro, rủi ro trong kinh doanh, quản
trị rủi ro trong doanh nghiệp thương mại.
Chương này trình bày cụ thể khái niệm, cách tiếp cận và nội dung lý luận về rủi
ro, rủi ro trong kinh doanh và quản trị rủi ro trong doanh nghiệp. Phân tích những
nhân tố tác động đến công tác quản trị rủi ro trong doanh nghiệp.
Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro tại Công Ty
CP Đầu Tư Phát Triển Nhà Và Đô Thị Mới Hà Nội.
Chương này trình bày về công tác quản trị rủi ro tại Công Ty CP Đầu Tư Phát
Triển Nhà Và Đô Thị Mới Hà Nội. Thông qua nghiên cứu, phân tích và đánh giá
những dữ liệu sơ cấp và thứ cấp có liên quan đến công tác quản trị rủi ro của công ty
để đi đến những kết luận về thực trạng công tác quản trị rủi ro tại công ty.
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại
Công Ty CP Đầu Tư Phát Triển Nhà Và Đô Thị Mới Hà Nội.
Chương này trình bày những đề xuất, kiến nghị của cá nhân về công tác quản trị
MỤC LỤC
3
DANH MỤC BẢNG BIỂU
4
DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ
5
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GS.TS Giáo sư, Tiến sĩ
PGS.TS Phó giáo sư, Tiến sĩ
NXB Nhà xuất bản
CP Cổ phần
6
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường và những tiến bộ vượt
bậc của khoa học kỹ thuật. Việt Nam đã chính thức ra nhập và trở thành thành viên của
WTO, điều đó cũng có nghĩa mở ra cho chúng ta rất nhiều cơ hội và không ít thách
thức. Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt chính là một hệ quả tất yếu của quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế và nó cũng vừa là cơ hội, vừa là thách thức lớn cho bất kỳ doanh
nghiệp hay tổ chức nào ở Việt Nam, không ngoại trừ bất kể một lĩnh vực nào. Cơ hội
chỉ là tiềm năng và chỉ có thể đạt khi chúng ta phải nỗ lực vượt qua, đặc biệt là các
doanh nghiệp nhỏ và vừa của chúng ta. Các doanh nghiệp cần nhớ rằng không có cơ
hội kinh doanh nào là chắc thắng 100%, trong cơ hội đều ẩn chứa một xác suất nhất
định của sự bất trắc và thua thiệt, đó là những rủi ro có thể xảy đến. Những doanh
nghiệp thành công là những doanh nghiệp biết né tránh, hạn chế rủi ro và đồng thời
nắm bắt được các cơ hội kinh doanh một cách kịp thời. Ở các nước phát triển trên thế
giới công tác quản trị rủi ro đã được áp dụng rất phổ biến và được chú trọng cao. Còn
ở Việt Nam những năm trước kia, khi mà các biến động thị trường mang tính tích cực,
rất nhiều cơ hội, giao dịch kinh tế được thực hiện một cách dễ dàng và có lợi cho các
bên nên phần lớn các doanh nghiệp đều thấy mình thành công, dù ở cấp độ nhiều hay
các mẫu điều tra hay. Nhưng một số giải pháp đưa ra chưa phù hợp với thực tế công ty.
Tính thực tế áp dụng còn thiếu, hình thức trình bày chưa được khoa học.
Nguyên Thành Luân – lớp K43A6 – Đại Học Thương Mại với đề tài: “Giải
pháp phòng ngừa rủi ro tại Công Ty Dược Đông Âu”. Với đề tài này, tác giả cũng
đưa ra một hệ thống lý luận tương đối chặt chẽ và đầy đủ về các công tác liên quan
đến quản trị rủi ro, đặc biệt là công tác phòng ngừa rủi ro. Cũng đã nêu lên được thành
công và hạn chế của công tác quản trị rủi ro tại công ty dược Đông Âu. Nhưng luận
văn này vẫn còn những điểm yếu là chưa đi sâu nghiên cứu những nguyên nhân gây ra
những yếu kém trong công tác quản trị rủi ro của công ty.
