Chơng I. Những vấn đề cơ bản chung về
marketing xuất khẩu.
1.1. Khái quát về marketing xuất khẩu.
1.1.1. Khái niệm về marketing xuất khẩu.
Trớc khi tìm hiểu về marketing xuất khẩu ta phải nghiên cứu và tìm hiểu
về khái niệm của marketing
- Theo philipkotler: Marketing là một qui trình xã hội qua đó các cá
nhân hay nhóm thu đợc điều họ cần hay muốn qua việc sáng tạo, đề xuất và
trao đổi một cách tự do các sản phẩm và dịch vụ có giá trị đối với ngời khác.
-Theo Ray Corey: Marketing bao gồm mọi hoạt động mà công ty sử
dụng để thích nghi với môi trờng của mình một cách sáng tạo và có lợi.
-Các nhà làm công tác marketing ở việt nam: Marketing là chức năng
quản lý công ty về tổ chức và quản lý toàn bộ hoạt động kinh doanh từ việc
phát hiện ra nhu cầu, biến sức mua của ngời tiêu dùng thành nhu cầu thực sự
về một loại hàng cụ thể, đến việc đa hàng hoá đến tận tay ngừơi tiêu dùng
cuối cùng nhằm đảm bảo cho công ty thu đợc lợi nhuận cao nhất.
Nh vậy có rất nhiều quan điểm về marketing , mỗi một khái niệm làm
nổi bật những khía cạnh quan trọng của marketing trong cuộc sống nói chung
và trong đời sống doanh nghiệp nói riêng. Qua đó, ta thấy marketing là tìm
hiểu thị trờng, xác định nhu cầu ngay từ trớc khi sản xuất ra sản phẩm nhằm
đáp ứng nhu cầu đó, không những thế nó còn khơi dậy nhu cầu, hớng dẫn
nhu cầu, kích thích và nuôi dỡng nhu cầu ngày càng phát triển.
Marketing bao gồm hai loại là marketing nội địa và marketing quốc tế.
Một trong những hình thức của marketing quốc tế đợc biểu hiện dới hình
thức marketing xuất khẩu.
Định nghĩa về marketing quốc tế là dựa trên định nghĩa chung về
marketing, chỉ khác là hàng hóa và dịch vụ đợc trao đổi vợt qua biên giới
chính trị của một quốc gia, từ hình thức xuất nhập khẩu đến hoạt động liên
1
doanh, các công trình chìa khóa trao tay, các hợp đồng quản lý, hoạt động
của các công ty đa quốc gia
một hiện tợng quan điểm mới. " Marketing toàn cầu là sự phối hợp, nhất thể
hóa, và kiểm soát các hoạt động marketing nhằm đảm bảo các mục đích và
mục tiêu của công ty giành đợc một cách đồng thời trong và đan chéo các thị
trờng nớc ngoài." N vậy hoạt động của marketing toàn cầu là nhất thể hóa
một cách cộng hởng các nỗ lực marketing quốc tế và ngoài nớc của công ty.
Đảm bảo rằng các mục tiêu chiến lợc của công ty đạt đợc và đợc duy trì trong
và đan chéo các thị trờng nớc ngoài. ngoài ra, nó còn phát triển và duy trì các
lợi thế cạnh tranh khác biệt của công ty trong từng thị trờng nớc ngoài của
nó.
Mặt khác, marketing xuất khẩu là một bộ phận chính yếu của marketing
quốc tế.Gerald Albaum đã nối rằng:"Phạm vi chủ yếu của marketing quốc tế
là hoạt động xuất khẩu nhằm bán sản phẩm ra thị trờng nớc ngoài, hoạt động
nhập khẩu nhằm mua các sản phẩm từ thị trờng nớc ngoài và quản trị các
hoạt động kinh daonh quốc tế". Còn theo Philip Kotler:"Hoạt động marketing
quốc tế là những qui định về các phơng thức thâm nhập thị trờng cá thể là
xuất khẩu, liên doanh hay đầu t trực tiếp.". Còn Michel R.Czinkota và Ilkka
A.Ronkainen cho rằng:"Marketing quốc tế từ những hoạt động xuất nhập
khẩu đến các hoạt động cấp giấy phép, liên doanh,chi nhánh độc lập, các
công trình chìa khóa trao tay và các hợp đồng quản lý."
3
Nh vậy, Marketing xuất khẩu mang đầy đủ các đặc trng của marketing
chung song " Sự thành thạo những nguyên tắc marketing chung là rất cần
thiết nhng cha đủ để đạt thành công trong marketing xuất khẩu."
