SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN
LỊCH SỬ THPT”
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nội dung các khóa trình Lịch sử ở trường Trung học phổ thông là cung
cấp cho
học sinh những vốn hiểu biết phổ thông, cơ bản vững chắc về sự phát triển
của xã hội
loài người và dân tộc, làm cơ sở để rút ra những kết luận khoa học về
các quy luật vận
động, phát triển của xã hội; rút ra những bài học kinh nghiệm lịch
sử bổ ích. Giúp cho
học sinh nhận thức đúng con đường loài người đã, đang và sẽ
tiếp tục trải qua. Trên cơ
sở đó giúp học sinh dần hình thành thế giới quan khoa
học, góp phần tích cực vào việc
giáo dục đạo đức, niềm tin, truyền thống của dân
tộc.
Để dạy và học tốt môn Lịch sử ở hệ trung học phổ thông, giúp học sinh
yêu thích
môn học thật sự là công việc rất khó khăn. Trong khi sách giáo khoa Lịch
động
trong quá trình tiếp cận kiến thức. Dạy học nhằm phát huy tính chủ động, tích
cực lấy
“học sinh làm trung tâm” vẫn chưa được đẩy mạnh, hiệu quả thực hiện còn
thấp. Dẫn
đến trình độ của giáo viên, chất lượng học sinh không được nâng cao.
Kết quả kỳ thi tốt nghiệp môn Lịch sử, kỳ thi tuyển sinh đại học, các kỳ thi học
sinh giỏi cấp tỉnh, cấp Quốc gia nhiều năm cho thấy chất lượng môn Lịch sử có
nhiều biểu hiện giảm sút. Học sinh chưa nhận thức đúng đắn về môn học. Hầu hết
học
sinh đều quan niệm học lịch sử chỉ cần học thuộc lòng; chuẩn bị cho kỳ thi chỉ
là nhồi
nhét kiến thức, học tủ, học vẹt
Từ năm học 1996-1997, Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định hàng năm
đều tổ
chức cho học sinh THPT thi học sinh giỏi môn lịch sử. Nó thể hiện sự quan
tâm của
Nhà nước- Bộ Giáo dục về tác dụng của môn lịch sử trong việc bồi dưỡng,
giáo dục thế
hệ trẻ. Vậy, bằng cách nào để học giỏi và trở thành học sinh giỏi môn
lịch sử. Biện
pháp, phương pháp nào giúp các em đạt được điều mong ước đó?
bộ môn
lịch sử ở trường phổ thông không những vẫn giữ nguyên, mà còn cần phải
tăng thêm
vị trí cho nó. Trên quan điểm đó, nhà sử học Xô viết Pausutô khẳng
định: “Muốn
đào tạo con người phù hợp với thời đại chúng ta, cần phải không ngừng cải tiến và
nâng cao chất lượng dạy học lịch sử. Cuộc cách mạng khoa học-
kĩ thuật, sự hứng thú,
hấp dẫn ngày càng tăng đối với hiện tại không hề làm giảm
bớt sự chú ý của chúng ta
đối với việc dạy học lịch sử. Chính lịch sử là bằng chứng
hiển nhiên về sự toàn thắng
của công cuộc xây dựng, sáng tạo đối với sự tàn phá,
chiến thắng của hòa bình đối với
chiến tranh, sự gần gủi, hiểu biết của các dân tộc
về văn học và các mặt khác, khắc
phục tình trạng biệt lập”. {7; 18}
Đồng thời, UNESCO cũng công bố nhiều tài liệu về Phương pháp dạy học
lịch
sử như: Sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử, sử dụng các phương tiện kĩ
ngoại khóa, thực hành môn lịch sử ở
trường phổ thông, Phát triển tư duy học sinh
trong dạy học lịch sử
Gần đây, tháng 2 năm 1997 Vụ Trung học phổ thông ban hành tài liệu Tập
huấn
giảng dạy môn lịch sử dành cho cán bộ chỉ đạo và giáo viên chuẩn bị cho học
sinh
tham gia kỳ thi quốc gia. Giáo sư Phan Ngọc Liên đã có bài viết dài tới 23
trang:
“Một số vấn đề phương pháp bồi dưỡng học sinh học giỏi môn lịch sử ở
trường
THPT” đầy bổ ích. Trong bài viết này, Giáo sư đã đề cập đến hai điểm:
Cần nhận
thức đúng về học tập lịch sử; xác định phương pháp học tập giỏi môn
lịch sử, với các
biện pháp, con đường, phương tiện có hiệu quả cao.
