SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN
LỊCH SỬ THPT”
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nội dung các khóa trình Lịch sử ở trường Trung học phổ thông là cung
cấp cho
học sinh những vốn hiểu biết phổ thông, cơ bản vững chắc về sự phát triển
của xã hội
loài người và dân tộc, làm cơ sở để rút ra những kết luận khoa học về
các quy luật vận
động, phát triển của xã hội; rút ra những bài học kinh nghiệm lịch
sử bổ ích. Giúp cho
học sinh nhận thức đúng con đường loài người đã, đang và sẽ
tiếp tục trải qua. Trên cơ
sở đó giúp học sinh dần hình thành thế giới quan khoa
học, góp phần tích cực vào việc
giáo dục đạo đức, niềm tin, truyền thống của dân
tộc.
Để dạy và học tốt môn Lịch sử ở hệ trung học phổ thông, giúp học sinh
yêu thích
môn học thật sự là công việc rất khó khăn. Trong khi sách giáo khoa Lịch
động
trong quá trình tiếp cận kiến thức. Dạy học nhằm phát huy tính chủ động, tích
cực lấy
“học sinh làm trung tâm” vẫn chưa được đẩy mạnh, hiệu quả thực hiện còn
thấp. Dẫn
đến trình độ của giáo viên, chất lượng học sinh không được nâng cao.
Kết quả kỳ thi tốt nghiệp môn Lịch sử, kỳ thi tuyển sinh đại học, các kỳ thi học
sinh giỏi cấp tỉnh, cấp Quốc gia nhiều năm cho thấy chất lượng môn Lịch sử có
nhiều biểu hiện giảm sút. Học sinh chưa nhận thức đúng đắn về môn học. Hầu hết
học
sinh đều quan niệm học lịch sử chỉ cần học thuộc lòng; chuẩn bị cho kỳ thi chỉ
là nhồi
nhét kiến thức, học tủ, học vẹt
Từ năm học 1996-1997, Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định hàng năm
đều tổ
chức cho học sinh THPT thi học sinh giỏi môn lịch sử. Nó thể hiện sự quan
tâm của
Nhà nước- Bộ Giáo dục về tác dụng của môn lịch sử trong việc bồi dưỡng,
giáo dục thế
hệ trẻ. Vậy, bằng cách nào để học giỏi và trở thành học sinh giỏi môn
lịch sử. Biện
pháp, phương pháp nào giúp các em đạt được điều mong ước đó?
bộ môn
lịch sử ở trường phổ thông không những vẫn giữ nguyên, mà còn cần phải
tăng thêm
vị trí cho nó. Trên quan điểm đó, nhà sử học Xô viết Pausutô khẳng
định: “Muốn
đào tạo con người phù hợp với thời đại chúng ta, cần phải không ngừng cải tiến và
nâng cao chất lượng dạy học lịch sử. Cuộc cách mạng khoa học-
kĩ thuật, sự hứng thú,
hấp dẫn ngày càng tăng đối với hiện tại không hề làm giảm
bớt sự chú ý của chúng ta
đối với việc dạy học lịch sử. Chính lịch sử là bằng chứng
hiển nhiên về sự toàn thắng
của công cuộc xây dựng, sáng tạo đối với sự tàn phá,
chiến thắng của hòa bình đối với
chiến tranh, sự gần gủi, hiểu biết của các dân tộc
về văn học và các mặt khác, khắc
phục tình trạng biệt lập”. {7; 18}
Đồng thời, UNESCO cũng công bố nhiều tài liệu về Phương pháp dạy học
lịch
sử như: Sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử, sử dụng các phương tiện kĩ
ngoại khóa, thực hành môn lịch sử ở
trường phổ thông, Phát triển tư duy học sinh
trong dạy học lịch sử
Gần đây, tháng 2 năm 1997 Vụ Trung học phổ thông ban hành tài liệu Tập
huấn
giảng dạy môn lịch sử dành cho cán bộ chỉ đạo và giáo viên chuẩn bị cho học
sinh
tham gia kỳ thi quốc gia. Giáo sư Phan Ngọc Liên đã có bài viết dài tới 23
trang:
“Một số vấn đề phương pháp bồi dưỡng học sinh học giỏi môn lịch sử ở
trường
THPT” đầy bổ ích. Trong bài viết này, Giáo sư đã đề cập đến hai điểm:
Cần nhận
thức đúng về học tập lịch sử; xác định phương pháp học tập giỏi môn
lịch sử, với các
biện pháp, con đường, phương tiện có hiệu quả cao.