Như vậy, đến thời điểm hiện tại chưa có cá nhân nào nghiên cứu đề tài “Hoàn
thiện công tác quản trị rủi ro tại Công Ty CP Đầu Tư Phát Triển Nhà Và Đô Thị
Mới Hà Nội ”. Sau khi xem xét cụ thể, em xin mạnh dạn nghiên cứu thực trạng công
tác quản trị rủi ro tại Công Ty CP Đầu Tư Phát Triển Nhà Và Đô Thị Mới Hà Nội, từ
đó có thể đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại công ty.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu đề tài là đưa ra được những giải pháp hoàn thiện công tác
quản trị rủi ro tại Công Ty CP Đầu Tư Phát Triển Nhà Và Đô Thị Mới Hà Nội ở thời
điểm hiện tại và định hướng trong giai đoạn tới. Để thực hiện mục tiêu này, nghiên cứu
đề tài cần đạt được một số mục tiêu cụ thể sau:
Thứ nhất: làm rõ được các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến công tác quản trị
rủi ro trong doanh nghiệp.
Thứ hai: phân tích và đánh giá được thực trạng công tác quản trị rủi ro tại Công Ty
CP Đầu Tư Phát Triển Nhà Và Đô Thị Mới Hà Nội từ năm 2010 đến quý II năm 2013.
Thứ ba: đề xuất được một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro
tại Công Ty CP Đầu Tư Phát Triển Nhà Và Đô Thị Mới Hà Nội trong thời điểm hiện
tại và định hướng đến năm 2018.
4. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: đề tài nghiên cứu công tác quản trị rủi ro tại Công Ty CP Đầu Tư
Phát Triển Nhà Và Đô Thị Mới Hà Nội và trong phạm vi hoạt động kinh doanh của
công ty.
Dữ liệu sơ cấp được xử lý trên phần mềm excel. Kết quả được thông kê, phân
tích và so sánh với phân tích thứ cấp. Những con số là cơ sở để phản ánh thực trạng
công tác quản trị rủi ro tại công ty.
Dữ liệu thứ cấp được thông kê, phân tích, so sánh. Đối chiếu lại với kết quả dữ liệu
sơ cấp để đi đến những quyết định chính xác về thực trạng công tác quản trị rủi ro tại công
ty, từ đó tìm nguyên nhân gây ra thực trạng trên và có hướng giải quyết phù hợp.
6. Kết cấu đề tài
Ngoài những phần tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh từ viết tắt, danh mục
bảng biểu, danh mục sơ đồ, hình vẽ, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, nội
dung của khóa luận được kết cấu thành ba chương:
9
Chương 1 : Một số vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro, rủi ro trong kinh doanh và
quản trị rủi ro trong doanh nghiệp thương mại.
Chương 2 : Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro tại Công Ty
CP Đầu Tư Phát Triển Nhà Và Đô Thị Mới Hà Nội.
Chương 3 : Đề xuất và kiến nghị hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại Công Ty
CP Đầu Tư Phát Triển Nhà Và Đô Thị Mới Hà Nội.
10
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG
DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Rủi ro
Khái niệm
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về rủi ro, chưa thống nhất thành một
định nghĩa chung nên có thể xem xét qua các tài liệu:
• Frank Knight, một học giả người Mỹ trong lĩnh vực bảo hiểm và quản trị rủi ro cho
rằng : “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được”.
• “Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến cố không
mong đợi” (Allan Wilett)
11
• Những nguyên nhân khách quan
- Những yếu tố bất lợi của môi trường kinh tế: Suy thoái kinh tế, lạm phát, thay đổi tỷ
giá hối đoái…
- Sự không ổn định chính trị, thay đổi thể chế, chính sách, luật pháp theo hướng bất lợi.
- Nhân tố từ môi trường văn hóa – Xã hội: trở ngại từ định chế xã hội, truyền thống,
thuần phong mỹ tục, tập quán, thói quen tiêu dùng, mua sắm, văn hóa ứng xử…
- Điều kiện tự nhiên bất lợi.
