TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Đề tài:
Nghiên cứu gian lận báo cáo tài chính của doanh nghiệp
trong thẩm định tín dụng
Môn học: Nghiệp vụ ngân hàng thương mại
Lớp: Ngân hàng Đêm 1 – Khóa 22
GVHD: PGS. TS. Trầm Thị Xuân Hương
Danh sách thành viên:
• Nguyễn Thị Nhật Vy
• Phạm Thành Đạt
• Vương Thị Thùy Linh
• Triệu Quốc Phú
1
MỤC LỤC
2
MỞ BÀI
Tín dụng là hoạt động kinh doanh chiếm tỷ trọng cao nhất, cũng là hoạt động mang lại
nguồn thu lớn nhất của ngân hàng. Vấn đề lo ngại nhất của ngân hàng thương mại khi cho
vay là rủi ro nợ xấu luôn có khả năng xảy ra, nhất là trong thời kỳ mà nợ xấu của các ngân
hàng đang ở mức báo động. Rủi ro này có rất nhiều nguyên nhân, đều có thể gây ra tổn thất
làm giảm thu nhập, gây thiệt hại về tài chính cũng như uy tín của cả ngân hàng cũng như
doanh nghiệp. Chính vì vậy, vấn đề chất lượng thẩm định tín dụng luôn là vấn đề quan tâm
hàng đầu của các ngân hàng.
Trước khi tiến hành thẩm định tài chính doanh nghiệp, ngân hàng phải tiến hành
thẩm định mức độ tin cậy của báo cáo tài chính do doanh nghiệp cung cấp. Đây là yếu tố
quyết định đến chất lượng thẩm định tín dụng. Một báo cáo tài chính sẽ trở nên vô nghĩa với
ngân hàng khi nó được “làm đẹp” và phản ánh không chính xác tình hình tài chính thực tế
của doanh nghiệp.
Vấn đề đặt ra chính là các gian lận đó là gì và làm sao để phát hiện ra những gian lận
đó trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp? Các mánh khóe gian lận có thể không dễ bị
phát hiện, vì đó là gian lận các con số và không có sự mất mát tài sản hữu hình. Thậm chí,
1.2.2 Hệ thống báo cáo tài chính:
1.2.2.1 Hệ thống BCTC của đơn vị kế toán thuộc hoạt động thu, chi ngân sách nhà nước, cơ
quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức có sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước và đơn
vị sự nghiệp, tổ chức không sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước gồm:
- Bảng cân đối tài khoản;
- Báo cáo thu, chi;
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính;
- Các báo cáo khác theo quy định tại pháp luật.
1.2.2.2 Hệ thống BCTC của đơn vị kế toán thuộc hoạt động kinh doanh gồm:
- Bảng cân đối kế toán;
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh;
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ;
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính
1.2.2.3 Vai trò, chức năng của từng loại báo cáo trong nghiên cứu BCTC:
• Bảng cân đối kế toán (balance sheet - BS):
Là báo cáo tổng hợp cho biết tình hình tài chính của đơn vị tại những thời điểm nhất
định dưới hình thái tiền tệ. Đây là một báo cáo tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với
mọi đối tượng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh doanh với doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán phản ánh hai nội dung cơ bản là nguồn vốn tài sản. Nguồn vốn
phản ánh nguồn vốn được huy động vào sản xuất kinh doanh. Về mặt pháp lý, nguồn vốn
cho thấy trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng ký kinh doanh với Nhà nước,
số tài sản đã hình thành bằng nguồn vốn vay ngân hàng, vay đối tượng khác, cũng như trách
nhiệm phải thanh toán với người người lao động, cổ đông, nhà cung cấp, trái chủ, ngân
sách Phần tài sản phản ánh quy mô và cơ cấu các lọai tài sản hiện có đến thời điểm lập báo
cáo thuộc quyền quản lý, sử dụng của doanh nghiệp, năng lực và trình độ sử dụng tài sản. Về
mặt pháp lý, phần tài sản thể hiện tiềm lực mà doanh nghiệp có quyền quản lý, sử dụng lâu
dài, gắn với mục đích thu được các khoản lợi nhuận.
