SKKN Một số vấn đề về nội dung và phương pháp dạy các yếu tố hình học lớp 3 - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY CÁC
YẾU TỐ HÌNH HỌC LỚP 3”

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do về tính cấp thiết.
Bậc tiểu học là bậc học đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của
người học sinh. Đây là bậc học cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về tự nhiên xã
hội, hoạt động nhận thức, về hoạt động thực tiễn.
Môn Tiếng Việt cũng như Toán nói riêng có vai trò là những môn quan trọng đặc
biệt tạo cho học sinh có một tiền đề vững chắc để học lên các lớp trên, đồng thời đáp
ứng yêu cầu của con người trong thời đại mới. Song để giúp học sinh học toán đạt kết
quả khả quan hơn là một vấn đề không đơn giản. Vì vậy môn Toán cần được chú trọng
ở bậc học Tiểu học, để phù hợp với mục tiêu phát triển giáo dục trong giai đoạn mới.
Mặt khác môn Toán còn góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy
nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề, phát triển trí thông minh,
cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo, góp phần giáo dục lòng tự tin, tinh thần ham
hiểu biết, tính cẩn thận, tinh thần vượt khó và hợp tác, hình thành các phẩm chất cần
thiết và quan trọng của người lao động như: cần cù, cẩn thận, ý chí vượt khó,
Căn cứ vào Tài liệu “Phương pháp dạy học các môn học ở Tiểu học” cho thấy môn
Toán ở cấp tiểu học nhằm giúp học sinh:
- Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên, phân số và số thập
phân, các đại lượng thông dụng, một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản.
- Hình thành những kĩ năng thực hành tính, đo lường, giải toán có nhiều ứng dụng
thực tế trong đời sống.
- Bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí và diễn đạt đúng
(nói, viết) cách phát hiện và cách giải quyết vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống;
kích thích trí tưởng tượng, chăm học và hứng thú học tập; hình thành bước đầu phương
pháp tự học và làm việc có kế hoạch khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo.
2. Mục đích nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm.

tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông và bước đầu ứng dụng vào thực tế.
- Phân biệt điểm ở giữa, trung điểm của đoạn thẳng.
- Biết sử dụng com pa vẽ hình tròn và nắm được tâm, bán kính, đường kính, thực
hành vẽ trí hình tròn.
Từ những kiến thức trên học sinh ứng dụng vào việc nhận dạng hình, ghép hình, vẽ
hình và giải toán có lời văn liên quan đến các yếu tố hình học.
Cụ thể:
* Biểu tượng về các hình hình học.
- Nhận biết, gọi tên và nêu được một số đặc điểm của một số hình hình học: góc vuông,
góc không vuông; hình chữ nhật (có 4 góc vuông, 2 cạnh dài bằng nhau, 2 cạnh ngắn
bằng nhau); hình vuông (có 4 góc vuông và 4 cạnh bằng nhau); hình tròn ( tâm, đường
kính, bán kính); nhận biết điểm ở giữa 2
điểm, trung điểm của một đoạn thẳng.
*Tính chu vi, diện tích của hình hình học:
- Biết tính chu vi hình chữ nhật, hình vuông ( theo quy tắc)
- Biết tính diện tích hình chữ nhật, hình vuông ( theo quy tắc)
* Thực hành vẽ hình:
- Biết dùng ê ke để xác định góc vuông, góc không vuông.
- Biết dùng thước thẳng để xác định trung điểm của một đoạn thẳng cho trước trong
trường hợp đơn giản: đường thẳng vẽ trên giấy kẻ ô li, số đo độ dài đoạn thẳng là các số
chẵn (2cm, 4cm, 6cm,…)
- Biết dùng com pa để vẽ hình tròn
- Biết vẽ đường kính, bán kính của một hình tròn cho trước (có tâm xác định).
Như vậy, muốn học sinh học tốt môn toán thì yếu tố quyết định là người thầy phải
có phương pháp giảng dạy phù hợp nhằm nâng cao chất lượng đồng thời cần phát huy
được tính tích cực của học sinh trên tinh thần đổi mới phương pháp dạy học theo định
hướng chung. Giáo viên giúp học sinh tự phát hiện ra vấn đề của bài học để tự chiếm
lĩnh kiến thức và vận dụng được kiến thức mới, góp phần tạo hứng thú và lòng tự tin
trong học tập đặc biệt là nội dung các yếu tố hình học ở lớp 3 trên cơ sở hướng dẫn, tổ
chức của giáo viên.