- Tình hình biến động của giá cả, khách hàng, nhà cung cấp.
• Những nguyên nhân chủ quan
- Sai lầm trong lựa chọn, triển khai thực hiện chiến lược, kế hoạch, chính sách cơ chế.
- Sai lầm trong ra quyết định và thực hiện quyết định.
- Thiếu kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm.
- Sơ xuất, bất cẩn, thiếu trách nhiệm.
- Thiếu sức khỏe, đạo đức, phẩm chất.
- Thiếu thông tin hay thông tin sai lệch.
- Tham nhũng, cửa quyền, quan liêu, sách nhiễu.
- ….
1.1.3 Quản trị rủi ro
Khái niệm: Quản trị rủi ro là sự nhận dạng, đo lường, kiểm soát các rủi ro có thể đe
dọa các loại tài sản và thu nhập từ dịch vụ chính hay từ các hoạt động sản xuất kinh
doanh chính của một ngành kinh doanh hay của một doanh nghiệp sản xuất.
2
Vai trò của quản trị rủi ro
• Giúp tổ chức hoạt động ổn định
• Giúp tổ chức thực hiện mục tiêu sứ mạng, thực hiện chiến lược kinh doanh.
• Giúp các nhà quản trị đưa ra quyết định đúng đắn.
1.1.4 Một số quan điểm về quản trị rủi ro
Theo quan điểm truyền thống
1.2.1 Phân loại rủi ro
Theo giáo trình Quản trị rủi ro và bảo hiểm trong doanh nghiệp của PGS/TS.
Nguyễn Quang Thu NXB Thống Kê – 2008, rủi ro có thể được phân loại theo nhiều
tiêu thức khác nhau.
Rủi ro không kèm theo tổn thất về tài chính
Thuật ngữ rủi ro bao gồm tất cả các tình huống trong đó có các nguy cơ rủi ro
hiện hữu. Trong một số trường hợp, rủi ro xảy ra có kèm theo tổn thất về tài chính,
nhưng một số trường hợp khác thì lại không.
Rủi ro động và rủi ro tĩnh
• Rủi ro động: rủi ro xuất hiện khi nền kinh tế bị thay đổi dẫn đến những tổn thất cho
công ty. Chẳng hạn, nếu chúng ta không giữ được thị phần và khách hàng ổn định,
không giữ được chi phí và thu nhập ổn định, công nghệ ổn định… Hậu quả sẽ làm cho
một số cá nhân phải gánh chịu thiệt hại về tài chính. Rủi ro động còn bao gồm một số
tổn thất khác không phai do nguyên nhân thay đổi của nền kinh tế như: thiên tai, sự lừa
đảo của một cá nhân….Không giống như rủi ro tĩnh, rủi ro động không đem lại lợi ích
cho xã hội. Rủi ro động bao gồm cả sự hư hỏng tài sản, hoặc một sự chuyển đổi sở hữu
tài sản. Kết quả của sự lừa đảo hay sự phá sản của con người. Vì rủi ro động rất nguy
hiểm nên nó thường xuyên được giảm thiểu bằng phương pháp bảo hiểm.
• Rủi ro tĩnh: rủi ro tĩnh là kết quả của sự thay đổi trong nền kinh tế. Thí dụ việc thay
đổi mức giá, thay đổi sở thích của người tiêu dùng, thay đổi thu nhập, thay đổi kỹ
thuật công nghệ….dẫn tới hậu quả tổn thất về tài chính của các thành phần trong nền
kinh tế. Rủi ro tĩnh có thể ảnh hưởng đến nhiều cá nhân vì họ thường chủ quan cho
rằng nó không nguy hiểm bằng rủi ro động.