Bảng cân đối kế toán là tài liệu quan trọng bậc nhất giúp cho nhà phân tích nghiên
cứu đánh giá một cách khái quát tình hình và kết quả kinh doanh, khả năng cân bằng tài
chính, trình độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp.
khoản của doanh nghiệp mình.
6
• Thuyết minh báo cáo tài chính:
Nhằm cung cấp các thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh chưa có trong hệ thống
các báo cáo tài chính, đồng thời giải thích một số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính
chưa được trình bày, giải thích thêm một cách cụ thể, rõ ràng.
Trong quá trình phân tích báo cáo tài chính, thuyết minh báo cáo tài chính là phần dễ
bị bỏ qua, nhưng lại mang nhiều thông tin quan trọng cho từng hoạt động cụ thể của doanh
nghiệp trong kỳ.
Các báo cáo tài chính trong doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhau, mỗi sự
thay đổi của một chỉ tiêu trong báo cáo này trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến các báo
cáo kia, trình tự đọc hiểu được các báo cáo tài chính, qua đó họ nhận biết được và tập trung
vào các chỉ tiêu tài chính liên quan trực tiếp tới mục tiêu phân tích của họ.
1.2.3 Nguyên nhân gian lận BCTC:
Gian lận là các hành vi bất thường và phi pháp mang chủ ý lừa dối, hay đưa
thông tin thiếu chính xác mà cá nhân đó biết rõ là sai hoặc tin là không đúng. Người có hành
vi gian lận biết rõ hành vi đó có thể đem lại lợi ích bất hợp pháp cho cá nhân hoặc tổ chức
nào đó. Gian lận có thể do người bên trong hoặc bên ngoài tổ chức thực hiện.
Trên góc độ kiểm toán báo cáo tài chính, gian lận là những hành vi cố ý làm sai lệch thông
tin kinh tế, tài chính do một hay nhiều người trong Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các
nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính.
Mục đích chính của việc gian lận báo cáo tài chính là che dấu tình hình tài chính thực (thể
hiện tình hình kinh doanh tốt hơn thực tế hoặc cho dấu lợi nhuận thực tế), một số hoạt động
của công ty đối với những người sử dụng báo cáo tài chính (các giao dịch nội bộ, giao dịch
ngầm với các đối tác )
Áp lực hoặc lợi ích là lý do để một cá nhân hay doanh nghiệp thực hiện hành vi gian lận.
• Một số nguyên nhân dẫn đến hành vi gian lận BCTC thường gặp:
- Áp lực mất các lợi ích kinh tế, hoàn thành các chỉ tiêu đặt ra cũng như duy trì xu hướng
phát triển tốt của công ty trước các cổ đông, chủ sở hữu cũng như công chúng. Đây cũng là
nguyên nhân có thể gây ra thiệt hại lớn đến chủ sở hữu công ty, do những hoạt động kinh
có thể gây ra những thiệt hại lớn cho các cá nhân sở hữu công ty cũng như những người đầu
tư vào sự phát triển của công ty. Nhưng việc vận dụng sự thay đổi một số thông tin trên báo
cáo tài chính một các phù hợp cũng sẽ mang lại lợi ích cho công ty và các cá nhân liên quan.
8
1.2.4 Các dạng gian lận tài chính thường gặp:
- Đối với doanh nghiệp nhà nước: gian lận thường tập trung ở mảng chi phí. Các công chức
lợi dụng chức quyền, để tham ô tiền của nhà nước hay để sử dụng cho cá nhân nên gian lận
thường thông qua hình thức khai khống chi phí hay hợp thức hoá các chứng từ giả mạo để
đưa vào chi phí hợp lý hợp lệ.