Năm 1999, Hội giáo dục lịch sử (thuộc Hội khoa học lịch sử Việt Nam)-
Khoa Lịch sử trường Đại học sư phạm hà Nội) đã cho ra mắt bạn đọc tác phẩm của
tập
thể tác giả: Nguyễn Thị Côi, Trần Bá Đệ, Nguyễn Tiến Hỷ, Đặng Thanh Toán,
hướng dẫn học
sinh nắm chắc các đề thi cụ thể, mà trang bị cho các em những kiến
thức và phương
pháp cơ bản có thể ứng phó với mọi “tình hướng có vấn đề” trong
các kỳ thi”. {9 ;
tr3}.
3. Nhiệm vụ, mục tiêu nghiên cứu
3.1. Nhiệm vụ
Trình bày một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử.
Nêu, phân tích khả năng ứng dụng của từng biện pháp cho từng kiểu bài, đề
tài
lên lớp, cũng như một số biện pháp nhằm nâng chất lượng giáo viên trực tiếp
giảng
dạy.
3.2. Mục tiêu
Góp phần nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử khối
THPT chuyên.
Giúp cấp quản lý giáo dục, giáo viên, học sinh nhận thức đúng đắn vai trò
của
môn Lịch sử trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Trên cơ sở đó có cách thức
quản lý,
dạy - học sao cho hiệu quả nhất.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
chương
trình bồi dưỡng, dạy học sinh giỏi sao cho có hiệu quả nhất.
- Sáng kiến kinh nghiệm nêu lên quan điểm cần mạnh dạn cho phép học sinh được
tham gia nghiên cứu các công trình khoa học với thầy cô giáo; cần dạy học sinh
phương pháp học tập tích cực trước khi cung cấp kiến thức, giáo viên cần đưa ra
những quan điểm mới, nội dung khó mà từ trước tới nay giới sử học trong và ngoài
nước còn đang tranh luận để các em nhận định, đánh giá; quá trình dạy học chính
là quá trình rèn luyện về năng lực tư duy, phẩm chất đạo đức, chính trị cho học
sinh. Tránh những quan điểm của một số trường Trung học phổ thông chuyên bồi
dưỡng học sinh giỏi cốt chỉ đi thi giành giải cao.
- Ngoài ra, đây còn có thể là tài liệu cho các trường THPT chuyên và giáo viên mới
ra
trường ít có kinh nghiệm giảng dạy, nhất là khi lại được giao đảm nhiệm việc
bồi
dươngc học sinh giỏi, tài năng.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN LỊCH SỬ
1.1. Chương trình sách giáo khoa, sách giáo viên khối 10, 11, 12
1.1.1 Chương trình sách giáo khoa lớp 10
* Về hệ thống kiến thức khối 10
Trong phần giới thiệu "mục tiêu chương trình giảng dạy lịch sử lớp 10" các
tác
giả viết: Lịch sử thế giới được đưa vào giảng dạy ở lớp 10 với yêu cầu chung là
cung
trải qua 5 thời kỳ lịch sử căn
bản: Thời kỳ nguyên thuỷ, thời kỳ cổ đại, thời kỳ
trung đại, thời kỳ cận đại và thời
kỳ hiện đại. Trong thực tế SGK đã giới thiệu bao
gồm 4/5 thời kỳ lịch sử, vì vậy yêu
cầu về mặt sư phạm đã bị phá vỡ trong việc
phân bổ chương trình.
Chính vì sai lầm đó, nên dù cố gắng biên soạn lại, SGK Lịch sử lớp 10 vẫn
không tránh khỏi sự ôm đồm không cần thiết. Thậm chí cßn gây mâu thuẫn trong
việc
dạy và học của giáo viên và học sinh: Học sinh chỉ được học 1 tiết/ tuần (học
kỳ I) và
2 tiết/ tuần (học kỳ II) nhưng phải gánh một khối lượng kiến thức lớn.