Marketing xuất khẩu đợc hiểu nh sau:"Marketing xuất khẩu là hoạt
động marketing của một số quốc gia nhất định, ứng dụng vào việc xuất khẩu
hàng hóa và dịch vụ của mình ra nớc ngoài với yêu cầu cơ bản là thích ứng
các chiến lợc marketing đã áp dụng ở thị trờng nội địa với môi trờng và nhu
cầu của thị trờng xuất khẩu bên ngoài."
Do vậy, marketing xuất khẩu là marketing-mix của hàng hóa và dịch vụ
giành riêng cho các khách hàng trên thị trờng quốc tế với nhiều yêu cầu khác
* Xác định thời cơ marketing xuất khẩu.
Khi doanh nghiệp kinh doanh trên thị trờng quốc tế luôn tìm các cơ hội
cũng nh luôn đa ra các biện pháp phìng ngừa rủi ro nhằm giúp doanh nghiệp
đạt đợc lợi nhuận caovà không bị đe dọa từ môi trờng khách quan cũng nh
chủ quan mang lại. Do vậy, việc phân tích thời cơ marketing xuát khẩu có ý
nghĩa hết sức quan trọng trong việc hình thành một chính sách marketing
hiệu quả.
Phân tích cơ hội marketing là việc phân tích các yếu tố thuộc môi trờng
vĩ mô nh:nhân khẩu học, kinh tế, công nghệ, chính trị, luật pháp, văn hóa, xã
hội, .và các yếu tố của môi tr ờng vi mô nh: Khách hàng, đối thủ cạnh
tranh, kênh phân phối, ngời cung ứng, có ảnh h ởng đến khả năng lợi nhuận
từ thị trờng đó mang lại.
Xác định thời cơ
Marketing Xuất
khẩu
Chiến lược
Marketing xuất
khẩu
Xác lập cặp sản
phẩm/ thị trường
Xác định chiến lư
ợc XK và chiến lư
ợc Marketing
Nỗ lực thực hiện
Marketing-mix
Kiểm soát
5
Cơ hội marketing xuất khẩu là một lĩnh vực mà công ty có thể thu lời từ
đó . Cơ hội có thể liệt kê và phân loại theo mức độ hẫp dẫn và xác xuất thành
công của nó. Xác xuất thành công của công ty phụ thuộc vào sức mạnh của
ngời làm marketing xuất khẩu phải tính đến yếu tố môi trờng kinh doanh
quốc tế trong marketing xuất khẩu của mình. Trong đó, yếu tố luật pháp ,
chính trị và văn hóa có tác động sâu sắc đến việc xác lập này. Đặc biệt là môi
trờng văn hóa. Cho dù thế giới ngày nay có vẻ nh càng nhỏ bé do những tiến
bộ về truyền tin và vận tải song những thói quen, những tập tục xã hội, mô
hình ứng xử con ngời, những chân giá trị của mỗi dân tộc vẫn đ ợc duy trì
và ít có sự thay đổi.Không đánh giá đúng, không hiểu hết về môi trớng văn
hóa thì sản phẩm không thích ứng với thị trờng mình định thâm nhập , điều
đó sẽ gây ra những thiệt hại vô cùng lớn cho doanh nghiệp.
* Xác định chiến lợc xuất khẩu và chiến lợc marketing.
Sau khi đã phân tich đợc cơ hội xuất khẩu và tìm đợc sản phẩm thích
ứng với nhu cầu thị trờng thì nhà làm Marketing XK xây dựng nên chiến lợc
XK sản phẩm của mình vào thị trờng đó,với các biện pháp marketing hữu
hiệu nhất nhằm đạt đợc hiệu quả cao nhất.
* Chiến lợc marketing XK.
Phải đa ra đợc những phơng pháp khắc phục những khó khăn, tránh đợc
những hiểm họa, tận dụng và khai thác đợc những thế mạnh của công ty. Bao
gồm: Phân tích SWOT, hoạch định chiến lợc marketing, xây dựng kế hoạch
marketing xuất khẩu, cuối cùng là tổ chức thực hiện và kiểm tra toàn bộ
chiến lợc.
* Nỗ lực marketing -mix xuất khẩu.
Marketing-mix là tập hợp những công cụ marketing mà công ty sử dụng
để theo đuổi những mục tiêu marketing của mình trên thị trờng mục tiêu.