Rủi ro căn bản và rủi ro cá biệt
13
• Rủi ro căn bản: bao gồm các thiệt hại thông phàm về nguồn gốc và hậu quả. Đó là các
rủi ro, nguyên nhân của hầu hết các hiện tượng kinh tế, xã hội, chính trị. Nó tác động
trên một vùng rộng lớn hau tất cả dân số. Nhìn chung rủi ro căn bản không roi vào cá
biệt một ai cả. Do vậy toàn xã hội sẽ phải có trách nhiệm loại trừ loại rủi ro này. Một
số rủi ro căn bản được giảm hoặc loại trừ bằng phương pháp bảo hiểm qua các công ty
ra có liên quan đến các vấn đề pháp lý.
• Nguy cơ rủi ro con người: rủi ro liên quan đến “ tài sản con người” có thể gây
tổn thương cho cá nhân, nhân sự của một tổ chức, bao gồm: các khách hàng,
nhà cung cấp, chủ nợ, cổ đông, nhà quản lý và người lao động.
14
Nguồn rủi ro
Đứng trên quan điểm nghiên cứu khác nhau, người ta sẽ phân nguồn rủi ro thành
nhiều loại khác nhau. Nhìn chung, nguồn rủi ro có thể được phân thành:
• Rủi ro kinh tế: rủi ro kinh tế thường ảnh hưởng của môi trường chính trị, và
ngược lại. Đây là loại rủi ro vĩ mô. Các rủi ro kinh tế có thể là:
- Suy thoái kinh tế: sức mua của các cá nhân giảm làm cho doanh thu của doanh
nghiệp bị giảm
- Lạm phát
- Mất khả năng thanh toán do tỷ lệ nợ ngắn hạn lớn hơn mức dự trữ ngoại tệ
- Dự trữ ngoại tệ nhỏ hơn kim ngạch nhập khẩu
- Nợ nước ngoài lớn hơn GDP
• Rủi ro về chính trị: các chính sách và đường lối phát triển kinh tế xã hội của
một đất nước cũng là một nguồn rủi ro tiềm năng vô cùng quan trọng, vì nó có
ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của các tổ chức. Đây cũng là loại rủi ro vĩ mô,
bao gồm:
- Chính sách phát triển kinh tế xã hội, chính sách về thuế, hạn ngạch và các giới
hạn thương mại khác
- Chính sách tài chính, lưu thông tiền tệ, kiểm soát (Ngoại hối, lãi xuất)
- Chính sách lao động và tuyển dụng lao động
- Chính sách môi trường, sức khỏe
• Rủi ro pháp lý: rủi ro pháp lý là các rủi ro có liên quan đến vấn đề pháp lý kiện
tụng, làm hao tổn sức người và tài sản như.
- Vi phạm hợp đồng kinh tế hoặc đầu tư
- Tranh chấp hàng hóa, nhãn hiệu và thương hiệu
- Bồi thường khiếu nại đối với khách hàng
- Ý thức của mỗi người về sự nguy hiểm
- Sự bất cẩn của con người gây tai nạn chết người
- Không tuân thủ những quy định về an toàn lao động
- Than nhũng
- Lười biếng
- Biển thủ
• Môi trường vật chất: Môi trường xung quanh ta là moi trường vật chất, vì vậy
nó có ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ cuộc sống và sinh hoạt của tổ chức. Các
nguồn rủi ro vật chất có thể là:
- Thiên tai
- Động đất
- Sóng thần
- Bão lũ, gió mùa
1.2.2.2 Phân tích rủi ro
Mục tiêu của đo phân tích rủi ro
• Để hiểu biết và đánh giá chúng
• Để tính các chi phí giảm thiểu rủi ro và các khoản bồi thường tổn thất
• Để kiểm soát các rủi ro và tổn thất
Các yếu tố của rủi ro
Mỗi nguy cơ rủi ro có hai yếu tố:
• Đối với rủi ro thuần túy:
- Tần số của các tổn thất có thể xảy ra
- Mức độ nghiêm trọng của các tổn thất này
• Đối với rủi ro suy đoán
- Tấn số của các kết quả tiêu cực và tích cực
- Mức độ nghiêm trọng hay độ lớn của kết quả
Phương pháp đo lường rủi ro
16
Theo PSG. TS Nguyễn Quang Thu (Quản trị rủi ro và bảo hiểm trong doanh
nghiệp, 2008), sử dụng thang đo định tính như thang đo ảnh hưởng và thang đo khả
Từ thang đo khả năng xảy ra trên, doanh nghiệp xác định các rủi ro có thể xảy ra
trong hoạt động của doanh nghiệp sẽ ở bậc nào.
