Biện pháp khai thác và sử dụng hợp lý hệ thống câu hỏi trong giảng dậy phân môn tập đọc sách tiếng việt 5 - Pdf 26

Sáng kiến kinh nghiệm
Dạy Tập đọc - Lớp 5
Đề tài :
Biện pháp khai thác và sử dụng hợp lý hệ thống câu hỏi trong
giảng dạy phân môn tập đọc sách Tiếng Việt 5 .
Phần I:
Cơ sở lý luận, Cơ sở thực tiễn và lý do chọn đề tài.
1. Cơ sở lý luận :
Đổi mới phơng pháp dạy học là một vấn đề đã và đangđợc thực hiện ở hầu
hết tất cả các trờng tiểu học hiện nay. Môn Tiếng Việt là một trong những môn học
có nhiềuđổi mới cả về nội dung và phơng pháp dạy học nhằm thực hiện mục
tiêuphát triển kỹ năng sử dụng Tiếng Việt cho học sinh tiểu học, giúp các em làm
chủ đợc công cụ ngôn ngữ học tập, trong nhà trờng và giao tiếp một cách đúng đắn,
mạch lạc, t nhiên trong môi trờng xã hội. Nguyên tắc giao tiếp đợc chọn làm định
hớng cơ bản cho đổi mới phơng pháp dạy học môn Tiếng Việt. Đặc biệt đối với
phân môn tập đọc,thông qua hệ thống bài đọc theo các chủ điểm với các câu hỏi và
bài tập khai thác nội dung ở mỗi bài, nhiệm vụ của mỗi giáo viên là phải giúp học
sinh có những hiểu biết về tự nhiên xã hội, con ngời qua đó hình thành cho các em
một vốn từ vốn diễn đạt và những hiểu biết nhất định về các tác phẩm đó góp phần
vào việc rèn luyện nhân cách cho các em. Không những vậy phân môn tập đọc còn
gợi mở cho học sinh cái hay cái đẹp của ngôn từ Tiếng Việt và hiểu đợc phần nào
cuộc sống sung quanh.Qua đó bồi dỡng cho học sinh những tình cảm chân chính,
lành mạnh nh: Tình cảm gia đình, tình thầy trò, tình bạn, tình yêu quê hơng đất n-
ớc, con ngời, đồng thời hình thành và phát triển ở học sinh phẩm chất tốt đẹp.
Nhiệm vụ của việc dạy học tập đọc trong nhà trờng Tiểu học là giúp học sinh
củng cố, phát triển kỹ năng đọc hơn, đọc thầm, dọc lớt để chọn thônh tin và bớc
đầu biết đọc diễn cảm, đọc hiểu và nắm đợc nội dung bài, phát hiện ra những giá trị
nội dung cũng nh nghệ thuật của bài. Để giải quyết đợc nhiệm vụ đó trong dạy học
mỗi giáo viên cần biết khai thác một cách hợp lý hệ thống câu hỏi và bài tập của
mỗi bài. Việc sử dụng hiệu quả hệ thống câu hỏi sẽ giúp giáo viên nâng cao chất l-
ợng giảng dạy một cách đáng kể. Thực tế cho thấy nếu giáo viên đặt đợc nhiều câu

niệm Dạy tập đọc chủ yếu cứ cho học sinh đọc to, rõ, đọc đúng tiếng là đợc cho
nên trong các giờ tập đọc giáo viên chỉ cho học sinh luyện đọc sau đó đến phần tìm
hiểu bài giáo viên chỉ nêu nguyên bản những câu hỏi trong sách giáo khoa cho
học sinh trả lời, còn học sinh chỉ dựa vào sách giáo khoa đọc lại những ý liên quan
đến nội dung câu hỏi. Giáo viên không cần biết những câu hỏi đó có phù hợp với
đối tợng học sinh lớp mình hay không. Còn những câu hỏi nàogiáo viên đa ra học
sinh không trả lời đợc giáo viên trả lời hộ luôn cho nhanh để giờ học nhẹ nhàng
nhanh chóng kết thúc cũng vừa đủ 40 phút ( ! ) .