* Về nội dung kiến thức
Mặc dù đã cố gắng sửa chữa, nhưng nội dung kiến thức SGK vẫn cßn
thiên về
kể lể các sự kiện, thậm chí quá rườm rà, hành văn không hấp dẫn. Một bài
học sinh
phải nhớ đến 10 hoặc có bài phải nhớ tới 20 sự kiện không cần thiết. Gây
tâm lý nhàm
chán, cho học sinh ( ví dụ Bài 19 tr. 96 SGK cơ bản lớp 10).
Một số bài về kiến thức cßn sai lầm nghiêm trọng: Thể hiện ở các bài 29
của các nô lệ ở các
bang thuộc địa miền Nam lúc bấy giờ là một trong những "đặc điểm của quá trình
tích luỹ nguyên thuỷ TBCN". Quá trình khách quan này dĩ
nhiên là tàn bạo, nhưng
là tiền đề không thể thiếu đối với sự ra đời của chủ nghĩa tư
bản. Tuyên ngôn độc lập
của 13 bang thuộc địa Bắc Mĩ không thể có chuyện hạn
chế được! Lưu ý, đây là tuyên
ngôn của cuộc cách mạng Tư sản chứ không phải là
tuyên ngôn của cuộc cách mạng
vô sản. Do đó khi dạy học đến phần này giáo viên
không nên buộc học sinh phải chỉ ra
những điểm hạn chế của Tuyên ngôn.
Về "Cách mạng tư sản Pháp": Về mốc kết thúc, vẫn có hai quan điểm,
thể hiện
trong giáo trình đại học và cao đẳng. Quan điểm thứ nhất, lấy cuộc đảo
chính tháng
Nóng (27/7/1794) làm mốc cuối và quan điểm thứ hai lấy cuộc chính
biến ngày 18
tháng Sương mù (9/11/1799) làm mốc kết thúc. Sự tồn tại của hai
Bằng chứng, khi theo lưỡi gươm của quân Liên minh trở về cầm quyền
ở Pháp, Lui
XVIII buộc phải công bố một bản Hiến chương lập hiến (một bản hiến
Pháp do nhà vua
ban) thừa nhận những thành quả cơ bản của cách mạng như: Xoá
bỏ chế độ đẳng cấp,
công nhận quyền sở hữu ruộng đất đã được xác lập trong quá
trình cách mạng. Đây là
một sai lầm đáng tiếc, mà nếu giáo viên không nắm chắc
kiến thức thì dễ thể nhầm lẫn.
1.1.2. Chương trình lịch sử lớp 11
Ở chương trình Lịch sử khối 11ban cơ bản: 1 tiết x 35 tuần = 35 tiết. Trong
đó:
- Lịch sử thế giới cận đại (phần tiếp theo chương trình lịch sử lớp 10): 8 tiết;
- Lịch sử thế giới hiện đại (phần 1917- 1945): 11 tiết;
- Lịch sử Việt Nam từ 1858- 1918: 11 tiết;
- Lịch sử địa phương: 1 tiết;
- Củng cố kiểm tra 4 tiết.
Qua việc xây dựng chương trình lớp 11 cơ bản, chúng ta nhận thấy những
ưu
điểm như: về cấu tạo và phân kỳ lịch sử đều đảm bảo nguyên tắc phân kỳ theo
học
thuyết hình thái kinh tế xã hội của chủ nghĩa Mác- Lênin; đảm bảo tính toàn
tập các sự kiện lịch sử cơ bản theo hệ thống kiến
thức dưới đây”: Thời gian, sự kiện,
diễn biến chính, kết quả, ý nghĩa. Điều đáng
ngạc nhiên là Giáo sư Phan Ngọc Liên
(Tổng Chủ biên kiêm Chủ biên) đã đưa sự
kiện cách mạng Dân chủ tư sản tháng 2
-1917 (diễn biến chính): Tổng bãi công
chính trị ở Pê- tơ- rô- grát, Khởi nghĩa vũ
trang, Nga Hoàng bị lật đổ vào phần
Lịch sử thế giới hiện đại. Không hiểu tác giả
lấy căn cứ nào? Nếu theo cách thức
phân kỳ Lịch sử thế giới hiện đại được đông đảo
giới sử học trong và ngoài nước
chấp nhận nhất thì mốc khởi đầu cho Lịch sử thế
giới hiện đại bắt đầu khi Cách
mạng tháng Mười Nga thành công, nhà nước Xô viết
đầu tiên trên thế giới xuất
hiện. hoặc ít ra là Đại chiến thế giới thứ nhất (1914-1918)
kết thúc. Đó là chư kể
đến sự nhầm lẫn cả về nội dung lẫn phương pháp. Ví dụ: Khởi
Quốc tế.
