Tiểu luận về các phương pháp gian lận báo cáo tài chính và mối liên hệ giữa gian lận báo cáo tài chính với sự phá sản của lehman brothers - Pdf 32

1

1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
-----o0o-----

BÀI TẬP NHÓM
PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Sinh viên thực hiện:
Mai Thị Phương – 1311330052
Nguyễn Thu Hà – 1311330013
Nguyễn Thị Thùy Ngân - 1313330044
Lớp: Anh 4 – k52 - TCNH

Hà Nội, ngày 21 tháng 9 năm 2015

2

2


Mục Lục

MỞ ĐẦU
Chúng ta đã từng thấy những khác biệt lớn đến kinh ngạc giữa kết quả kinh doanh trước
và sau kiểm toán. Việc nhận diện các thủ thuật “làm đẹp” báo cáo tài chính sẽ giúp nhà đầu
tư có cái nhìn thận trọng và toàn diện hơn về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Có
rất nhiều cách để tác động đến lợi nhuận cũng nhưng các chỉ số tài chính.


Vào những ngày cuối năm, công ty có thể ghi nhận doanh thu trước khi thực sự xuất
hàng để đạt chỉ tiêu doanh thu. Việc hạch toán doanh thu được thực hiện ngay khi xuất hóa
đơn vào ngày cuối năm trong khi sang năm mới, sau nhiều ngày, hàng mới được xuất đi.
4. Phân bổ doanh thu

Ước lượng khối lượng công việc hoàn thành để ghi nhận doanh thu
Với các doanh nghiệp liên quan đến hoạt động xây dựng, san lấp hoặc EPC
(Engineering, Procurement and Construction), một trong những thủ thuật phổ biến nhất có
lẽ là ước lượng phần trăm hoàn thành công việc trong ghi nhận doanh thu.
Ước lượng phần trăm hoàn thành công việc phụ thuộc nhiều vào nhận định, kinh
nghiệm và thực tế tiến độ hoàn thành công việc. Dù việc ước lượng phải dựa trên cơ sở hợp
lý, nhưng doanh nghệp vẫn có đủ lý lẽ để chứng minh việc ghi nhận doanh thu của mình là
đáng tin cậy để giải trình với kiểm toán.
5. Tác động đến thu nhập khác
a. Thu nhập từ hoạt động Tài chính

Thường gặp nhất là việc các công ty ghi nhận các khoản thu nhập khác vào doanh thu
như thu nhập từ hoạt động tài chính và thu nhập bất thường, nhằm tăng tỉ lệ tăng trưởng
doanh thu, tạo ảo tưởng về tiềm năng phát triển của công ty. Các khoản thu nhập như chiết
khấu thanh toán, thanh lý tài sản cố định là ví dụ.
b. Thanh lý tài sản cố định
Doanh nghiệp còn có thể làm tăng lợi nhuận từ chính tài sản cố định. Theo chuẩn
mực kế toán Việt Nam, doanh nghiệp không được đánh giá lại giá trị tài sản khi đang sử
dụng. Tuy nhiên, nếu dùng tài sản này góp vốn kinh doanh thì sau quá trình định giá theo
“giá thị trường” doanh nghiệp sẽ có nguồn lợi nhuận khác đáng kể. Hay đơn giản hơn là
thanh lý một số tài sản cố định có giá trị lớn.
c. Bán các khoản đầu tư hiệu quả
Ngoài trì hoãn thanh lý các khoản đầu tư không hiệu quả, công ty có thể bán các
khoản đầu tư sinh lời nhằm tăng thêm lợi nhuận cho năm hiện tại. Động thái này được ví