và làm thay học sinh.
Qua tiến hành kiểm tra khảo sát học sinh. Ví dụ như dạy bài "Góc vuông, góc
không vuông” ở lớp 3 kết quả như sau:
Số HS được khảo
sát
Số HS hiểu và nhớ
bài
Số HS chưa hiểu
bài
13 8 = 61,5% 5 = 38,5%
Nhìn vào kết quả trên tôi thấy chưa hài lòng. Tôi bắt đầu đi sâu vào tìm hiểu
nguyên nhân vì sao và thấy vướng mắc ở những vấn đề sau:
Quá trình hình thành biểu tượng ban đầu của một số hình khi giới thiệu qua vật
mẫu chẳng hạn "góc vuông, góc không vuông" còn hạn chế còn cứng nhắc, yêu cầu cao.
- Khi học sinh tìm những đồ vật xung quanh có dạng góc thường là học sinh không
tìm được.
- Mặt khác chưa gợi trí tò mò cho học sinh để học sinh tự khám phá kiến thức. Quá
trình rèn luyện thực hành cho học sinh đôi lúc chỉ ở một vài dạng quen thuộc, chưa đa
dạng phong phú, chưa chú ý tới rèn luyện trí
tưởng tượng, phát triển vốn từ vựng về hình học cho học sinh.
- Phương pháp dạy học tích cực cho học sinh chỉ mới dừng ở mức độ hình thức.
Chưa phát huy tính sáng tạo của học sinh. Chẳng hạn với một số bài cắt ghép hình thì
giáo viên chỉ dừng lại ở một số cách đơn giản, chưa khai thác triệt để các cách, các
phương án có thể để giải quyết bài toán.
3. Mô tả các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy các yếu tố hình học ở lớp 3
Khi dạy các các yếu tố hình học tôi đã cần quan tâm tới các vấn đề sau: Các biểu
tượng về hình, các kĩ năng nhận dạng vẽ hình, rèn óc quan sát và trí tưởng tượng phát
triển vốn từ vựng về hình học.
Các yếu tố hình học có cấu trúc đồng tâm lôgic với nhau. Giáo viên phải có thuật
ngữ toán học chính xác rõ ràng phù hợp với tư duy của học sinh làm cho học sinh tiếp