Năm 1999, Hội giáo dục lịch sử (thuộc Hội khoa học lịch sử Việt Nam)-
Khoa Lịch sử trường Đại học sư phạm hà Nội) đã cho ra mắt bạn đọc tác phẩm của
tập
thể tác giả: Nguyễn Thị Côi, Trần Bá Đệ, Nguyễn Tiến Hỷ, Đặng Thanh Toán,
hướng dẫn học
sinh nắm chắc các đề thi cụ thể, mà trang bị cho các em những kiến
thức và phương
pháp cơ bản có thể ứng phó với mọi “tình hướng có vấn đề” trong
các kỳ thi”. {9 ;
tr3}.
3. Nhiệm vụ, mục tiêu nghiên cứu
3.1. Nhiệm vụ
Trình bày một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử.
Nêu, phân tích khả năng ứng dụng của từng biện pháp cho từng kiểu bài, đề
tài
lên lớp, cũng như một số biện pháp nhằm nâng chất lượng giáo viên trực tiếp
giảng
dạy.
3.2. Mục tiêu
Góp phần nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử khối
THPT chuyên.
Giúp cấp quản lý giáo dục, giáo viên, học sinh nhận thức đúng đắn vai trò
của
môn Lịch sử trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Trên cơ sở đó có cách thức
quản lý,
dạy - học sao cho hiệu quả nhất.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
chương
trình bồi dưỡng, dạy học sinh giỏi sao cho có hiệu quả nhất.
- Sáng kiến kinh nghiệm nêu lên quan điểm cần mạnh dạn cho phép học sinh được
tham gia nghiên cứu các công trình khoa học với thầy cô giáo; cần dạy học sinh
phương pháp học tập tích cực trước khi cung cấp kiến thức, giáo viên cần đưa ra
những quan điểm mới, nội dung khó mà từ trước tới nay giới sử học trong và ngoài
nước còn đang tranh luận để các em nhận định, đánh giá; quá trình dạy học chính
là quá trình rèn luyện về năng lực tư duy, phẩm chất đạo đức, chính trị cho học
sinh. Tránh những quan điểm của một số trường Trung học phổ thông chuyên bồi
dưỡng học sinh giỏi cốt chỉ đi thi giành giải cao.
- Ngoài ra, đây còn có thể là tài liệu cho các trường THPT chuyên và giáo viên mới
ra
trường ít có kinh nghiệm giảng dạy, nhất là khi lại được giao đảm nhiệm việc
bồi
dươngc học sinh giỏi, tài năng.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN LỊCH SỬ
1.1. Chương trình sách giáo khoa, sách giáo viên khối 10, 11, 12
1.1.1 Chương trình sách giáo khoa lớp 10
* Về hệ thống kiến thức khối 10
Trong phần giới thiệu "mục tiêu chương trình giảng dạy lịch sử lớp 10" các
tác
giả viết: Lịch sử thế giới được đưa vào giảng dạy ở lớp 10 với yêu cầu chung là
cung
trải qua 5 thời kỳ lịch sử căn
bản: Thời kỳ nguyên thuỷ, thời kỳ cổ đại, thời kỳ
trung đại, thời kỳ cận đại và thời
kỳ hiện đại. Trong thực tế SGK đã giới thiệu bao
gồm 4/5 thời kỳ lịch sử, vì vậy yêu
cầu về mặt sư phạm đã bị phá vỡ trong việc
phân bổ chương trình.