chậm luân chuyển, hàng hỏng… không chính xác.
Một loạt khoản nợ thực chất là nợ xấu, nợ không có khả năng thu hồi đã được… phớt
lờ, dẫn tới lợi nhuận của Doanh nghiệp được hạch toán là con số dương đẹp đẽ, trong khi,
bản chất là Doanh nghiệp lỗ.
c. Trích lập dự phòng giảm giá đầu tư tài chính
Một vài doanh nghiệp, ngoài hoạt động kinh doanh cốt lõi còn mở rộng sang lĩnh vực
đầu tư tài chính thông qua việc mua cổ phiếu. Trường hợp doanh nghiệp đầu tư vào các cổ
phiếu đang niêm yết trên sàn thì các khoản đầu tư này tất nhiên phải được đánh giá lại theo
giá thị trường vào thời điểm cuối năm.
Thế nhưng, đối với những cổ phiếu chưa niêm yết hoặc thanh khoản thấp thì việc
đánh giá lại các khoản đầu tư này xem ra không dễ dàng.Trước nhiều sự lựa chọn, doanh
nghiệp có thể chọn cách an toàn nhất thông qua tham vấn từ các công ty chứng khoán để
tránh phải ghi nhận dự phòng giảm giá đầu tư tài chính.
Cũng bằng phương thức tương tự, doanh nghiệp có thể chỉ trích lập dự phòng ít hơn
mức cần thiết để giảm bớt mức thua lỗ ghi nhận trong Báo cáo kết quả kinh doanh.
2. Cắt giảm chi phí hữu ích
Cắt giảm chi phí hữu ích như chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D), chi phí quảng
cáo, chi phí duy tu, bảo dưỡng thiết bị cũng là cũng là một cách có thể làm tăng lợi nhuận.
Tuy nhiên, vì các chi phí này có vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của công ty
về lâu dài, nên sử dụng giải pháp này cũng đồng nghĩa với việc hy sinh các khoản lợi nhuận
tiềm năng trong tương lai.
3. Công bố sai lệch về dòng tiền
Che giấu các chi phí bằng cách chuyển chi phí hoạt động vào hoạt động đầu tư.
VD: vụ Worldcom 2011.
4. Trì hoãn thanh lý tài sản không có nhu cầu sử dụng hoặc các khoản đầu tư
5

5



Gian lận tài chính: Cơ chế SPV cũng có thể lạm dụng nhờ cách hạch toán ngoại bảng
(off-balance sheet), đề làm đẹp báo cáo tài chính, đáp ứng các tỷ lệ an toàn vốn hay là giấu
nợ.
6

6


VD: vụ sụp đổ của Enron hồi năm 2001. Enron đã sử dụng các SPV để làm giảm quy
mô các khoản nợ đồng thời khuếch đại lợi nhuận và nguồn vốn.
2. Hoạch toán theo giá thị trường (Mark to Market – MTM)
Hoạch toán theo giá thị trường (MTM) là 1 tiêu chuẩn kế toán buộc các doanh nghiệp
phải ghi nhận mức giá của tài sản trên bảng cân đối theo giá trị thị trường tại thời điểm hạch
toán.
VD: Tháng 6 và tháng 7/2007, Bear Stearns đã báo cáo 2 quỹ đầu cơ chính của hãng
là Bear Stearns High-Grade Structured Credit Fund và High-Grade Structured Credit
Enhanced Leveraged Fund đã phải giảm gần như toàn bộ giá trị của hầu như tất cả các tài
sản trên bảng cân đối kế toán. Sự kiện này thổi bùng lo ngại cho rằng tác động tiêu cực sẽ
lan rộng
3. Repo 105
( Thủ thuật này sẽ được tìm hiểu trong case study về Lehman Brothers)
B. MỖI LIÊN HỆ GIỮA GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ SỰ SỤP

ĐỔ CỦA LEHMAN BROTHER
Tổng quát về sự sụp đổ của Lehman Brothers.
.Vào năm 1994, American Express từ bỏ chiến lược “siêu thị tài chính” của mình.
Kết quả, một công ty nhỏ, thiếu vốn tách ra từ tập đoàn này, với tên gọi ban đầu là
Lehman Brothers. Đó là lý do tại sao, nhiều người vẫn nói rằng, Lehman không phải
là một ngân hàng đầu tư 158 tuổi, mà chỉ là một công ty 14 tuổi với cái tên 158 tuổi.
Sự thay đổi trong cách nhìn của CEO Fuld là một trong những lý do đẩy Lehman vào

7


-

-

-

-

Cùng với đà leo thang của khủng hoảng, các loại chứng khoán này liên tục sụt giá và
trở thành liều thuốc độc đối với khả năng thanh khoản của Lehman.
Kết quả là riêng trong nửa đầu năm 2008, cổ phiếu của Lehman Brother mất giá tới
70%. Lòng tin của các nhà đầu tư tiếp tục giảm đi khi cổ phiếu của công ty mất giá
thêm 50% vào ngày 9 tháng 9 .
Trước dấu hiệu Chính phủ Hoa kỳ sẽ không làm gì để cứu công ty tài chính này cũng
như những nỗ lực cuối cùng tìm đối tác mua đã trở nên vô vọng sau khi ngân hàng
Anh Barclays rút khỏi đàm phán, ngày 10 tháng 9 công ty tuyên bố đã thua lỗ 3,9
tỷ đôla Mỹ. Ngày 15 tháng 9, Lehman Brother đệ trình hồ sơ xin phá sản. Sự sụp đổ
của Lehman không chỉ khiến các cổ đông điêu đứng mà còn khiến 25.000 nhân viên
của tập đoàn này lâm vào cảnh thất nghiệp.
II.
Mối liên hệ giữa việc gian lận báo cáo tài chính với sự sụp đổ của Lehman
Brothers
Ngày 15/9/2008, một trong những tập đoàn chứng khoán và ngân hàng đầu tư lớn thứ
4 của Mỹ là Ledman Brother tuyên bố phá sản với khoản nợ 613 tỷ đôla Mỹ sau khi
không có công ty nào chấp nhận mua lại.
Các nhà nghiên cứu cho rằng, lý do Lehman Brothers phá sản là do ngân hàng này đã
liều mình tham gia và thua cuộc trong một trò chơi đầy mạo hiểm, với những khoản