- Trong ngành xây dựng cơ bản: Gian lận tiến hành phổ biến thông qua các việc cố ý không
tuân thủ̉ thiết kế ban đầu nhằm giảm bớt chi phí thi công; các bên thông đồng trong công tác
khảo sát thiết kế - nghiệm thu công trình để phân chia khoản chênh lệch thu được.
- Với các công ty cổ phần có niêm yết trên thị trường chứng khoán: gian lận thường xảy ra
theo chiều hướng khai khống doanh thu và thu nhập, ghi giảm chi phí và công nợ nhằm khai
khống lợi nhuận, làm đẹp tình hình kinh doanh của công ty và thu hút nhà đầu tư trong việc
mua cổ phiếu; hay tăng giá cổ phiếu.
- Các doanh nghiệp tư nhân hay công ty trách nhiệm hữu hạn: Gian lận thường xuất hiện
trong việc khai báo thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp, khai khống chi phí
và giấu doanh thu nhằm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Gian lận còn được thực
hiện qua việc thông đồng với đối tác nước ngoài lập hồ sơ xuất khẩu hàng giả mạo theo
đường tiểu ngạch nhằm chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng của nhà nước.
- Các công ty có vốn đầu tư nước ngoài: Gian lận thường là khai thiếu chi phí và công nợ hay
chuyển chi phí - công nợ của thời kỳ này sang kỳ kế toán kế tiếp hoặc khai khống doanh thu
để đạt được mục tiêu mà công ty mẹ đặt ra. Ngược lại, nếu công ty tập trung vào vấn đề giảm
thiểu thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp thì khai khống chi phí, công nợ và ghi giảm
doanh thu.
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
TRONG THẨM ĐỊNH TÍNH DỤNG
2.1 Mục tiêu của việc phân tích BCTC:
Báo cáo tài chính (BCTC) rất hữu ích đối với việc quản trị doanh nghiệp, đồng thời là nguồn
gian hoàn vốn, mức tăng trưởng, khả năng thanh toán vốn v.v Vì vậy họ để ý đến báo cáo
tài chính là để tìm hiểu những thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả
kinh doanh, khả năng sinh lời hiện tại và tương lai
- Đối với nhà cung cấp họ phải quyết định xem có cho phép doanh nghiệp sắp tới có
được mua hàng chịu hay không. Vì vậy họ phải biết được khả năng thanh toán của doanh
nghiệp hiện tại và thời gian sắp tới.
10
- Đối với các cơ quan quản lý chức năng của nhà nước, các cổ đông, người lao động
mối quan tâm cũng giống như các đối tượng kể trên ở góc độ này hay góc độ khác.
2.2 Các bước phân tích báo cáo tài chính:
2.2.1 Phân tích tình hình hoạt động
Nội dung phân tích: Xem xét đánh giá sự thay đổi giữa đầu kỳ so với cuối kỳ, đầu
năm so với cuối năm, năm này so với năm khác để xác định tình hình tăng giảm vốn trong
doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào sự tăng giảm của tổng tài sản và tổng nguồn vốn
của doanh nghiệp thì chưa thể thấy rõ tình hình tài chính của doanh nghiệp. Vì vậy, cần phải
phân tích mối quan hệ giữa các khoản mục của bảng cân đối kế toán dựa trên quan điểm luân
chuyển vốn trong doanh nghiệp. Cụ thể, chúng ta có thể phân tích thông qua các tiêu chí sau:
• Phân tích cơ cấu tài sản: Xem xét từng khoản mục tài sản của doanh nghiệp trong tổng số để
thấy được mức độ đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuỳ từng loại
hình kinh doanh để xem xét tỷ trọng của từng tài sản chiếm trong tổng số là cao hay thấp. Đồng
thời với việc phân tích cơ cấu tài sản, cần xem xét tình hình biến động của các khoản mục tài
sản cụ thể. Qua đó, đánh giá sự hợp lý của sự biến động.