Trong marketing-mix có 4 yếu tố gọi là 4P, bao gồm: sản phẩm, giá, phân
phối, và xúc tiến.
8
* Kiểm soát.
Trong quá trình Marketing xuất khẩu có nhiều yếu tố phát sinh do đó để
chiến lợc marketing xuất khẩu đạy đợc hiệu quả, đi đúng với mục tiêu công
ty đã định thì buộc các nhà làm marketing phải kiểm soát đợc toàn bộ quá
nghiên cứu các yếu tố của môi trờng kinh doanh quốc tế là vô cùng quan
trọng trong kinh doanh xuất khẩu. Khác với marketing nội địa, marketing
xuất khẩu đợc tiến hành trên một thị trờng mới lạ, các luật lệ, các qui định về
luật pháp, các hệ thống thuế, các phong tục tập quán, thói quen tiêu dùng
không còn giống thị trờng nội địa nữa. Thành công hay thất bại của chuyến
giao dịch phụ thuộc vào việc am hiểu các yếu tố môi trờng này. Do vậy các
nhà làm marketing xuất khẩu cần đầu t thích đáng vào việc nghiên cứu các
yếu tố của môi trờng marketing quốc tế.
Có rất nhiều yếu tố của môi trờng tác động đến các hoạt kinh doanh
xuất khẩu nh môi trờng kinh tế, tài chính; môi trờng chính trị; môi trờng pháp
luật; môi trờng văn hóa, xã hội; môi trờng địa lý;môi trờng khoa học công
nghệ .Và doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu luôn phải tiến hành
nghiên cứu các yếu tố tác động đó ở cả thị trờng nớc nhà và thị trờng nớc chủ
nhà.
b. Chính sách nghiên cứu thị trờng.
Tác dụng cơ bản của việc nghiên cứu thị trờng xuất khẩu là:
- Đánh giá và ớc tính đợc cầu nhằm lựa chọn thị trờng xuất khẩu và định
vị sản phẩm.
- Giúp doanh nghiệp xác định đợc đoạn thị trờng nào là đoạn thị trờng
thích hợp nhất.
- Giúp đánh giá đợc mặt mạnh, mặt yếu của các phơng thức thâm nhập
thị trờng.
- Rất có ích trong việc lập kế hoạch và thực hiện những hoạt động
marketing xuất khẩu, cụ thể nh dịnh giá, quảng cáo, hay hoạt động phân
phối
-Xem xét chiến lợc đề ra của công ty nen theo tiêu chuẩn hóa hay đặc
định theo nhu cầu cụ thể của từng thị trờng riêng biệt.
10
Tóm lại, nghiên cứu thị trờng trong marketing xuất khẩu là chìa khóa
của sự thành công trong kinh doanh xuất nhập khẩu.
- Kỹ thuật thu thập dữ liệu.
Có hai kỹ thuật thu thập chủ yếu là thông qua giao tiếp và thông qua
quan sát.
- Lấy mẫu
Trong quá trinh lấy mẫu, các nhà nghiên cứu cần làm rõ 3 vấn đề:
+ Mẫu đợc chọn từ đâu
+ Quá trình chọn mấu
+Quy mô mẫu
- Thu thập dữ liệu.
Thu thập dữ liệu dù bằng kỹ thuật giao tiếp hay kỹ thuật quan sát cũng
phải sử dụng đến con ngời , làm nảy sinh ra vấn đề phải quản lý con ngời.
Công ty có thể tự làm công tác thu thập (nếu có khả năng) hoặc có thể mua
dữ liệu từ các tổ chức chuyên thu thập và bán dữ liệu. Do đôi khi trình độ thu
thập dữ liệu của công ty còn thấp kém, do không có chuyên môn, không am
hiểu thị trờng thì việc mua dữ liệu bên ngoài là kinh tế và có hiệu quả hơn
cả.
- Phân tích và xử lý dữ liệu.
Khi thu thập xong, dữ liệu cần đợc kiểm tra, hiệu đính,mã hóa, phân
tích và xử lý trớc khi đa vào sử dụng.
- Báo cáo kết quả nghiên cứu.
Mọi vấn đề nghiên cứu cần đợc báo cáo rút ra kết luận. Một báo cáo
nghiên cứu marketing cần cung cấp đầy đủ mọi thông tin ngời đọc cần, dùng
ngôn ngữ dễ hiểu với nội dung đã đợc sàng lọc và lựa chọn.