Chính vì sai lầm đó, nên dù cố gắng biên soạn lại, SGK Lịch sử lớp 10 vẫn
không tránh khỏi sự ôm đồm không cần thiết. Thậm chí cßn gây mâu thuẫn trong
việc
dạy và học của giáo viên và học sinh: Học sinh chỉ được học 1 tiết/ tuần (học
kỳ I) và
2 tiết/ tuần (học kỳ II) nhưng phải gánh một khối lượng kiến thức lớn.
* Về nội dung kiến thức
Mặc dù đã cố gắng sửa chữa, nhưng nội dung kiến thức SGK vẫn cßn
thiên về
kể lể các sự kiện, thậm chí quá rườm rà, hành văn không hấp dẫn. Một bài
học sinh
phải nhớ đến 10 hoặc có bài phải nhớ tới 20 sự kiện không cần thiết. Gây
tâm lý nhàm
chán, cho học sinh ( ví dụ Bài 19 tr. 96 SGK cơ bản lớp 10).
Một số bài về kiến thức cßn sai lầm nghiêm trọng: Thể hiện ở các bài 29
của các nô lệ ở các
bang thuộc địa miền Nam lúc bấy giờ là một trong những "đặc điểm của quá trình
tích luỹ nguyên thuỷ TBCN". Quá trình khách quan này dĩ
nhiên là tàn bạo, nhưng
là tiền đề không thể thiếu đối với sự ra đời của chủ nghĩa tư
bản. Tuyên ngôn độc lập
của 13 bang thuộc địa Bắc Mĩ không thể có chuyện hạn
chế được! Lưu ý, đây là tuyên
ngôn của cuộc cách mạng Tư sản chứ không phải là
tuyên ngôn của cuộc cách mạng
vô sản. Do đó khi dạy học đến phần này giáo viên
không nên buộc học sinh phải chỉ ra
những điểm hạn chế của Tuyên ngôn.
Về "Cách mạng tư sản Pháp": Về mốc kết thúc, vẫn có hai quan điểm,
thể hiện
trong giáo trình đại học và cao đẳng. Quan điểm thứ nhất, lấy cuộc đảo
chính tháng
Nóng (27/7/1794) làm mốc cuối và quan điểm thứ hai lấy cuộc chính
biến ngày 18
tháng Sương mù (9/11/1799) làm mốc kết thúc. Sự tồn tại của hai
Bằng chứng, khi theo lưỡi gươm của quân Liên minh trở về cầm quyền
ở Pháp, Lui
XVIII buộc phải công bố một bản Hiến chương lập hiến (một bản hiến
Pháp do nhà vua
ban) thừa nhận những thành quả cơ bản của cách mạng như: Xoá
bỏ chế độ đẳng cấp,
công nhận quyền sở hữu ruộng đất đã được xác lập trong quá
trình cách mạng. Đây là
một sai lầm đáng tiếc, mà nếu giáo viên không nắm chắc
kiến thức thì dễ thể nhầm lẫn.
1.1.2. Chương trình lịch sử lớp 11
Ở chương trình Lịch sử khối 11ban cơ bản: 1 tiết x 35 tuần = 35 tiết. Trong
đó:
- Lịch sử thế giới cận đại (phần tiếp theo chương trình lịch sử lớp 10): 8 tiết;
- Lịch sử thế giới hiện đại (phần 1917- 1945): 11 tiết;
- Lịch sử Việt Nam từ 1858- 1918: 11 tiết;
- Lịch sử địa phương: 1 tiết;
- Củng cố kiểm tra 4 tiết.