Bên cạnh đó Chương trình gắn liền với chính trị, nhiều sự kiện chịu ảnh hưởng
chi phối nhiều yếu tố chính trị. Điều đó tác động đến bài giảng, thi cử. Vì vậy, dạy
lịch sử 12 giáo viên phải chịu áp lực lớn hơn so với dạy sử khối 10 và 11,
nhưng yêu
cầu về nhận thức đßi hỏi cao hơn khối 10, khối 11.
Theo Tiến sĩ Hà Thị Minh Thuỷ trường Đại học sư phạm Thái Nguyên thì:
“Phần Lịch sử Việt Nam trong SGK Lịch sử 12 (mới) là phần Lịch sử Việt Nam từ
1919 đến nay. Đây là giai đoạn lịch sử rất gần với chúng ta, có nhiều sự kiện đang
tiếp
diễn. Thực tế học sinh đã học giai đoạn này ở lớp 9, đến lớp 12 học sinh tiếp
tục
được bổ sung một số kiến thức cần thiết và nâng cao hơn sự nhận thức về sự
kiện,
nhân vật lịch sử.
So với chương trình và SGK Lịch sử lớp 12 cũ (sách viết cách đây 16 năm do
GS
Đinh Xuân Lâm chủ biên), phần Lịch sử Việt Nam có nội dung kéo dài thêm 10
năm
(SGK cũ chỉ viết đến năm 1991, SGK mới viết đến năm 2000), nhưng với số
tiết học
giảm 1 tiết đối với chương trình nâng cao (39/40 tiết), giảm 8 tiết đối với
Như vậy, ta thấy rõ ràng sách giáo khoa, sách giáo viên không thể làm chổ
dựa
cho học sinh học tốt môn Lịch sử, càng không thể giúp giáo viên nâng cao
trình độ
và phương pháp dạy học.
1.2. Thực trạng dạy và học hiện nay
Theo GS Đinh Xuân Lâm đăng trên dantri.com.vn: “Lịch sử là môn khoa
học
góp phần đạo tạo nhân cách con người. Đối với học sinh càng nhỏ càng tiếp
cận lịch
sử càng có ấn tượng sâu sắc. Cùng với tuổi lớn lên của các em thì kiến
thức đó ngày
càng sâu rộng nên tôi cho rằng học lịch sử rất quan trọng… Nhưng
hiện nay, vấn đề
học lịch sử ở trường phổ thông chưa được coi trọng”.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, một phần là do cấp quản lý, giáo viên,
phụ
huynh và học sinh chưa nhận thức được vai trò, vị trí của môn học trong
Chương
trình giáo dục phổ thông. Hay nói cách khác là xu hướng hiện nay đang
thiên về học
Trên cơ sở đó, chúng tôi đã đưa ra một số biện pháp, giải pháp nhằm nâng
cao
chất lượng dạy học môn lịch sử, nhất là trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi,
tài
năng.
CHƯƠNG 2
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
2.1. Xây dựng và thống nhất chương trình bồi dưỡng
2.1.1. Đối với Ban biên soạn sách giáo khoa
Về hệ thống kiến thức trong Chương trình sách giáo khoa lịch sử lớp 10, 11,
12
hệ cơ bản nên xắp xếp lại để tiện cho việc giảng dạy và học tập của học sinh,
tránh
sự ôm đồm không cần thiết.
Về nội dung các bài viết cần nên lược bớt phần diễn biến. Tốt nhất các bài
nên tập trung vào những vấn đề mấu chốt, làm rõ trọng tâm.
Đối với việc dạy về thời kỳ lịch sử Trung đại, nhất là về các triều đại nên
cho
các em thấy những ưu điểm và hạn chế của triều đại đó. Tức cho các em thấy
được những chính sách đúng đắn,và sai lầm của triều đại dẫn đến sự hưng khởi, diệt
vong. Đồng thời cần phải chỉ ra lực lượng nào trong xã hội làm nên lịch sử.