Cũng có giáo viên chỉ lo luyện cho học sinh đọc đúng, đọc diễn cảm thỉ
đọc chầm chậm là đợc còn ý các đoạn và nội dung bài thì học sinh không nói
đúng giáo viên tự cho ghi và yêu cầu các em ghi nhớ máy móc hoặc học thuộc. Với
cách dạy này thì làm sao học sinh có thể hiểu đợc thấu đáo nội dung bài mà có
cách đọc diễn cảm đúng, cũng có giáo viên trong phần tìm hiểu bài chỉ u tiên
cho những học sinh khá trả lời hoặc những học sinh hay trả lời. Nếu làm nh vậy thì
2
một số bộ phận học sinh trong lớp sẽ không có cơ hội bày tỏ ý kiến của mình và sẽ
không làm cho các bạn tự nhiên, tự tin trong học tập.
Hoặc có giáo viên còn đa ra những câu hỏi rờm rà, khó hiểu làm cho học
sinh lúng túng, không xác định đúng nội dung.
b/ Thực trạng của học sinh.
- Trong phần đọc hiểu, đọc thầm các em ngại suy nghĩ.
- Hiểu biết vốn từ còn ít ỏi nên nhiều khi hiểu sai nghĩa của từ dẫn đến hiểu
sai câu, đoạn và nội dung văn bản.
- Nhiều học sinh quen chỉ ỷ nại vào các bạn học khá phát biểu còn mình
không cần suy nghĩ ( bởi cô giáo cũng không gọi đến lợt mình).
- Nhiều học sinh chỉ đọc to, đọc trôi chảy hoặc chầm chầm đều đều hoặc
không đúng ngữ điệu, lời văn, giọng thơ không phù hợp với nội dung bài văn, bài
thơ đó cần diễn tả
- Sau khi học xong bài tập đọc nhiều học sinh không hiểu gì về nội dung ý
các đoạn và nội dung bài học.

Ví dụ

: Kể tên những sự vật trong bài có màu vàng và từ chỉ màu vàng đó
( câu hỏi 1 - trong bài Quang cảnh làng mạc ngày mùa ).
- Thu thập thông tin bằng cách lựa chọn : Khác biệt thu thập thông tin bằng
cách liệt kê thì thu thập thông tin bằng cách lựa chọn yêu cầu đặt ra ở đây là học
sinh phải biết lựa chọn những thông tin cần thiết đó là những hình ảnh, những chi
tiết phù hợp với nội dung câu hỏi.
Ví dụ : Dựa vào bảng thống kê số liệu trong bài em hãy cho biết : Triều đại
nào tổ chức nhiều khoa thi nhất, triều đại nào có nhiều tiến sĩ nhất ( Câu hỏi 2
trong bài Nghìn năm văn hiến - tiết 1 - tuần 2 ).
b/ Câu hỏi yêu cầu học sinh giải thích nghĩa cho nội dung thông tin.
Sau khi thu thập đợc những nội dung thông tin có trong bài, bớc tiếp theo là
cần phải giúp các em biết xử lí các thông tin đó bằng cách giải thích nghĩa cho các
thông tin đó . Đó là việc làm yêu cầu học sinh trả lời những câu hỏi manh tính chất
so sánh, phân tích để giải thích nội dung các thông tin .
- Câu hỏi so sánh : Đó là những câu hỏi yêu cầu học sinh tìm ra sự giống,
khác nhau giữa hai hay một số đối tợng nào đó.
Ví dụ : Chiếc áo dài tân thời có gì khác so với chiếc áo dài cổ truyền?
( Câu hỏi 2 trong bài Tà áo dài Việt Nam - Tiết 2 - tuần 30 ) .
- Câu hỏi phân tích : Đó là những câu hỏi tại sao ? Nh thế nào ? nhằm
giải thích một số vấn đề nào đó cho nội dung thông tin.