• Sắp xếp thứ tự ưu tiên
Kết hợp thang đo ảnh hưởng và thang đo khả năng xảy ra trên cùng một bảng rồi
sắp xếp thứ tự ưu tiên các rủi ro. Ta phải ưu tiên giải quyết các rủi ro có tiềm năng tổn
thất cao đó là các rủi ro có ảnh hưởng trung bình, nhiều, nghiêm trọng với xác suất
được xếp ở ba nấc thang đầu.
17
Bảng 1.3: Bảng sắp xếp thứ tự ưu tiên của các rủi ro
Ảnh hưởng
Xác suất
Không
đáng kể
Ít Trung
bình
Nhiều Nghiêm
trọng
Hầu như chắc chắn
xảy ra
Trung bình Trung bình Cao Cao
Dễ xảy ra Thấp Trung bình Trung bình Cao
Có thể xảy ra Thấp Trung bình Trung bình Cao Cao
Khó xảy ra Thấp Trung bình Trung bình Cao
Hiếm khi xảy ra Thấp Thấp Trung bình Cao
1.2.2.3 Kiểm soát rủi ro
Khái niệm
Theo PSG. TS Nguyễn Quang Thu (Quản trị rủi ro và bảo hiểm trong doanh
nghiệp, 2008), tăng cường kiểm soát rủi ro sẽ giúp các công ty tránh được rủi ro, ngăn
ngừa tổn thất, giảm thiểu thiệt hại nếu có rủi ro xảy ra hay giảm thiểu những ảnh
hưởng không mong muốn của rủi ro tới công ty.
Các hoạt động ngăn ngừa rủi ro thường tập trung vào:
- Thay thế hoặc sửa đổi mối nguy hiểm.
- Thay thế hoặc sửa đổi môi trường nơi mối nguy hiểm tồn tại
- Can thiệp vào quy trình tác động lẫn nhau giữa nguy hiểm và môi trường
Giảm thiểu tổn thất
Các biện pháp giảm thiểu tổn thất tấn công vào các rủi ro bằng cách làm giảm
bớt giá trị hư hại khi tổn thất xảy ra (tức giảm nhẹ sự nghiêm trọng của tổn thất).
Những hoạt động giảm thiểu tổn thất là những biện pháp sảu khi thất đã xảy ra.
Mặc dù những biện pháp này được đặt ra trước khi một tổn thất nào đó xuất hiện
nhưng mục đích của những biện pháp này làm giảm tác động của tổn thất một cách
hiệu quả nhất. Những chương trình giảm thiểu tổn thất là sự thỏa thuận ngầm trong
quản trị rủi ro rằng một vài tổn thất nào đó có thể xảy ra dù cho đã có những cố gắng,
nỗ lực hết sức của tổ chức.
1.2.2.4 Tài trợ rủi ro
19
Tài trợ trước tổn thất
Tài trợ trước tổn thất là khoản tiền dùng để bù đắp (hay cứu trợ) một phần tổn
thất xuất hiện, nó được chi cho các hoạt động nhằm giảm thiểu và ngăn ngừa rủi ro.
Các rủi ro không thể ngăn ngừa và kiểm soát sẽ được tài trợ. Hoạt động tài trợ phụ
thuộc vào một số yếu tố sau:
- Nguồn tài trợ của một tổ chức
- Loại hình kinh doanh của tổ chức đó
- Loại nguy cơ rủi ro của tổ chức đó và kinh nghiệm về những tổn thất tương tự
trong quá khứ
- Tổ chức đó là người chuyển giao rủi ro hay là người nhận rủi ro.
Phương pháp phân loại rủi ro được phân loại dựa trên cơ sở chi phí sử dụng tài
trợ tổn thất. Có hai phương pháp tài trợ cơ bản là lưu trữ rủi ro và chuyển giao rủi ro.