Tốt nhất để hệ thống lại kiến thức SGK không chỉ có nhiệm vụ tóm tắt lại
những gì đã học (Theo kiểu ôn tập chương) mà cần đưa ra những so sánh, nhận xét
lịch
được mục tiêu
giáo dục. Đó là mục tiêu về kiến thức, về kĩ năng, về
tư tưởng tình cảm. Trong quá
trình bồi dưỡng học sinh giỏi chúng ta
đang chú trọng vào việc nâng cao kiến thức,
và kĩ năng cho học sinh.
Để thực hiện được mục tiêu giáo dục, chúng ta gặp phải
một khó
khăn rất lớn, đó là việc Bộ Giáo dục và Đạo tạo chưa thể xây dựng
một
chương trình giáo dục đặc biệt dành cho học sinh giỏi, tài năng
ở tất cả các môn
học, trong đó có môn Lịch sử. Vụ Trung học phổ
thông chỉ dừng lại ở việc ban
hành Tài liệu Hội nghị tập huấn giảng
dạy môn Lịch sử dành cho cán bộ chỉ đạo và
giáo viên chuẩn bị cho
học sinh tham gia kỳ thi Quốc gia. Thành thử, để bồi dưỡng
học sinh
giỏi, học sinh tài năng, các trường THPT nói chung, trường chuyên
nói
mà
dân tộc Việt Nam đã lựa chọn.
Xây dựng Chương trình phải có sự tham gia của các chuyên gia
đầu ngành và
những giáo viên đã và đang đào tạo học sinh giỏi cấp
quốc gia, quốc tế ở trường THPT
trên khắp cả nước
2. 2. Tăng cường nghiên cứu khoa học
Một thực tế dễ nhận thấy trong hệ thống các trường THPT
chuyên hiện nay
là việc rèn luyện, nâng cao năng lực nghiên cứu
khoa học của giáo viên, học sinh
rất thấp. Nghiên cứu khoa học là
một trong những năng lực không thể thiếu của
một giáo viên. Bởi,
dạy học là một khoa học, nhưng đồng thời cũng là một nghệ
thuật.
Đối với việc dạy học Lịch sử, nhất là việc đáp ứng nhu cầu học tập
của học
sinh giỏi, tài năng, thì giáo viên hơn ai hết cũng cần phải có,
và phải được trang bị
nghiên cứu. Đồng thời, Hội đồng khoa
học sẽ tiến hành kiểm tra, đánh giá và khen
thưởng một cách nghiêm
túc kết quả đạt được của các tập thể, cá nhân đã có thành
tích xuất
sắc trong nghiên cứu khoa học cũng như công bố kết quả nghiên
cứu
khoa học trên các tạp chí, đặc san khoa học của trường, của
tỉnh, và các tạp chí
Trung ương khác.
Học sinh giỏi cần phải được giáo viên hướng dẫn nghiên cứu
những chuyên đề
nằm trong chương trình học và thi học sinh giỏi.
Đến lượt mình, giáo viên cần được
hướng dẫn, được bồi dưỡng và tự
bồi dưỡng chuyên môn, năng lực, phương pháp
nghiên cứu khoa học
một cách bài bản, thực chất bởi chuyên gia đầu ngành với những
khóa
học ngắn ngày hoặc dài ngày.
Kiến thức, kĩ năng học sinh được trang bị đi thi, đó không chỉ
là kiến thức,
cứu khoa học, ứng dụng các thành
tựu khoa học công nghệ phù hợp với điều kiện
của trường và tâm
sinh lý học sinh. Đây là một quá trình có thể nói là sự tương tác
mang tính tích cực giữa thầy và trò trong quá trình dạy học.
Như thế, dạy và học là hai mặt thống nhất, biện chứng của quá
trình dạy học.
Trong đó hoạt động dạy chỉ đạo hoạt động học. Để
nâng chất lượng của công việc
dạy học sinh giỏi nói chung, bộ môn
Lịch sử nói riêng đòi hỏi ở người giáo viên
không chỉ có chuyên
môn giỏi, phương pháp dạy học tốt, mà còn đòi hỏi cả người
học
phải biết phương pháp học. Vì thế giáo viên cần phải dạy phương
pháp học
cho học sinh. Khi đã có phương pháp học thì học sinh mới
biết vận dụng vào quá trình học và nghiên cứu theo trình tự tư duy
lôgíc và có khoa học. Giáo viên không
chỉ truyền thụ những tri thức
có sẵn, mà phải biết định hướng, tổ chức, hướng dẫn
đỡ nhau trong học tập thì
kết quả bồi dưỡng sẽ không cao.