12
1.2.2.2. Chính sách lựa chọn thị trờng xuất khẩu.
Để đa ra một chính sách marketing xuất khẩu hữu hiệu, trong khâu lựa
chọn thị trờng xuất khẩu, các nhà làm marketing cần lu ý:
- Không nên tập trung vào từng sản phẩm hay thị trờng riêng biệt.
- Ngoài những biện pháp truyền thống tập trung vào việc phân đoạn thị
trờng, quá trình lựa chọn thị trờng còn cần phải tập trung vào những biện
Theo Gerald Albaum định nghĩa:" Tiềm năng xuát khẩu vào thị trờng là
khối lợng hàng hóa mà thị trờng đó có thể tiếp thụ trong một khoảng thời
gian cha xác định trong điêuf kiện phát triển tối u của thị trờng." Hay có thể
mô tả : Tiềm năng thị trờng= các khách hàng theo lý thuyết+ Dung khối thị
trờng tự do(các khách hàng tiềm năng).
Tiềm năng của thị trờng là công cụ hữu ích để đánh giá mức độ hấp dấn
của thị trờng mà căn cứ vào đó công ty đi đến quyết định có thâm nhập thị tr-
ờng đó hay không. Có hai khía cạnh chủ yếu để đánh giá tiềm năng của thị
trờng :(1) số lợng ngời có thể tiêu thụ sản phẩm, (2) Mức độ dự đoán mua
hàng tối đa. Chúng ta có thể lập luận rằng tiềm năng năng thị trờng và bán
hàng vào thị trờng đó là nh nhau. Và ta có thể xây dựng một qui trình cơ bản
để lợng giá tiềm năng thị trờng nh sau:
14
Hình 1.4. Qui trình đánh giá tiềm năng thị trờng.
Để đạt đợc hiệu quả việc đo lờng tiềm năng thị trờng, việc phân tích các
nhóm thị trờng phải đợc tiến hành một các có hệ thống. Để đánh giá tiềm
năng của thị trờng ta đi xem xét cầu thị trờng đối với sản phẩm. Cầu thị trờng
đối với một sản phẩm là tổng lợng hàng sẽ mua của một nhóm khách hàng
xác định, ở một khu vực địa lý xác định. Khi đã hình thành nên bức tranh chi
phí cho marketing xuất khẩu, nhà xuất khẩu có thể suy nghĩ về thị trờng và
dự báo cho công ty. Chính vì vậy chính phủ các nớc và tổ chức quốc tế đều
có sẵn các ấn phẩm mang thông tin tiềm năng thị trờng hỗ trợ cho các doanh
nghiệp. Sau khi đã sử dụng một số công cụ và kỹ thuật nghiên cứu thị trờng
và những thông tin có trong tay thì công ty có thể dự đoán thô về tổng doanh
thu tiềm năng ở một thị trờng thế giới.
- Những cân nhắc rào cản khi thâm nhập thị trờng
15
Nghiên cứu dữ liệu thứ cấp
Chính sách tập đoàn
Các chỉ tiêu phân loại thị trường
các công ty phạm luật.
\ Thuế bù: là loại thuế đợc đánh để bù lại phần trợ cấp đợc hởng ở nớc
xuất khẩu.
+Những khoản tiền nhập khẩu phải trả khác.
\ Cách đánh thuế có thể thay đổi.
\ Khoản tiền nhập khẩu trả thêm tạm thời.
\ Thuế nhập khẩu bồi thờng.
16
- Chi phí vận chuyển: Chi phí chuẩn bị xuất khẩu và vận chuyển có thể
ảnh hởng đến tiềm năng thị trờng đối với sản phẩm của các công ty kinh
doanh. Nếu 1 sản phẩm tơng tự nh của công ty đã đợc sản xuất trên thị trờng
mục tiêu, chi phí vận chuyển có thể làm cho sản phẩm của công ty không có
tính cạnh tranh. Khảo sát các phơng án vận chuyển khác nhau cũng nh các
cách để chuyên biệt hoá sản phẩm nhằm bù vào những bất lợi về giá.
- Đánh giá cấp độ và mức độ cạnh tranh trên thị trờng tiềm năng, việc
thơng thảo với các nhà xuất khẩu, chủ ngân hàng và các giá trị quốc gia
thuộc ngành công nghiệp khác là cực kỳ có ích vào giai đoạn lựa chọn thị tr-
ờng xuất khẩu.Sử dụng các đại diện thơng mại của một nớc ở nớc ngoài cũng
có thể là một biện pháp có giá trị. Khi tiếp xúc với đại diện thơng mại ở nớc
ngoài điều quan trọng là cung cấp đợc càng nhiều thông tin càng tố.