Các bài toán định lượng trong nội dung yếu tố hình học (độ dài cạnh , chu vi, diện
tích) được lựa chọn ứng với các mạch kiến thức số học, đại lượng, giải toán có lời văn.
Khi dạy các yếu tố hình học ở lớp 3 giáo viên cần chú ý tới từng bài, từng tiết dạy
sao cho thu hút được học sinh, gây được hứng thú cho các em trong tiết học giúp các em
nắm bài tự nhiên thoải mái và chắc chắn.
Qua vấn đề trên tôi rút ra một số phương pháp và cách thức tổ chức dạy học ở một
số nội dung các yếu tố hình học ở lớp 3 như sau:
- Trong mỗi bài học giáo viên kết hợp linh hoạt nhiều phương pháp dạy học
như: trực quan, quan sát, thảo luận nhóm nhỏ, thuyết trình, thực hành luyện tập,
- Dạy học trên cơ sở tổ chức và hướng dẫn các hoạt động học tập tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh. Cần khai thác tính đặc trưng của việc hình thành khám
phá kiến thức về nội dung yếu tố hình học đối với học sinh lớp 3 là thông qua con
đường “thực nghiệm” bằng quan sát và đo đạc, so sánh, phân tích đơn giản rồi quy nạp,
khái quát hoá,… Trên cơ sở đó giáo viên cần lựa chọn cách dạy học phù hợp tạo ra
những hoạt động học tập của học sinh đảm bảo tính tích cực cho từng đối tượng học
sinh trong lớp cụ thể là:
* Đối với các loại bài về khái niệm, biểu tượng hoặc nhận dạng các hình hình
học mới có thể tổ chức dạy học bằng cách:
+ Khai thác từ tính trực quan tổng thể đến cụ thể chi tiết để nắm vững và sâu sắc
hơn về khái niệm.
Ví dụ: Hình vuông, hình chữ nhật: nhận dạng qua các yếu tố cạnh, góc, đo đạc, kiểm
tra, hay khi dạy khái niệm diện tích và đo diện tích: đo rồi rút ra quy tắc tính, có thể liên
hệ tới việc đếm số ô vuông trong các hình đã được học trước đó,…
+ Sử dụng đồ dùng trực quan hoặc gắn với các đồ vật trong thực tế có hình dạng
hình học phù hợp để học sinh có biểu tượng hình học và nhận biết được hình đó (khung
ảnh, con tem, tờ giấy, … có dạng hình chữ nhật; viên gạch bông, mặt quân súc sắc, khăn
mùi soa có dạng hình vuông,…; Mặt đồng hồ treo tường, miệng rổ, miệng nón có dạng
hình tròn, …; hình ảnh 2 kim đồng hồ, 2 cánh quạt trần tạo thành một góc; ê ke hoặc
thước thợ mộc giúp học sinh làm quen với góc vuông…)
+ Học sinh liên hệ được khái niệm, kiến thức đã học với khái niệm, kiến thức mới.

nhà,…)
* Học sinh lấy ê ke – quan sát. Ê ke có hình gì?
Giáo viên giới thiệu ê ke.
- Học sinh nhận biết góc vuông và góc không vuông trên ê ke.
- GV giới thiệu: Ê ke dùng để kiểm tra và vẽ góc vuông.
- GV hướng dẫn cách sử dụng ê ke để đo và vẽ góc vuông.
- HS thực hành dùng ê ke để đo, vẽ góc vuông trên ví dụ của GV
Ở bài này giáo viên cần chú ý: Nội dung chưa đi sâu vào khái niệm góc (miền
trong của góc, số đo của góc, kí hiệu của góc dạng AOB).
- Học sinh dùng ê ke nhận biết các góc vuông trong hình và đánh dấu góc vuông:
- Dùng ê ke vẽ góc vuông đỉnh M cạnh MC, MD
C M C M
M D C D D
Khi dạy bài “Hình chữ nhật”, để giúp học sinh nhận biết được các hình dựa theo
đặc điểm về yếu tố cạnh và góc của hình.
- Học sinh lấy hình chữ nhật (trong bộ đồ dùng)
- Dùng ê ke kiểm tra các góc học sinh nhận biết được hình chữ nhật có 4 góc
vuông.
- Đo 2 cạnh dài, 2 cạnh ngắn của hình chữ nhật?
- Nêu nhận xét: Độ dài 2 cạnh dài bằng nhau, 2 cạnh ngắn bằng nhau.
- Giáo viên đưa hình mẫu – Học sinh kiểm tra trên hình mẫu của giáo viên và rút ra
nhận xét

- G: Đây là đặc điểm của hình chữ nhật ABCD.
- Hình chữ nhật có đặc điểm gì?
- Kết luận: Hình chữ nhật có 4 góc vuông, có 2 cạnh dài bằng nhau, 2 cạnh ngắn
bằng nhau.
- Học sinh vẽ hình chữ nhật trên mặt bảng kẻ ô.
- Học sinh lấy ví dụ một số đồ vật có dạng hình chữ nhật?
* Tôi tiến hành tương tự với bài “Hình vuông”, tuy nhiên khi hình thành được đặc