Qua việc xây dựng chương trình lớp 11 cơ bản, chúng ta nhận thấy những
ưu
điểm như: về cấu tạo và phân kỳ lịch sử đều đảm bảo nguyên tắc phân kỳ theo
học
thuyết hình thái kinh tế xã hội của chủ nghĩa Mác- Lênin; đảm bảo tính toàn
tập các sự kiện lịch sử cơ bản theo hệ thống kiến
thức dưới đây”: Thời gian, sự kiện,
diễn biến chính, kết quả, ý nghĩa. Điều đáng
ngạc nhiên là Giáo sư Phan Ngọc Liên
(Tổng Chủ biên kiêm Chủ biên) đã đưa sự
kiện cách mạng Dân chủ tư sản tháng 2
-1917 (diễn biến chính): Tổng bãi công
chính trị ở Pê- tơ- rô- grát, Khởi nghĩa vũ
trang, Nga Hoàng bị lật đổ vào phần
Lịch sử thế giới hiện đại. Không hiểu tác giả
lấy căn cứ nào? Nếu theo cách thức
phân kỳ Lịch sử thế giới hiện đại được đông đảo
giới sử học trong và ngoài nước
chấp nhận nhất thì mốc khởi đầu cho Lịch sử thế
giới hiện đại bắt đầu khi Cách
mạng tháng Mười Nga thành công, nhà nước Xô viết
đầu tiên trên thế giới xuất
hiện. hoặc ít ra là Đại chiến thế giới thứ nhất (1914-1918)
kết thúc. Đó là chư kể
đến sự nhầm lẫn cả về nội dung lẫn phương pháp. Ví dụ: Khởi
Quốc tế.
Bên cạnh đó Chương trình gắn liền với chính trị, nhiều sự kiện chịu ảnh hưởng
chi phối nhiều yếu tố chính trị. Điều đó tác động đến bài giảng, thi cử. Vì vậy, dạy
lịch sử 12 giáo viên phải chịu áp lực lớn hơn so với dạy sử khối 10 và 11,
nhưng yêu
cầu về nhận thức đßi hỏi cao hơn khối 10, khối 11.
Theo Tiến sĩ Hà Thị Minh Thuỷ trường Đại học sư phạm Thái Nguyên thì:
“Phần Lịch sử Việt Nam trong SGK Lịch sử 12 (mới) là phần Lịch sử Việt Nam từ
1919 đến nay. Đây là giai đoạn lịch sử rất gần với chúng ta, có nhiều sự kiện đang
tiếp
diễn. Thực tế học sinh đã học giai đoạn này ở lớp 9, đến lớp 12 học sinh tiếp
tục
được bổ sung một số kiến thức cần thiết và nâng cao hơn sự nhận thức về sự
kiện,
nhân vật lịch sử.
So với chương trình và SGK Lịch sử lớp 12 cũ (sách viết cách đây 16 năm do
GS
Đinh Xuân Lâm chủ biên), phần Lịch sử Việt Nam có nội dung kéo dài thêm 10
năm
(SGK cũ chỉ viết đến năm 1991, SGK mới viết đến năm 2000), nhưng với số
tiết học
giảm 1 tiết đối với chương trình nâng cao (39/40 tiết), giảm 8 tiết đối với
Như vậy, ta thấy rõ ràng sách giáo khoa, sách giáo viên không thể làm chổ
dựa
cho học sinh học tốt môn Lịch sử, càng không thể giúp giáo viên nâng cao
trình độ
và phương pháp dạy học.
1.2. Thực trạng dạy và học hiện nay
Theo GS Đinh Xuân Lâm đăng trên dantri.com.vn: “Lịch sử là môn khoa
học
góp phần đạo tạo nhân cách con người. Đối với học sinh càng nhỏ càng tiếp
cận lịch
sử càng có ấn tượng sâu sắc. Cùng với tuổi lớn lên của các em thì kiến
thức đó ngày
càng sâu rộng nên tôi cho rằng học lịch sử rất quan trọng… Nhưng
hiện nay, vấn đề
học lịch sử ở trường phổ thông chưa được coi trọng”.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, một phần là do cấp quản lý, giáo viên,
phụ
huynh và học sinh chưa nhận thức được vai trò, vị trí của môn học trong
Chương
trình giáo dục phổ thông. Hay nói cách khác là xu hướng hiện nay đang
thiên về học
Trên cơ sở đó, chúng tôi đã đưa ra một số biện pháp, giải pháp nhằm nâng
cao
chất lượng dạy học môn lịch sử, nhất là trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi,
tài
năng.
CHƯƠNG 2
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
2.1. Xây dựng và thống nhất chương trình bồi dưỡng
2.1.1. Đối với Ban biên soạn sách giáo khoa
Về hệ thống kiến thức trong Chương trình sách giáo khoa lịch sử lớp 10, 11,
12
hệ cơ bản nên xắp xếp lại để tiện cho việc giảng dạy và học tập của học sinh,
tránh
sự ôm đồm không cần thiết.