• Phân tích cơ cấu vốn – chi phí vốn:
Cơ cấu vốn là thuật ngữ phản ánh việc doanh nghiệp sử dụng các nguồn vốn khác
nhau với một tỷ lệ nào đó cuả mỗi nguồn tài trợ cho tổng số tài sản.
Chi phí vốn là chi phí trả cho việc huy động và sử dụng vốn. Nói cách khác, chi phí
vốn là giá của việc sử dụng vốn.
Đánh giá khả năng tự tài trợ về mặt tài chính của doanh nghiệp, cũng như mức độ tự
chủ, chủ động trong kinh doanh hay những khó khăn mà doanh nghiệp phải đương đầu.
Đối với nguồn hình thành tài sản, cần xem xét tỷ trọng từng loại chiếm trong tổng số
Để thực hiện phần phân tích này, ta cần báo cáo kết quả kinh doanh của DN trong
nhiều kỳ, thời gian cách nhau giữa các kỳ báo cáo càng nhỏ càng tốt (báo cáo hàng năm,
hàng quý, hàng tháng). Việc có chi tiết các báo cáo lợi nhuận qua từng kỳ có thể cho người
phân tích một cái nhìn bao quát và chi tiết hơn về mức độ phát triển lợi nhuận, chu kỳ lợi
nhuận cũng như các vấn đề liên quan của DN.
o Phân tích cơ cấu lợi nhuận:
12
Đây là phần có ý nghĩa quan trọng nhưng thường hay bị bỏ qua. Việc DN kiếm được
lợi nhuận tốt trong kỳ báo cáo không có nghĩa là công việc kinh doanh của doanh nghiệp
đang thực sự tốt. Để đảm bảo được xu hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp, nguồn lợi
nhuận chính nên có từ các hoạt động kinh doanh chủ yếu của DN, chứ không phải các hoạt
động phụ bên ngoài. Việc phân tích này cũng cho ta thấy được những dấu hiệu về các hoạt
động tác động đến báo cáo tài chính của DN.
- Lợi nhuận từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh
doanh hàng hóa dịch vụ được hình thành từ việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của
doanh nghiệp. Những nhiệm vụ này được ghi trong quyết định thành lập DN. Bộ phận lợi nhuận
này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lợi nhuận của DN.
- Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: Ngoài lĩnh vực hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, các
DN còn có thể tham gia vào hoạt động đầu tư tài chính, hoạt động tài chính là hoạt động đầu
tư vốn ra bên ngoài DN.
- Thu nhập từ các hoạt động đầu tư khác: được hình thành từ những nguồn bất thường khác ngoài
các hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động đầu tư tài chính, là số chênh lệch giữa các
khoản thu nhập khác và các khoản chi phí khác ngoài dự tính của DN. Những khoản lãi này phát
sinh không thường xuyên, DN không dự kiến trước được nhưng ít có khả năng thực hiện.
2.2.2 Phân tích và đánh giá các chỉ số tài chính
2.2.2.1 Nhóm các chỉ số phản ánh khả năng thanh toán
• Khả năng thanh toán hiện hành:
•
Theo một số tài liệu nước ngoài, khả năng thanh toán hiện hành sẽ trong khoảng từ 1-
> 2.
Tương tự như tỷ số thanh toán hiện hành, việc xem xét tỷ số thanh toán nhanh cũng
phải xem xét đến các khoản phải thu khó đòi để đảm bảo đánh giá khả năng thanh toán nợ
của doanh nghiệp một cách chính xác nhất.