+ Nhận dạng hình theo yêu cầu:
Với dạng bài tập này giáo viên tiến hành như sau:
- Yêu cầu học sinh làm việc cá nhân thao tác trên hình : dùng ê ke, thước hay com
pa đo, kiểm tra để nhận biết đúng yêu cầu. Giáo viên bao quát giúp đỡ học sinh
- Học sinh nêu kết quả.
- Học sinh giải thích cách lựa chọn: Có thể giải thích theo cách lựa chọn hình
đúng hoặc giải thích theo hình sai
Ví dụ: Bài 2/42 Trong các hình dưới đây:
a. Nêu tên đỉnh và các cạnh góc vuông;
b. Nêu tên đỉnh và các cạnh góc không vuông;
3cm 3cm
BMA
B
O
A
O là điểm ở giữa 2 điểm A và B M là trung điểm của đoạn thẳng AB
Như vậy ở bài này học sinh dùng ê ke đo từng góc sau đó học sinh đọc tên đỉnh và
các cạnh góc vuông, góc không vuông. (Góc vuông đỉnh A cạnh AD, AC; góc vuông
đỉnh D cạnh DM, DN…).
Bài 1/84: Trong các hình dưới đây hình nào là hình chữ nhật?
A B M N E G R S

D C Q P I H U T
- Ở bài này học sinh dùng ê ke và thước đo kiểm tra các góc và cạnh của mỗi hình,
dựa vào đặc điểm về cạnh và góc của hình chữ nhật để nhận thấy các hình chữ nhật
- Học sinh nêu tên các hình chữ nhật là MNPQ, RSTU
- Tại sao 2 hình này là hình chữ nhật? (2 hình có 4 góc vuông và 2 cạnh dàI bằng
nhau, 2 cạnh ngắn bằng nhau)
Bài 1/85: Trong các hình dưới đây hình nào là hình vuông?
I

I H
GE
Q
N
M
D
C
BA
P
P
O
I
C. 3
D. 4
- Bài này học sinh phải dùng ê ke đo các góc rồi khoanh vào chữ cái D
2. Đúng ghi Đ, sai ghi S:
M
C

- Với bài này học sinh phải dựa vào kiến thức đã học về mối quan hệ giữa bán
kính và đường kính để tìm ra đáp án đúng là đáp án thứ 3.
3. Câu nào đúng, câu nào sai?
- Bài này học sinh phải dùng hình thức cắt ghép hình để tìm đáp án đúng
D
C
B
O
Độ dài đoạn thẳng OC dài hơn độ dài đoạn thẳng OD

Độ dài đoạn thẳng OC ngắn hơn độ dài đoạn thẳng OM

A
A
B
4. So sánh diện tích hình A với diện tích hình B
Với bài này, học sinh có thể so sánh diện tích của 2 hình bằng cách đếm số ô vuông
hoặc cắt ghép hình tam giác thành hình vuông để so sánh và ngược lại.
* Học sinh không chỉ có kĩ năng nhận dạng hình mà còn thực hành vẽ hình:
Để học sinh vẽ được các hình vấn đề ở đây giáo viên phải rèn cho học sinh kĩ năng
sử dụng đồ dùng (ê ke, com pa, thước) để vẽ hình. Những lỗi học sinh thường mắc khi
thao tác trên đồ dùng như: Đặt góc vuông của ê ke chưa đúng; Giữ thước không chặt,
hay bị lệch; Cầm com pa không đúng cách dẫn đến các hình vẽ không chuẩn như vậy
khi dạy giáo viên cần chú ý tới các lỗi này của học sinh để sửa
- Ví dụ
1. Dùng ê ke để vẽ góc vuông.
A B C
Với bài này học sinh phải dùng ê ke để vẽ cạnh thứ hai của góc, giáo viên cần lưu
ý học sinh đặt đỉnh góc vuông của ê ke trùng với điểm cho trước, một cạnh góc vuông
của ê ke trùng với cạnh cho trước, dùng thước vạch theo cạnh góc vuông còn lại của ê
ke.
2) a. Kẻ thêm một đoạn thẳng để được hình chữ nhật.
B
A
b. Kẻ thêm một đoạn thẳng để được hình vuông.
3. Xác định trung đIểm của đoạn thẳng CD.
C D
4. Vẽ hình tròn tâm O bán kính 2cm.
Vẽ hình tròn tâm O bán kính 3cm.
* Việc dạy học về tính chu vi, diện tích hình chữ nhật; hình vuông ở lớp 3
nhằm mục đích cho học sinh vận dụng được các quy tắc tính chu vi, diện tích để tính
chu vi, diện tích các hình.