Về nội dung các bài viết cần nên lược bớt phần diễn biến. Tốt nhất các bài
nên tập trung vào những vấn đề mấu chốt, làm rõ trọng tâm.
Đối với việc dạy về thời kỳ lịch sử Trung đại, nhất là về các triều đại nên
cho
các em thấy những ưu điểm và hạn chế của triều đại đó. Tức cho các em thấy
được những chính sách đúng đắn,và sai lầm của triều đại dẫn đến sự hưng khởi, diệt
vong. Đồng thời cần phải chỉ ra lực lượng nào trong xã hội làm nên lịch sử.
Tốt nhất để hệ thống lại kiến thức SGK không chỉ có nhiệm vụ tóm tắt lại
những gì đã học (Theo kiểu ôn tập chương) mà cần đưa ra những so sánh, nhận xét
lịch
giáo
dục. Đó là mục tiêu về kiến thức, về kĩ năng, về tư tưởng tình cảm. Trong quá
trình bồi
dưỡng học sinh giỏi chúng ta đang chú trọng vào việc nâng cao kiến thức,
và kĩ năng
cho học sinh. Để thực hiện được mục tiêu giáo dục, chúng ta gặp phải
một khó khăn
rất lớn, đó là việc Bộ Giáo dục và Đạo tạo chưa thể xây dựng một
chương trình giáo
dục đặc biệt dành cho học sinh giỏi, tài năng ở tất cả các môn
học, trong đó có môn
Lịch sử. Vụ Trung học phổ thông chỉ dừng lại ở việc ban
hành Tài liệu Hội nghị tập
huấn giảng dạy môn Lịch sử dành cho cán bộ chỉ đạo và
giáo viên chuẩn bị cho học
sinh tham gia kỳ thi Quốc gia. Thành thử, để bồi dưỡng
học sinh giỏi, học sinh tài
năng, các trường THPT nói chung, trường chuyên nói
riêng phải xây dựng chương
trình bồi dưỡng riêng, nên khó cho công tác bồi dưỡng
trên khắp cả nước
2. 2. Tăng cường nghiên cứu khoa học
Một thực tế dễ nhận thấy trong hệ thống các trường THPT chuyên hiện nay
là
việc rèn luyện, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của giáo viên, học sinh
rất
thấp. Nghiên cứu khoa học là một trong những năng lực không thể thiếu của
một
giáo viên. Bởi, dạy học là một khoa học, nhưng đồng thời cũng là một nghệ
thuật.
Đối với việc dạy học Lịch sử, nhất là việc đáp ứng nhu cầu học tập của học
sinh giỏi,
tài năng, thì giáo viên hơn ai hết cũng cần phải có, và phải được trang bị
năng lực
nghiên cứu khoa học thực sự. Công việc nghiên cứu này phải được tiến
hành nghiêm
túc, cẩn thận và thường xuyên Năng lực nghiên cứu là cơ sở giúp
giúp giáo viên,
học sinh giỏi nâng cao được năng lực nhận thức, năng lực dạy và
khả năng tự học một
cách sáng tạo, có hiệu quả. Tránh quan niệm từ trước đến nay
nằm trong chương trình học và thi học sinh giỏi. Đến lượt mình, giáo viên cần được
hướng dẫn, được bồi dưỡng và tự bồi dưỡng chuyên môn, năng lực, phương pháp
nghiên cứu khoa học một cách bài bản, thực chất bởi chuyên gia đầu ngành với những
khóa học ngắn ngày hoặc dài ngày.
Kiến thức, kĩ năng học sinh được trang bị đi thi, đó không chỉ là kiến thức,
kĩ
năng, mà giáo viên nhận thức được từ sách giáo khoa, những công trình nghiên
cứu
của các học giả trong và ngoài nước…, rồi đem dạy lại cho học sinh, mà đó
còn là
kết quả của cả một quá trình nghiên cứu khoa học thực sự nghiêm túc của
giáo viên
và chính bản thân học sinh.