-

-

-

-

-

-

-

-

tưởng, tín dụng Lehman tốt hơn, vay mượn dễ hơn. Lehman dùng xảo thuật này để
cải thiện báo cáo tài chính với số tiền ngày càng lớn.
2. Hoạt động của repo 105 như thế nào?
Lehman thường xuyên tăng cường sử dụng các giao dịch Repo 105 trong những
ngày trước kỳ hạn công bố BCTC. Đồng thời, trong các BCTC này Lehman đã không
tiết lộ việc vay tiền từ các giao dịch Repo mặc dù đã tiến hành đến hàng chục tỷ.
Lehman sử dụng dòng tiền từ giao dịch Repo để thanh toán các khoản phải trả và
tổng tài sản trên BCTC giúp giảm tỷ số đòn bẩy tài chính (leverage ratio. Một vài
ngày sau khi bắt đầu kỳ mới, doanh nghiệp sẽ vay những khoản cần thiết để trả nợ
vay cộng với lãi bằng tiền mặt đồng thời mua lại chứng khoán khôi phục lại tài sản
trên bảng Balance Sheet.
Cuối năm 2007 đầu năm 2008, có một sự leo thang trong việc sử dụng các giao dịch

200.000
Công cụ tài chính
350.000
Vay ngắn hạn ký quỹ
325.000
Hợp đồng ký quỹ
350.000
Vay dài hạn
150.000
Phải thu
20.000
Phải trả
98.000
Tài sản khác
72.500
Vốn chủ
27.000
9

9


Tổng cộng
800.000
Hệ số đòn bẩy tài chính
30
Hệ số đòn bẩy tài chính thuần 17
-

Tổng cộng

Vốn chủ
27.000
Tổng cộng
800.000 Tổng cộng
800.000
Hệ số đòn bẩy tài chính gộp 30
(Tổng tài sản/ Vốn chủ)
Hệ số đòn bẩy tài chính
17
(Tổng tài sản-Hợp đồng ký quỹ)/vốn
thuần
chủ
- Ngay sau đó, Lehman sử dụng tiền thu được từ Repo 105 để thanh toán cho các
khoản vay ngắn hạn ký quỹ khiến cho tổng tài sản và hệ số đòn bẩy tài chính giảm
xuống.
(Bảng cân đối kế toán của Lehman sau khi thực hiện dùng tiền thu được từ repo 105
thanh toán khoản vay ngắn hạn kỹ quỹ)
Tài sản (triệu USD)
Nguồn vốn (triệu USD)
Tiền
7.500
Vay ngắn hạn
200.000
Công cụ tài chính
300.000 Vay ngắn hạn ký quỹ
275.000
Hợp đồng ký quỹ
350.000 Vay dài hạn
150.000
Phải thu


tài sản mà Lehman đã “hô biến” khỏi bảng cân đối kế toán nhằm giảm hệ số nợ lên
đến gần 50 tỷ USD.
(Bảng số liệu sử dụng và tác động của repo 105 đối với Lehman Brothers)
Thời gian
Repo 105
Hệ số đòn bẩy tài chính thuần
(Tỷ USD)
Sử dụng Repo Không sử dụng
Chênh lệch
105
Repo 105
Q4/2007
38,6
16,1
17,8
1,7
Q1/2008
49,1
15,4
17,3
1,9
Q2/2008
50,38
12,1
13,9
1,8
(Nguồn: Báo cáo điều tra của Valukas)
Đây chính là giai đoạn thị trường tài chính phố Wall tăng cường mối quan ngại về tình
trạng áp dụng thái quá đòn bẩy tài chính của các ngân hàng đầu tư. Các ngân hàng lớn, bao

5.

12

Financial statement fraud
The Lehman Brothers Bankruptcy A
Trang Web:
Trang web:
Báo cáo điều tra của Valukas

12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status