- Đánh giá sự phù hợp sản phẩm.
Với thông tin về tiềm năng của thị trồng, chi phí thâm nhập thị trờng, và
sự cạnh tranh ở địa phơng thì sự đánh giá mức độ phù hợp của sản phẩm rất
quan trọng.Một sản phẩm phù hợp với một thị trờng nếu nó thoả mãn những
tiêu chuẩn sau:
+ Sản phẩm có thể lôi kéo khách hàng trên thị trờng tiềm năng.
+ Sản phẩm không đòi hỏi điều chỉnh cho thích hợp hơn về mặt kinh tế
đợc quyết định bởi số lợng bán trên thị trờng.
+ Sự hạn chế nhập khẩu hoặc thuế quan cao không loại trừ sản phẩm
hoặc làm nó quá đắt nằm trong phạm vi,đòi hỏi của giá cạnh tranh hoặc chi
tại trong
nước
Chi nhánh
bán hàng
nước ngoài
Đại diện
nằm ở nước
ngoài
Nhà buôn
đóng tại
nước nhà
SX
Công ty con
bán hàng ở
nước ngoài
Kho hàng
ở nước
ngoài
Nhà phân
phối hay
đại lý ở nư
ớc ngoài
- Xuất khẩu trực tiếp: Là hình thức đợc tiến hành khi nhà sản xuất hay
nhà xuất khẩu trực tiếp bán hàng cho nhà nhập khẩu hay ngời mua ở thị trờng
nớc ngoài thông qua các tổ chức do nhà sản xuất lập ra, tức thuộc nhà sản
xuất, đóng tại trong nớc hay nớc ngoài.
*) Các tổ chức đóng tại trong nớc nh:
+ Phòng xuất khẩu nằm trong công ty, thuộc công ty: Là cơ chế đơn
giản, dễ thành lập nhất. Chức năng của nó là trực tiếp bán hàng hay chỉ đạo
việc bán hàng. Còn các công việc khác nh quảng cáo, vận chuyển hàng, tín
các quy định và pháp luật, gần gũi với thị trờng nớc ngoài.
+Đại diện của doanh nghiệp ở nớc ngoài:
Biệt phái viên xuất khẩu thờng là ngời c trú ở trong nớcnhng đợc cử ra ở
nứoc ngoài một thời gian để thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ bán hàng, chào hàng,
đặt mối quan hệ .
+Các nhà phân phối, các đại lý, đại diện ở nớc ngoài.
-Xuất khẩu gián tiếp
Xuất khẩu gián tiếp là khi các nhà sản xuất xuất khẩu (SXXK)sử dụng
các tổ chức độc lập nằm ở nhà sản xuất để xuất khẩu hàng hóa của mình ra n-
ớc ngoài. Có 3 loại hình đựơc sử dụng phổ biến:
Nhà buôn xuất khẩu đóng tại nớc nhà sản xuất.
+ Nhà buôn xuất khẩu này có chức năng chủ yếu là mua và bán hàng
kinh doanh độc lập, thông thờng làm cả chức năng xuất khẩu và nhập khẩu.
Khi sử dụng nhà buôn xuất khẩu thì nhà xuất khẩu chỉ đóng vai trò nhà hoạt
động marketing nội địa.Toàn bộ hoạt động marketing quốc tế đều do nhà
buôn xuất khẩu này đảm nhiệm trừ những thay đổi, cải tiến hay đóng gói
hàng để đáp ứng những nhu cầu cụ thể của các thị trờng riêng biệt.
+ Công ty thơng mại : hoạt động trên mọi linh vực nh thong mại, tài
chính, kinh doanh, phân phối, nó còn đóng một vai trò chủ đạp trong các
lĩnh vực hoạt động nh thuê tàu, lu kho, chuyển giao công nghệ, .
Đại lý đóng tại nớc nhà sản xuất XK
21
+ Đại lý xuất khẩu hoa hồng: còn đợc giạ là ssại lý mua hàng xuất khẩu
thực chát là đại diện của ngời mua, do ngời mua thuê, đóng tại nớc ngời
SXXK, hoạt động trên cơ sở các đơn hàng tay hay các đơn hàng ủy thác thác
nhận đợc từ phía ngời mua và do ngời mua trả tiền hoa hồng. Các điièu khoản
mua bán không phải do nhà sản xuất /xuất khẩu qui định mà do giữa ngời
mua hàng với đại lý. Đại lý này gửi đi các bản qui cách phẩm chất tới các
nhà sx mời thầu. Với các điều kiện khác không đổi, nhà sản xuất/xuất khẩu
nào chào giá thấp hơn sẽ thắng thầu
hàng hóa vậy chất, dịch vụ, địa diêm, tỏ chc, ý tởng, chính sánh sản phẩm nói
chung và chính sánh sản phẩm quốc tế nói riêng đợc thể hiện thông qua nội
dung sau:
Danh mục, chủng loại sản phẩm.