2.3. Thay đổi phương pháp dạy và học
2.3.1 Dạy học sinh phương pháp học tập tích cực
Theo Chương II, Mục 2 Luật Giáo dục năm 2005 thì: “Phương pháp giáo
dục
phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh;
phù
hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học,
rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại
chỉ truyền thụ
những tri thức có sẵn, mà phải biết định hướng, tổ chức, hướng dẫn
để học sinh tự
khám phá kiến thức, biết sử dụng phương pháp để tìm ra, khám phá
ra kiến thức đó.
Khi đã hình thành chức năng cơ bản của quá trình dạy học là dạy
cho học sinh cách
thức học tập, thì dạy phương pháp học tập sẽ trở thành mục tiêu
dạy học, chứ không
đơn giản chỉ là phương tiện, biện pháp, thủ thuật nhằm nâng
cao hiệu quả, chất
lượng dạy học.
Thực tế cho thấy khi tiến hành bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử ở các
trường THPT chuyên, giáo viên vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong việc dạy học
sinh
phương pháp học tập tích cực. Mặc dù ở một số trường chuyên có lớp chuyên
sử, học
sinh nhìn chung yêu thích, có khả năng tự học, đủ tài liệu tham khảo và có
thái độ
đúng đắn với môn học này, nhưng nếu giáo viên không dạy các em phương
pháp học
trong việc điều
chỉnh cách học, và không khuyến khích tư duy, sự năng động, sáng
tạo, tính chủ động
ở các em. Cho nên, dạy Lịch sử, bồi dưỡng học sinh giỏi giáo viên cần phải coi trọng
việc hướng dẫn, gợi mở để các em tự đặt vấn đề suy nghĩ,
trao đổi và nghiên cứu.
Giáo viên phải nắm được những nguyên tắc và con đường
phát triển tư duy học sinh.
Để thực hiện tốt vấn đề này giáo viên cần thực hiện
đồng bộ các biện pháp sau đây:
Thứ nhất, thông báo cho học sinh toàn bộ kế hoạch, nội dung chương trình
học
tập trong năm học và cả khóa học. Đánh dấu những phần kiến thức khó, trọng
tâm để
các em dành nhiều thời gian để suy nghĩ. Nhất là kế hoạch ôn luyện trong
giai đoạn
thi học sinh giỏi cấp tỉnh, khu vực và cấp quốc gia.
Thứ hai, giới thiệu, hướng dẫn tư liệu đọc thêm cho học sinh, để làm sao các
em
có một bộ sách tham khảo hoàn chỉnh. Quan trọng nhất là các tài liệu có liên quan
đến
theo
nhóm, cá nhân, một số học sinh thật sự xuất sắc có thể tham gia vào các công
trình
nghiên cứu của giáo viên. Đồng thời tổ chuyên môn, trường sẽ tổ chức hội
thảo để
các em báo cáo kết quả nghiên cứu.
Thứ sáu, trước khi lên lớp giáo viên cần gửi chuyên đề sẽ dạy cho học sinh ít
nhất trước một tuần kèm theo tên tài liệu tham khảo phục vục chuyên đề đó, để các
em
có thời gian chuẩn bị và tìm hiểu trước. Lưu ý là cả một chuyên đề hoàn chỉnh
chứ
không phải là tên chuyên đề, hay một số câu hỏi nằm trong chuyên đề đó.
Thứ bảy, trong quá trình lên lớp giáo viên có thể sử dụng rất nhiều phương
pháp
dạy học. Bởi các phương pháp này đều có những mặt mạnh và hạn chế của
nó. Vấn
đề ở chổ là biết khai thác, vận dụng một cách phù hợp, làm sao nó phải
hướng tới
mục đích thúc đẩy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong
việc tiếp thu,
khám phá tri thức. Một trong những phương pháp có hiệu quả nhất
Con đường cách mạng theo khuynh hướng
vô sản. Giáo viên đặt tình huống có vấn
đề tiếp “Vậy, vai trò của Nguyễn Ái Quốc ở
đây là gì?”. Học sinh một lần nữa phải
tìm những tài liệu, sự kiện lịch sử để trả lời:
Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường
cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam.