• Khả năng thanh toán tức thời:
14
Tỷ số thanh toán nhanh = (Tiền mặt + TSLĐ khác + Phải thu)/Nợ
ngắn hạn
Tỷ số thanh toán tức thời = (Tiền và các khoản tương đương
tiền)/Nợ ngắn hạn
Tỷ lệ đo lường khả năng thanh toán của doanh nghiệp một cách hữu hiệu nhất phải
nói đến là hệ số thanh toán tức thời, nó cho biết khả năng thanh toán các khoản nợ bằng tiền
và chứng khoán dễ bán của doanh nghiệp. Đây là chỉ tiêu ưu tiên hàng đầu cần đánh giá khi
xem xét cung cấp các khoản tín dụng ngắn hạn cho doanh nghiệp. Việc đánh giá tỷ lệ thanh
toán tức thời này là khác nhau dựa trên đặc trừng từng doanh nghiệp, nhưng thấp nhất thì tỷ
số này cũng không nên nhỏ hơn 0,1.
• Khả năng thanh toán dài hạn:
Để đánh giá khả năng này ta cần dựa trên năng lực tài sản cố định hình thành từ vốn
vay và mức trích khấu hao cơ bản hàng năm, xem xét xem mức trích khấu hao cơ bản hàng
năm có đủ trả nợ các khoản vay dài hạn đến hạn trả không.
Hệ số này < 1 chứng tỏ dòng tiền hàng năm tại thời điểm hiện tại của doanh nghiệp
không đủ trích trả nợ các khoản vay trung dài hạn đến hạn trả và doanh nghiệp có khả năng
không trả nợ đúng hạn và phải sử dụng các nguồn bổ sung khác để trả nợ.
2.2.2.2 Nhóm các chỉ số phản ánh hiệu quả hoạt động:
• Vòng quay các khoản phải thu khách hàng và kỳ thu tiền bình quân:
Tỷ số này cho biết thời gian chậm trả trung bình các khoản phải thu hoặc thời gian
trung bình để chuyển các khoản phải thu thành tiền mặt
Thời gian thu hồi công nợ ngắn có thể cung cấp những thông tin sau:
o Chính sách tín dụng bán trả chậm cho khách hàng của doanh nghiệp quá khắt khe: Điều này sẽ
vốn sử dụng kém hiệu quả (dòng tiền sẽ giảm đi do vốn kém hoạt động và như vậy lãi vay sẽ
tăng lên). Điều này làm tăng chi phí lưu giữ hàng tồn kho và tăng rủi ro khó tiêu thụ hàng tồn
kho này do có thể không hợp nhu cầu tiêu dùng cũng như thị trường kém đi. Do vậy tỷ số
này cần xem xét để xác định thời gian tồn kho có hợp lý theo chu kỳ sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp và mức độ bình quân chung của ngành cũng như mức tồn kho hợp lý đảm bảo
cung cấp được bình thường.
• Vòng quay vốn lưu động và số ngày hoàn thành chu kỳ kinh doanh:
Vòng quay vốn lưu động xác định số ngày hoàn thành 1 chu kỳ kinh doanh của doanh
nghiệp.
Vòng quay vốn lưu động quá thấp chứng tỏ khả năng thu hồi tiền hàng, khả năng luân
chuyển hàng hoá thấp, luân chuyển vốn chậm nên chi phí về vốn tăng lên làm giảm hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp.
16
Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn / Hàng tồn kho bình quân
Thời gian tồn kho bình quân = 12 tháng / vòng quay hàng tồn
Vòng quay vốn lưu động = Doanh thu / Vốn lưu động bình
Vòng quay vốn lưu động khác nhau đối với các doanh nghiệp kinh doanh trong các
lĩnh vực khác nhau, ví dụ vòng quay vốn lưu động của các doanh nghiệp kinh doanh thương
mại bao giờ cũng phải cao hơn vòng quay vốn lưu động của các doanh nghiệp kinh doanh
trong lĩnh vực sản xuất, xây dựng cơ bản.
Khi xem xét vòng quay vốn lưu động của 1 doanh nghiệp, cần so sánh với mức bình
quân chung của ngành cũng như các chính sách bán hàng, tiêu thụ hàng của doanh nghiệp để
kết luận chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp là ở mức bình thường, tốt hay không tốt.