Dạy phương pháp học tập tích cực phải đồng thời diễn ra trong
suốt quá trình giáo
dục. Để các em thay đổi phương pháp học, đòi
hỏi sự nổ lực, tâm huyết của giáo
viên, nhà trường, đồng thời phải
xây dựng động cơ học tập đúng đắn cho học sinh.
2.3.2 Phát huy tư duy, sáng tạo và tính chủ động của học sinh
Dạy học là một quá trình sáng tạo, dạy học mang tính chất
khám phá. Vậy,
bằng cách nào để phát huy tư duy sáng tạo và chủ
động của học sinh? Đây là vấn
đề hoàn toàn không có gì mới mẻ đối
với việc dạy Lịch sử ở các nước có nền giáo
dục phát triển. Song,
với Việt Nam trong quá trình dạy học, nhiều giáo viên, thậm
chí là
giáo viên giỏi vẫn là người “phát thanh” lại những kiến thức, nội
dung trong
sách giáo khoa, và các tài liệu khác. Cao hơn một chút
là giáo viên vừa cung cấp
cấp tỉnh, khu vực và cấp quốc gia.
Thứ hai, giới thiệu, hướng dẫn tư liệu đọc thêm cho học sinh,
để làm sao các
em có một bộ sách tham khảo hoàn chỉnh. Quan trọng
nhất là các tài liệu có liên quan
đến Kỳ thi học sinh giỏi Quốc gia,
những công trình vừa được công bố có những quan
điểm mới tiến bộ.
Thứ ba, thường xuyên kiểm, tra đánh giá ý thức, kết quả học
học tập của các
em. Bổ sung vào đội tuyển những sinh thực sự có
năng lực, trình độ và thải loại
những học sinh không đủ năng lực.
Giáo viên cần phải nắm bắt được thế mạnh và
điểm yếu của từng
học sinh, trên cơ sở đó đưa ra phương pháp dạy học, thời gian
bồi
dưỡng thích hợp.
Thứ tư, chú ý phát hiện những học sinh có năng khiếu vượt
trội để có kế
hoạch đào tạo, bồi dưỡng riêng. Thực tế, đối với trường
chuyên học sinh chủ yếu là
chứ không phải là tên
chuyên đề, hay một số câu hỏi nằm trong chuyên đề đó.
Thứ bảy, trong quá trình lên lớp giáo viên có thể sử dụng rất
nhiều phương
pháp dạy học. Bởi các phương pháp này đều có
những mặt mạnh và hạn chế của
nó. Vấn đề ở chổ là biết khai thác,
vận dụng một cách phù hợp, làm sao nó phải
hướng tới mục đích
thúc đẩy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong
việc
tiếp thu, khám phá tri thức. Một trong những phương pháp có hiệu
quả nhất
trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi Quốc gia là phương
pháp dạy học nêu vấn đề.
Giáo viên phải dẫn dắt học sinh vào một
tình huống có vấn đề, một tình huống mâu
thuẫn. Tình huống này cần
rõ ràng, sau đó tổ chức hướng dẫn và tạo điều kiện gợi
mở, cung cấp
một số sự kiện làm nảy sinh và giải quyết vấn đề [10; tr60].Ví dụ,
đã đưa cách mạng vô
sản từ những nước có nền công nghiệp phát
triển, giai cấp công nhân, phong trào
công nhân thực sự lớn mạnh
vào một nước Nga “chỉ là một nước tư bản chủ nghĩa
phát triển trung
bình. Chủ nghĩa tư bản Nga phát triển muộn ngày càng lạc hậu và
lệ
thuộc vào các nước phương Tây” [13; tr9] thành công, thì Nguyễn
Ái Quốc đã
phát triển học thuyết của Mác bằng việc truyền bá một
cách có hiệu quả con đường cách mạng vô sản về một nước thuộc
địa. Điều đó đã làm chuyển biến phong trào
yêu nước và cách mạng