Tài trợ tổn thất
Lưu trữ tổn thất
Chuyển giao tổn thất
- Chi phí thanh toán cho người bảo hiểm
- Một khoản chi trả có điều kiện thanh toán theo tình huống xác định trong hợp
đồng bảo hiểm.
- Có nguồn quỹ do người bảo hiểm nắm giữ để thanh toán các khiếu nại bồi
thường .
Tài trợ sau tổn thất
• Các nguồn tài trợ sẵn có sau tổn thất: Nếu một doanh nghiệp chọn phương án
tái đầu tư sau tổn thất, nó phải có nguồn tài trợ. Tài trợ có thể được bảo đảm
trước tổn thất tương lai bằng bảo hiểm. Các doanh nghiệp thường gặp khó
khăn về tài chính khi có nhu cầu tài trợ sau tổn thất. Có nhiều nguồn tài trợ sau
tổn thất như: vay ngắn hạn, vay dài hạn, huy động vốn dưới hình thức cổ phần.
21
Khi doanh nghiệp sử dụng phương án tài trợ sau tổn thất bằng nguồn vốn vay
thì doanh nghiệp phải tính được mức nợ hợp lý nhất. Tiền mặt và chứng khoán
ngắn hạn là nguồn sẵn có quan trọng để tài trợ sau tổn thất.
• Nguồn vốn vay ngoài: Một phương án khác là huy động nguồn vốn bên ngoài
bằng phát hành nợ (dưới hình thức trái phiếu) hay phát hành cổ phần mối. Chi
phí tài trợ nguồn vốn sau tổn thất sẽ cao hơn nhiều so với chi phí vốn trước tổn
thất. Chi phí tăng cao biểu hiện rủi ro tăng lên.
1.2.3 Tầm quan trọng của quản trị rủi ro
Trong môi trường kinh doanh hiện nay luôn tiềm ẩn những rủi ro đe dọa đến sự
phát triển của các doanh nghiệp. Nếu các doanh nghiệp không có quy trình quản trị rủi
ro tốt rất có thể họ sẽ gặp những rủi ro đó và phải chịu những tổn thất từ nó gây ra. Đó
là một điều không tốt, bởi từ những tác động của nó có thể dẫn đến tình hình khó khăn
cho doanh nghiệp và rất có thể sẽ dẫn tới phá sản. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu năm 2008 đã minh chứng tầm quan trọng của quản trị rủi ro và đặt ra các yêu cầu
về sự cần thiết thực hiện quản trị rủi ro trong doanh nghiệp hiện nay.
Giúp doanh nghiệp ổn định
Trong quá trình kinh doanh, việc một doanh nghiệp hoạt động ổn định có ý nghĩa
rất lớn, việc hoạt động ổn định cũng có nghĩa các bộ phận trong doanh nghiệp đã hoạt
Là môi trường vĩ mô ảnh hưởng lớn đến công tác quản trị rủi ro của doanh
nghiệp. Kinh tế thị trường thay đổi có thể dẫn đến doanh nghiệp thay đổi ngành nghề
kinh doanh. Khi đó công tác quản trị rủi ro đòi hỏi phải có sự thay đổi để đáp ứng yêu
cầu.Sự thay đổi chậm chạp sẽ có thể dẫn đến việc tiếp cận thị trường khách hàng sẽ
gặp nhiều khó khăn. Đôi khi đưa sứ mệnh kinh doanh theo một hướng khác hay che
mất tầm nhìn của doanh nghiệp. Thêm nữa doanh nghiệp là một tế bào cấu thành nên
một nền kinh tế lớn, khi môi trường sống thay đổi đòi hỏi doanh nghiệp phải thay có
sự thay đổi để thích nghi với môi trường mới. Nhưng cần lưu ý rằng, không phải bất
kỳ những thay đổi nào ở môi trường kinh tế vĩ mô cũng dẫn đến sự thay đổi trong công
tác quản trị rủi ro của doanh nghiệp. Chỉ những thay đổi lớn, quan trọng và có tầm ảnh
hưởng đến sự sống còn của doanh nghiệp mới dẫn đến sự thay đổi trong công tác quản
trị rủi ro trong doanh nghiệp mà thôi .