Đặc biệt, đối với mặt hàng kinh doanh có tính thời điểm, mùa vụ cao thì việc xác định
vòng quay vốn lưu động thực chất khi tính toán hạn mức tín dụng cho khách hàng còn cần
phải dựa vào các hợp đồng mua bán hàng hoá, thời gian tồn kho thực tế của khách hàng
• Vòng quay khoản phải trả và kỳ trả nợ bình quân:
Vòng quay phải trả và số ngày phải hoàn trả nợ là chỉ tiêu vừa phản ánh uy tín của
doanh nghiệp đối với bạn hàng vừa phản ánh khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
Đối lập với vòng quay phải thu và hàng tồn kho có xu hướng càng tăng càng tốt thì
Tổng số nợ bao gồm toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn, dài hạn tại thời điểm lập báo
cáo tài chính. Các khoản nợ ngắn hạn bao gồm tất cả các khoản phải trả, các hoá đơn mua
hàng phải thanh toán, các khoản nợ lương, nợ thuế Các khoản nợ dài hạn là các khoản nợ
có thời hạn dài hơn một năm như nợ vay dài hạn, trái phiếu, tài sản thuê mua
Tổng tài sản bao gồm tài sản lưu động và tài sản cố định.
Hệ số này được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp với các chủ nợ
trong việc góp vốn. Thông thường các chủ nợ thích một hệ số nợ vừa phải vì hệ số này càng
thấp thì khoản nợ càng được bảo đảm trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản. Trong khi
đó các chủ sở hữu doanh nghiệp lại ưa thích một hệ số nợ cao vì họ muốn lợi nhuận gia tăng
nhanh mà vẫn toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp. Song, nếu tỷ lệ nợ quá cao thì doanh
nghiệp dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
• Hệ số nợ/ Vốn chủ sở hữu: (Tổng nợ phải trả) / (VCSH)
Hệ số này cho ta nhận xét về mối quan hệ giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu
• Hệ số cơ cấu nguồn vốn: (Tổng VCSH) / (Tổng nguồn vốn)
18
Chỉ tiêu này cho thấy mức độ độc lập hay phụ thuộc của doanh nghiệp đối với chủ nợ,
mức độ tự tài trợ của DN đối với tổng số vốn kinh doanh của mình. Hệ số này càng lớn thể
hiện doanh nghiệp có nhiều vốn tự có, tính độclập cao với chủ nợ, khả năng an toàn về trả nợ
cao.
2.2.2.4 Nhóm các hệ số phản ánh khả năng sinh lời
• Tỷ suất sinh lời doanh thu thuần
Nếu doanh thu thuần được coi là 100% thì giá vốn hàng bán, chi phí tài chính, chi phí
bán hàng, lợi nhuận là bộ phận cấu thành nên doanh thu. Thông thường, việc phân tích lợi
nhuận/doanh thu không chỉ dừng lại ở việc phân tích tỷ lệ lợi nhuận ròng chiếm bao nhiêu %
doanh thu mà quan trọng hơn là phân tích cả lợi nhuận gộp, các yếu tố chi phí khác trên
doanh thu để xem xét tình hình lợi nhuận của Công ty đang bị ảnh hưởng bởi chi phí nguyên
vật liệu, khấu hao hay do chi phí tài chính hay do chi phí quản lý doanh nghiệp quá cồng
kềnh….
Khi một doanh nghiệp mới hoạt động hay có một sản phẩm mới thì tỷ số lợi
nhuận/doanh thu thường thấp (hoặc thua lỗ) do công suất huy động máy móc thiết bị thấp,
doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả. Để kết luận phải xem xét cơ cấu chi phí và bản chất
việc giảm lợi nhuận là do giá vốn tăng hay do doanh nghiệp quản lý tài chính, quản lý hoạt động
không tốt dẫn đến các chi phí hoạt động quá cao so với quy mô tăng trưởng doanh thu.