Ví dụ : Vì sao rừng khộp đợc gọi là giang sơn vàng rợi ? ( Bài Kỳ diệu
rừng xanh - tiết 1 tuần 8) .
Ngời dân Cà Mau có tính cách nh thế nào ? ( Câu hỏi 2 trong bài Đất Cà
Mau - tiết 2 - tuần 9 ).
c/ Câu hỏi giúp học sinh đánh giá khái quát nội dung thông tin .
Mỗi bài tập đọc đều có nội dung cụ thể, thông qua hệ thống câu hỏi và bài
tập, giáo viên cần giúp học sinh đánh giá một cách khái quát nội dung của bài.
Trong quá trình tìm hiểu nội dung bài, giáo viên đặt ra những câu hỏi cho học sinh

câu hỏi cần móc nối với nhau để tạo ra một ý nghĩa trọn vẹn cho nội dung bài học.
- Câu hỏi đặt ra phải vừa sức đối với học sinh, không quá dễ để học sinh có
thể trả lời ngay đợc mà không cần phải t duy suy nghĩ không phát triển đợc trí tuệ
cho các em, cũng không qúa khó đánh đố học sinh gây sự bế tắc làm cho học sinh
chán nản không có hứng thú trong học tập. Không hỏi học sinh những câu hỏi cụt
lủn mà học sinh chỉ cần trả lời có hoặc không. Những câu hỏi có nhiều đáp án học
sinh có thể trả lời liều vẫn đúng, nội dung câu trả lời không phù hợp với nội dung
bài học, những câu hỏi mớm lời, mách nớc lộ liễu cho học sinh cũng không nên
hỏi học sinh những câu hỏi lấp lửng mập mờ làm cho các em khó xác định câu trả
lời đúng, những câu hỏi có nhiều nghĩa hoặc tối nghĩa làm cho học sinh bế tắc hoặc
bối rối không tìm đợc câu trả lời
5
khi đa ra câu hỏi cần phải có đủ thời gian cho học sinh suy nghĩ và trả lời
câu hỏi, không yêu cầu học sinh trả lời ngay khi các em cha kịp suy nghĩ, cũng
không để thời gian quá dài để các em lợi dụng gây mất trật tự lớp học. Phải tìm ra
những u điểm trong các câu trả lời của học sinh, đặc biệt không nên dè bỉu hoặc
dèm pha những câu trả lời cha đúng hoặc không sát với nội dung câu hỏi làm các
em tự ti lần sau không dám phát biểu. Không nên lợi dụng các học sinh khá giỏi
trong lớp mà thờng xuyên gọi các em trả lời câu hỏi, cần gọi những học sinh học
kém hơn không hay phát biểu ý kiến trả lời trớc rồi mới gọi học sinh khá giỏi bổ
sung câu trả lời nh vậy mới phát hiện ra những cái sai mà học sinh gặp phải, hơn
thế nữa còn giúp cả lớp có không khí học tập sôi nổi hơn. Với những câu hỏi khó
cần cho học sinh tìm ra hết những phơng án trả lời nếu không có học sinh trả lời
nữa lúc đó giáo viên mới đa ra phơng án trả lời tránh tình trạng giáo viên nêu ra câu
hỏi rồi lại trả lời ngay giúp học sinh nh vậy sẽ không kích thích t duy các em phát
triển.
- Khi hớng dẫn học sinh trả lời câu hỏi cần bám sát nội dung câu trả lời cũng
nh nội dung bài học cần có những dự kiến với những câu trả lời sai của học sinh để
ứng phó với những tình huống có thể xảy ra. Không nên đặt ra nhiều câu hỏi đối
với một học sinh mà cần hớng câu trả lời cho cả lớp cùng tham gia tìm tòi đáp án.

thành các câu hỏi nh:
-Lá của cây Quỳnh có đặc điểm gì? (Lá của cây Quỳnh dày, giữ đợc nớc).