Một danh mục sản phẩm là một tập hợp tất cả những sản phẩm và mặt
hàng mà một ngời bán cụ thể đa ra để bán cho ngời mua. Danh mục sản
phẩm của một công ty sẽ có chiều dài, chiều rộng, và mật độ nhát định. chiều
rộng danh mục sản phẩm thể hiện công ty có bâo nhiêu sản phẩm khác nhau.
Chiều dài của danh mục sản phẩm là tổng số các mặt hàng trong danh mục
sản phẩm. Chiều sâu trong danh mục sản phẩm thể hiện có bao nhiêu phơng
án của mỗi sản phẩm trong loại. Còn mật độ của danh mục sản phẩmthể hiện
mối quan hệ mật thiết đén mức độ nào giữa các loại sản phẩm khác nhau xét
theo cách sử dụng cuối cùng, thiết bị sản xuất, kênh phân phối hay một ph-
ơng diện nào khác.
Bốn chiều trên của danh mục sản phẩm tạo nên những căn cứ đẻ xác
định chính sách sản phẩm của công ty. Đó là:
+ Mở rộng danh mục sản phẩm bằng cách bổ sung sản phẩm mới.
+ Kéo dài từng loại sản phẩm làm tăng chiều dài danh mục.
+ Bổ sung thêm các phơng án sản phẩm cho từng sản phẩm và tăng
chiều sâu cho danh mục sản phẩm.
23
+ Làm tăng hay giảm mật độ của loại sản phẩm tùy theo ý đồ kinh
doanh của công ty: muốn có uy tín vững chắc trong một lĩnh vực hay tham
gia vào nhiều lĩnh vực.
Chủng loại sản phẩm là một nhóm sản phẩm có quan hệ chặt chẽ với
nhau. Bởi chúng thực hiện một chức năng tơng tự, đợc bán cho ngời tiêu
dùng qua cùng kênh nh nhau hay tạo nên một khung giá cụ thể.
Một danh mục sản phẩm bao gồm nhiều sản phẩm khác nhau, ngời quản
lý cần phải biết doanh số của từng sản phẩm hay nhóm sản phẩm và tình
trạng của sản phẩm đó so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh đẻ từ đó có
hỏi phải có bớc đột phá.
- Chất lợng không đòi hỏi chi phí thêm.
- Chất lợng là cần thiết nhng có thể là không đủ, chạy đua theo chất l-
ợng không thể cứu vãn đợc sản phẩm tồi.
Nhãn hiệu, bao bì sản phẩm.
Nhãn hiệu, bao bì sản phẩm là bộ phận quan trọng trong chính sách sản
phẩm quốc tế. Nhãn hiệu về cơ bản là một sự hứa hẹn của ngời bán đảm bảo
cung cấp cho ngời mua một sản phẩm tốt. Việc thiết kế một nhãn hiệu phù
hợp với sản phẩm cũng nh phù hợp với thị hiếu của thị trờng nớc ngoài là một
phần thiết yếu trong chính sách marketing xuất khẩu của doanh nghiệp.
Bao bì có thể đóng vai trò chủ yếu hay thứ yếu đối với từng loại sản
phẩm. Đối với nhng ngời làm marketing xuát khẩu, bao bì đợc xem là một
yếu tố thiết yếu của chính sánh sản phẩm và trở thành một công cụ marketing
đắc lực. Bao bì thiết kế tốt có thể tạo ra giá trị thuận tiện cho ngời tiêu
dùng(làm nâng cao tổng giá trị của ngời mua) và giá trị khuyến mãi cho ngời
sản xuất.
Dịch vụ sau bán hàng.
Trong thời đại ngày nay thì dịch vụ bán hàng là công cụ để đảm bảo lợi
thế cạnh tranh của công ty( đặc biệt là những công ty sản xuất mặt hàng có
tính công nghiệp và những mặt hàng có kỹ thuật cao). Dịch vụ sau bán hàng
25