- Ngay cả khi doanh thu và lợi nhuận đều giảm cũng không phải là dấu hiệu kinh doanh của công
ty đang xấu nếu do doanh nghiệp đang thu hẹp hoạt động, chuyển hướng đầu tư vào các lĩnh vực
hiệu quả, dừng hoạt động những lĩnh vực, mặt hàng kém hiệu quả.
o Việc giảm tỷ suất lợi nhuận/doanh thu là một dấu hiệu chứng tỏ hoạt động kinh doanh của đơn
vị đang có chiều hướng xấu nếu:
- Doanh thu và lợi nhuận đều giảm do công ty kinh doanh không tốt, sản phẩm không bán được,
khả năng cạnh tranh giảm sút
- Lợi nhuận giảm thì dù doanh thu tăng cũng không phải là dấu hiệu tốt mà ngược lại nó còn cho
thấy công ty đang đầu tư vào những mảng kinh doanh kém hiệu quả.
• Tỷ suất sinh lời tổng tài sản (ROA): Lợi nhuận sau thuế/tổng tài sản
20
Khi xem xét chỉ tiêu này cần chú ý rằng: đối với doanh nghiệp có quy mô tài sản lưu
động quá lớn, hoặc tỷ trọng vốn vay cao thì tỷ số này thường rất thấp do chi phí lãi vay cao
làm lợi nhuận thấp.
o Tỷ suất sinh lời tổng tài sản tăng là tốt nếu: doanh nghiệp tăng vốn chủ sở hữu, giảm nợ vay làm
giảm chi phí lãi vay nên lợi nhuận đạt được cao hơn.
o Tỷ suất sinh lời tổng tài sản tăng là dấu hiệu thể hiện doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả nếu:
doanh nghiệp giảm nợ vay do hoạt động kinh doanh bị thu hẹp, doanh thu lợi nhuận giảm nhưng
giảm thấp hơn tốc độ giảm tổng tài sản.
o Tỷ suất sinh lời tổng tài sản giảm không phải là dấu hiệu tồi nếu: việc giảm là do công ty tăng
VCSH nên tổng nguồn vốn tăng tương ứng tổng tài sản tăng, nhưng mức lợi nhuận tăng chậm
hơn tăng tổng tài sản.
o Tỷ suất sinh lời tổng tài sản giảm là dấu hiệu tồi nếu: doanh nghiệp tăng nợ vay, VCSH giảm do
kinh doanh lỗ vốn, hoặc hoạt động kinh doanh mở rộng những đầu tư vào những lĩnh vực không
hiệu quả nên lợi nhuận không tăng, thậm chí còn giảm so với trước.
• Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE): (Lợi nhuận sau thuế)/(VCSH)
Đây là chỉ số được các nhà đầu tư, cổ đông của doanh nghiệp quan tâm nhất vì nó
o ROE giảm là xấu nếu cả lợi nhuận và vốn chủ sở hữu đều giảm do kinh doanh thua lỗ, thu hẹp
quy mô …
2.2.2.5 Hiệu quả hoạt động kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn
nhân tài, vật lực của doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với chi
phí thấp nhất.
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một vấn đề phức tạp, có quan hệ với tất cả
các quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình kinh doanh (lao động, tư liệu lao động, đối
tượng lao động) nên doanh nghiệp chỉ đạt được hiệu quả kinh doanh khi việc sử dụng các
yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả.
Để đánh giá chính xác, có cơ sở khoa học hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, cần
phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp bao gồm các chỉ tiêu tổng quát và các chỉ tiêu cụ
thể. Các chỉ tiêu phải phản ánh được sức sản xuất, sinh lợi và suất hao phí của từng yếu tố,
từng loại vốn và phải thống nhất với công thức tính hiệu quả chung.
Hiệu quả kinh doanh = (Kết quả đầu ra) / (Kết quả đầu vào) (1)
Kết quả đầu ra được xác định bằng các chỉ tiêu như: Tổng sản lượng, doanh thu thuần,
lãi gộp, thu nhập thuần Còn các yếu tố đầu vào bao gồm lao động, tư liệu lao động, đối
tượng lao động, vốn vay, vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu (1) phản ánh sức sản xuất, sức sinh lợi của các chỉ tiêu phản ánh đầu vào.