Nếu như Lênin đã đưa cách mạng vô
sản từ những nước có nền công nghiệp phát
triển, giai cấp công nhân, phong trào
công nhân thực sự lớn mạnh vào một nước Nga
“chỉ là một nước tư bản chủ nghĩa
phát triển trung bình. Chủ nghĩa tư bản Nga phát
triển muộn ngày càng lạc hậu và
lệ thuộc vào các nước phương Tây” [13; tr9] thành
công, thì Nguyễn Ái Quốc đã
phát triển học thuyết của Mác bằng việc truyền bá một
cách có hiệu quả con đường cách mạng vô sản về một nước thuộc địa. Điều đó đã làm
chuyển biến phong trào
yêu nước và cách mạng ở Việt Nam. Đến năm 1930 con
giản
chỉ dừng lại ở chổ giúp học sinh cụ thể hóa các sự kiện lịch sử, làm và sử
dụng các
loại đồ dùng trực quan, khả năng vẽ bảng biểu, bản đồ, lược đồ, mà phải
giúp học sinh
liên hệ, so sánh, đối chiếu, phân tích các sự kiện lịch sử đã qua với
những sự kiện
đang diễn ra hàng ngày để thấy được chiều hướng phát triển của lịch
sử. Từ đó, giúp
các em thấy được những bài học lịch sử, quy luật phát triển của xã
hội loài người, giáo
viên phải đặt học sinh vào trong một tình huống lịch sử cố
định để xem các em giải
quyết thế nào. Ví dụ, khi dạy bài 17 Sách giáo khoa Lịch
sử lớp 12, “Nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa từ sau ngày 2-9-1945 đến trước
ngày 19 -12- 1946”, giáo viên
có thể đặt học sinh vào một tình huống như sau:
“Nếu em là một thành viên trong
Chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đứng trước
Như vậy, để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Lịch sử ở trường THPT
cần
phải có sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp, ngành và xã hội. Đối với giáo viên,
người
đang trực tiếp giảng dạy phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ.
Dạy học là một khoa học, nhưng đồng thời đó là một nghệ thuật. Người
giáo viên
giống như một người nghệ sỹ trên sân khấu, mỗi bài dạy như một nhân
vật được hóa
thân.
Học sinh yêu thích môn Lịch sử, chưa đủ để biết và hiểu lịch sử. Dạy học
tốt
môn Lịch sử đòi hỏi thầy- trò phải được trang bị một hệ thống phương pháp dạy
- học nhất định. Những biện pháp, phương pháp đó phải được bồi dưỡng thường
xuyên, không ngừng học tập, rèn luyện.
Sáng kiến kinh nghiệm, tác giả không có tham vọng đưa ra cả một hệ thống
phương pháp, biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử, nhất là
trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, tài năng, mà chỉ chỉ ra một vài biện pháp
cụ
thể sao cho dạy- học đem lại hiệu quả cao nhất.
Việc ứng dụng các biện pháp, phương pháp này cần phải hết sức linh hoạt,
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quy chế trường chuyên.
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng
môn Lịch sử lớp 10, 11, 12. Nxb Giáo dục Việt Nam.
8. Nguyễn Thị Côi- Trần Bá Đệ- Nguyễn Tiến Hỷ- Đặng Thanh Toán- Trịnh
Tùng (1999), Hướng dẫn ôn tập và làm bài thi môn Lịch sử. Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội.
9. Trần Bá Đệ (Chủ biên) (2003), Hướng dẫn thi Đại học- Cao đẳng môn Lịch
sử.
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
10.Phan Ngọc Liên- Trần Văn Trị (2003), Phương pháp dạy học lịch sử, Nxb Đại
học
Quốc gia Hà Nội, trang 60.
11.Phan Ngọc Liên (tổng chủ biên) (2008), Lịch sử 10, Nxb Giáo dục
12.Luật Giáo dục (2005), Nxb CTQG, Hà Nội, trang 22
13. Nguyễn Anh Thái (chủ biên) (2003), Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb Giáo dục,
trang 9