Chính trị – Pháp luật
Là một yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản trị rủi ro của doanh
nghiệp. Chính trị bất ổn, bạo động, chiến tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải có công tác
quản trị rủi ro tốt, linh hoạt trước các biến động của pháp luật. Các văn bản pháp luật
thông thoáng, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho
doanh nghiệp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro. Chính trị, pháp luật sẽ là yếu tố để
doanh nghiệp hoạt động trong khuôn khổ.
Văn hóa
Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ
những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống
và lao động.
Rủi ro do môi trường văn hoá là những rủi ro do sự thiếu hiểu biết về phong tục
tập quán tín ngưỡng, lối sống, nghệ thuật, đạo đức…của dân tộc khác từ đó dẫn đến
cách hành xử không phù hợp, gây ra những thiệt hại, mất mát, mất cơ hội kinh doanh.
Môi trường tự nhiên
23
Đây là nhóm rủi ro do các hiện tượng thiên nhiên như: Động đất, núi lửa, bão, lũ
lụt, sóng thần, sét đánh, sương muối…gây ra. Những rủi ro này thường dẫn đến những
nhiều thách thức. Khách hàng là người tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp,
là một yếu tố quyết định đầu tư của sản phẩm. Thực tế đã chứng minh rằng các doanh
nghiệp có chiến lược và kế hoạch đầu tư hiệu quả nguồn lực cho việc nâng cao giá trị
khách hàng thì thường là các doanh nghiệp dành được thị phần lớn trong thương
trường. Nhu cầu của khách hàng ngày càng cao, họ yêu cầu chất lượng sản phẩm hàng
hóa ngày càng cao hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ hậu mãi tốt hơn, họ ngày càng có nhiều sự
24
lựa chọn đối với cùng một loại hàng hoá hay dịch vụ. … Đó là sức ép rất lớn đối với
doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần phải ý thức được sự tồn tại và phát triển của họ
phụ thuộc vào việc có giành được khách hàng không, có thoả mãn được những yêu cầu
thay đổi của họ không và có duy trì được lòng trung thành của khách hàng không ?.
Doanh nghiệp tồn tại và phát triển không vì lợi nhuận trước mắt mà phải vì một lợi nhuận
lâu dài và bền vững. Với vai trò là người tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp, chỉ có khách
hàng mới đảm đương được vai trò này. Bởi vậy tìm hiểu kỹ khách hàng, xác định nhu cầu
cần thỏa mãn của họ, thực hiện các chiến lược nhằm thu hút và tìm hiểu thông tin về
khách hàng là căn cứ vô cùng trọng yếu trong việc xây dựng các chính sách và chương
trình phát triển doanh nghiệp nói riêng và công tác quản trị rủi ro nói chung.
Biến động cung cầu giá cả thị trường
Sự biến động của cung cầu, giá cả có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Nếu không có biện pháp ứng xử hợp lý khi giá cả thay đổi thì
sự thay đổi của giá cả sẽ tác động đến lượng chi phí mỗi bên phải bỏ ra cung như lợi
nhuận thu được từ đó giá cả hàng hóa có thể ảnh hưởng đến ý muốn thực hiện hợp
đồng của hai bên. Mặt khác trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì sự biến động của
cung cầu, giá cả hàng hóa là không tránh khỏi, do đó các doanh nghiệp tham gia kinh
doanh rất dễ gặp phải do giá cả thay đổi.
Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật
Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật bao gồm các phương tiên vận chuyển kho, bến
bãi, hệ thống thông tin quản lý, hệ thống mạng của công ty. Trong nền kinh tế hiện
nay, cơ sở vật chất cũng là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của
doanh nghiệp. Với một doanh nghiệp có được cơ sở vật chất cũng như công nghệ kỹ