)
+ Bước 2: Tìm quy tắc tính diện tích hình chữ nhật.
Yêu cầu học sinh tìm quy tắc tính diện tích hình chữ nhật theo cách sau:
- Không đếm, tính số ô vuông theo hàng: 4 x 3 = 12 cm
2
- Không đếm, tính số ô vuông theo cột: 3 x 4 = 12 cm
2
- Nêu số đo chiều dài, chiều rộng hình chữ nhật?
- So sánh các thừa số khi tính diện tích hình chữ nhật với chiều dài và chiều rông?
- Nêu cách tính diện tích hình chữ nhật theo chiều dài, chiều rộng hình chữ nhật
+ Bước 3: Vận dụng quy tắc làm bài tập 1, 2, 3
Bài toán có nội dung hình học được lồng trong mạch kiến thức “Dạy học giải toán
có lời văn” (Tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông). Vì vậy bên cạnh kiến
thức về hình học cũng cần rèn kĩ năng giải toán có lời văn.
+ Bước 1: Đọc kĩ đề – xác định yêu cầu.
+ Bước 2: Phân tích, xác định lời giải.
+ Bước 3: Trình bày bài giải có câu trả lời.
+ Bước 4: Kiểm tra lời giải và đáp số.
Với cách dạy theo tinh thần đổi mới phương pháp lấy học sinh làm trung tâm là
toàn diện và hệ thống hơn, có khả năng phát triển, khả năng diễn đạt và kích thích tư
duy cho các em.
Các bài dạy, các nội dung được sắp xếp xen kẽ và được trình bày một cách cụ thể
sinh động với nhiều hình vẽ trức quan nhưng vẫn đảm bảo tính chính xác, tính khoa học.
Hệ thống bài tập được sắp xếp từ dễ đến khó, các bài tập ban đầu thường nhằm mục
đích củng cố kiến thức, các bài tập tiếp theo có yêu cầu rèn luyện kĩ năng thực hành từ
mức độ thấp đến cao, bài tập cuối cùng yêu cầu mở rộng nâng cao. Để góp phần hình
thành phương pháp suy nghĩ, phương pháp học tập và làm việc tích cực, chủ động khoa
học, sáng tạo cho học sinh giáo viên cần tổ chức các hoạt động học tập, thường xuyên
tạo ra các tình huống có vấn đề, tìm các biện pháp lôi cuốn học sinh tự phát hiện và giải
quyết vấn đề bằng cách hướng dẫn để học sinh tìm hiểu kĩ vấn đề đó, huy động các kiến

quan hoặc gắn với các đồ vật trong thực tế có hình dạng hình học phù hợp.
- Tổ chức cho học sinh liên hệ khái niệm, kiến thức đã học với khái niệm, kiến
thức mới.
- Những bài có nội dung thực hành giáo viên tổ chức cho học sinh tự động, tự do
thao tác trên hình để tìm ra kết quả, tránh áp đặt hay làm thay học sinh.
Những vấn đề tôi nêu ra không ngoài mong muốn được trao đổi cùng đồng nghiệp,
góp phần bé nhỏ vào phong trào "Dạy tốt - Học tốt". Rất mong sự đóng góp của đồng
nghiệp để vấn đề tôi nêu ra được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status