-Cây hoa Ti gôn có đặc điểm gì? thân của nó thuộc loại thân gì ? (cây hoa Ti
gôn thích leo trèo, có những cái râu thò ra ngọ nguậy nh những cái vòi voi bé síu, một
cành của nó quấn chặt vào cây hoa giấy. Thân của nó thuộc loại thân leo ).
- Búp của cây đa ấn Độ có đặc điểm gì ? (Búp của cây đa ấn độ đỏ hồng nhọn
hoắt và khi đủ lớn thì xòe thành chiếc lá nâu rõ to, ở trong lại hiện ra cái búp mới ).
Nếu không chẻ nhỏ nh trên thì học sinh khó có thể phân tích đợc đặc điểm nổi
bật của từng loại cây ở đây.
Đối với câu 3, đây là một câu hỏi tơng đối khó với học sinh. Để tìm ra đợc nội
dung câu trả lời học sinh phải hiểu đợc điều Thu cha vui là do cái Hằng ở nhà dới cứ
bảo ban công nhà Thu không phải là vờn vì vậy khi thấy chim về đậu ở ban công Thu
phải báo ngay cho Hằng để chứng minh cho Hằng biết khu vờn nhà Thu đúng là vờn.
Theo Thu thì Ban công có chim về đậu tức là vờn rồi . Việc làm đó quả thật rất khó
đối với học sinh, thay cho câu trả lời đúng chắc chắn sẽ có nhiều học sinh đọc lại toàn
bộ Một sớm chủ nhật tức là vờn rồi! mà bỏ quyên mất điều cần nêu cho câu hỏi
đó là Có điều Thu cha vui Không phải là vờn!.Vì vậy khi dậy giáo viên có thể
biến đổi câu hỏi đó thành các câu hỏi khác nh sau:
Thu đã phát hiện ra điều gì khác tại ban công nhà mình ? (Thu đã phát hiện ra
chú chim lông xanh biếc xà xuống cành Lựu ).
Điều đó đã giúp Thu chứng minh cho Hằng biết điều gì? (điều đó đã giúp THu
chứng minh cho Hằng biết ban công nhà Thu cũng là vờn bởi vì có chim về đậu).
Theo em thì Thu nói có đúng không, tại sao? (Đối với câu hỏi này giúp các em
liên hệ thực tế, sẽ có nhiều đáp án khác nhau tùy theo cách hiểu của mỗi học sin, giáo
viên nên giúp học sinh hiểu thế nào là vờn và cho các em biết ban công nhà Thu cũng
là một khu vờn nhỏ).
Đối với câu hỏi 4, việc giúp học sinh hiểu đợc nội dung câu thành ngữ đó
không khó nhng để các em liên hệ đợc rằng ban công nhà Thu là một khu vờn tuyệt
vời thì là một việc không đễ chút nào,do đó sau khi học sinh trả lời câu hỏi giáo viên
cần bổ sung thêm câu hỏi có nội dung sau: Em có nhận xét gì về câu nói của ông

thu mới giáo viên cần cho học sinh nắm đợc biện pháp tu từ mà tác giả đã sử dụnh
trong khổ thơ nhằm nói lên niềm vui phơi phới, rộn ràng của thiên nhiên đất nớc trong
mùa thu thắng lợi. Do đó cần đa ra câu hỏi bổ sung; tác giả đã sử dung biện pháp tu từ
gì để tả cảnh đẹp của thiên nhiên, đất nớc trong mùa thu mới đó?( Đó là biện pháp tu
từ nhân hóa Rừng tre phấp phới : Trời thu thay áo mới : Trong biếc nói cời thiết
tha )
ở câu 3, đây là một câu hỏi khá dài đối với học sinh và các em sẽ dễ đa ra câu
trả lời bằng cách đọc lại toàn bộ cả hai khổ thơ. Để gíup học sinh hiểu một cách sâu
sắc khi dạy giáo viên cần tách thành các câu hỏi nhỏ nh sau :
8
Trong khổ thơ thứ 3, những từ ngữ, hình ảnh nào nói lên lòng tự hào về đất nớc
tự do của dân tộc ta ?