Hiệu quả kinh doanh còn được đo bằng cách nghịch đảo.
Hiệu quả kinh doanh = (Kết quả đầu vào) / (Kết quả đầu ra) (2)
22
Chỉ tiêu (2) phản ánh suất hao phí của các chỉ tiêu đầu vào, nghĩa là để có một đơn vị
kết quả đầu ra thì hao phí hết mấy đơn vị chi phí đầu vào.
• Phương pháp phân tích: Tính ra các chỉ tiêu phục vụ cho quá trình phân tích, sau đó so sánh
giữa kỳ phân tích với kỳ gốc (kỳ kế hoạch hoặc thực tế kỳ trước). Nếu các chỉ tiêu phản ánh
hiệu quả tăng lên chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản tăng lên và ngược lại. Bên cạnh đó cần so
sánh với số liệu của các doanh nghiệp khác hoặc chỉ số trung bình ngành (nếu có) để đưa ra các
kết luận khách quan nhất.
2.2.2.6 Các chỉ số giá trị thị trường (Market Value Ratios)
giá trị ghi sổ tại quý gần nhất của cổ phiếu đó.
Công thức tính như sau:
Tỷ số P/B = Tổng giá trị thị trường các cổ phiếu
Tổng giá trị tài sản - giá trị tài sản vô hình và nợ
- Đối với các nhà đầu tư, P/B là công cụ giúp họ tìm kiếm các cổ phiếu có giá thấp mà phần lớn
thị trường bỏ qua.
- Nếu một doanh nghiệp đang bán cổ phần với mức giá thấp hơn giá trị ghi sổ của nó (tức là có tỷ
lệ P/B nhỏ hơn 1), khi đó có hai trường hợp sẽ xảy ra: hoặc là thị trường đang nghĩ rằng giá trị
tài sản của công ty đã bị thổi phồng quá mức, hoặc là thu nhập trên tài sản của công ty là quá
thấp.
- Nếu như điều kiện đầu tiên xảy ra, các nhà đầu tư nên tránh xa các cổ phiếu này bởi vì giá trị tài
sản của công ty sẽ nhanh chóng được thị trường điều chỉnh về đúng giá trị thật.
- Còn nếu điều thứ hai đúng, thì có khả năng lãnh đạo mới của công ty hoặc các điều kiện kinh
doanh mới sẽ đem lại những triển vọng kinh doanh cho công ty, tạo dòng thu nhập dương và
tăng lợi nhuận cho các cổ đông.
- Ngược lại, nếu một công ty có giá thị trường của cổ phiếu cao hơn giá trị ghi sổ thì đây thường
là dấu hiệu cho thấy công ty làm ăn khá tốt, thu nhập trên tài sản cao.
Ngoài hai chỉ số trên, còn có một chỉ số được sử dụng đánh giá mức độ tăng trưởng của
doanh nghiệp, đó là tỷ số tăng trưởng.
Đây là các chỉ số cực kỳ có ý nghĩa với các cổ đông và nhà đầu tư để xem xét xem
công ty đáng giá đến đâu và cho phép các chủ nợ dự đoán được khả năng trả nợ của các
khoản nợ hiện hành và đánh giá các khoản nợ tăng thêm nếu có
24
Chỉ số tăng trưởng: G =RR x ROE
Trong đó: RR: Tỷ lệ lợi nhuận giữ lại
ROE: Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu
2.2.3 Phân tích dòng tiền doanh nghiệp
Như chúng ta đã biết Bảng lưu chuyển tiền tệ nói lên khả năng tạo tiền, tình hình quản lý
các tài sản và trách nhiệm pháp lý ngoài vốn hiện thời, chi tiết các khoản đầu tư vào tài sản sản
suất và các khoản đầu tư tài chính của doanh nghiệp.