( Trời xanh đây, núi rừng đây, là của chúng ta, những cánh đồng thơm mát )
Cụm từ Là của chúng ta Lặp lại nhằm mục dích gì? (nhấn mạnh niềm tự hào
và hạnh phúc của đất nớc khi đã đợc độc lập tự do).
Lòng tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc đợc thể hiện qua những từ
ngữ nào trong khổ thơ cuối? ( Những ngời cha bao giờ khuất, đêm đêm, rì rầm trong
tiếng đất, ngày xa vọng nói về ).
Kết quả của việc thực hiện
Sau khi thực hiện biện pháp trên vào việc dạy phân môn tập dọc lớp 5 tôi thấy
về mặc chuyên môn tôi hiểu biết thêm nhiều và tự tin không còn lo học sinh mình
yếu quá Không hiểu nội dung bài tập đọc nh trớc nữa. Tôi càng vui hơn khi thấy
học sinh của mình tiến bộ nhiều, nội dung kiến thức các bài văn bài thơ dã học các em
nắm rất chắc: và đọc diễn cảm tốt các bài văn bài thơ đó
Qua khảo sát kết quả cuối năm học 2006- 2007 của lớp tôi dạy đã thu đợc kết
quả nh sau :
Sĩ số
HS hiểu, nắm chắc nội dung bài.
Đọc diễn cảm tốt
HS hiểu bài Cha hiểu bài

- Giáo viên cần bố trí thời gian phù hợp để các em đọc, hiểu văn bản, hiểu đầy
đủ yêu cầu của các câu hỏi. Giáo viên có thể nêu hoặc để học sinh xác định yêu cầu cụ
thể của mỗi câu hỏi học sinh mới có thể trả lời chính xác đợc. Giáo viên không nhất
thiết nóng vội chạy theo thời gian cho xong nội dung cần dạy. Chỉ có trên cơ sở học
sinh nắm đợc câu hỏi và trả lời câu hỏi thì kết quả đọc của học sinh mới đạt kết quả.
- Giáo viên thờng xuyên dự giờ, học hỏi kinh nghiệm, nghiên cứu tài liệu, sách
tham khảo để trau dồi thêm kiến thức và phơng pháp dạy học.
- Giáo viên luôn tạo hứng thú học tập và bồi dỡng cảm thụ văn học cho học
sinh.
*Đối với học sinh:
- Các em phải có ý thức tự học, tự rèn luyện, tự suy nghĩ và chăm chú nghe thầy
cô giảng và ý kến phát biểu của các bạn.
- Đăc biệt các em phải có lòng say mê học tập và yêu thích văn học
Phần IV
Những ý kiến đề xuất.
1/ Đề nghị với tổ chuyên môn và nhà trờng
- Tổ trởng chuyên môn phải nghiên cứu, nắm chắc các phơng pháp giảng dạy
của chơng trình môn Tiếng Việt để bồi dỡng chuyên môn cho đồng nghiệp và
thống nhất cách dạy từng phân môn trong tổ khối.
- Nhà trờng quán triệt tinh thần trách nhiệm và lơng tâm nhề nghiệp của giáo
viên trong dạy học.
2/ Đề xuất với phòng Giáo Dục:
- Đối với những sáng kiến của giáo viên trong ngành có giá trị áp dụng trong
giảng dạy, phòng Giáo dục cần in thành tập san để các trờng học tập những kinh
nghiệm quý báu áp dụng vào giảng dạy.
- Có sự khuyến khích và động viên những sáng kiến hay
10
Trên đây là suy nghĩ của cá nhân tôi về kinh nghiệm: Biện pháp khai
thác và sử dụng hợp lý hệ thống câu hỏi trong giảng dạy phân môn tập đọc
sách Tiếng Việt 5 . Viết sáng kiến này tôi muốn trao đổi và xin ý kiến góp ý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status