1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
PHAN THANH TÙNG
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH
THỰC HIỆN KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH
THỰC HIỆN KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH
TẠI TỈNH HẬU GIANG NĂM 2008
TẠI TỈNH HẬU GIANG NĂM 2008
LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II
HUẾ - 2009
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
các số liệu và kết quả trong Luận án này là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Người cam đoan
Phan Thanh Tùng
3
KÝ HIỆU VIẾT TẮT
BPTT : Biện pháp tránh thai
BPTTHĐ : Biện pháp tránh thai hiện đại
BPTTTT : Biện pháp tránh thai hiện đại
CBYT : Cán bộ y tế
CPR : Tỷ lệ cặp vợ chồng sử dụng các biệh pháp tránh thai
CSSK : Chăm sóc sức khoẻ
CSSKSS : Chăm sóc sức khoẻ sinh sản
CSSKSS-KHHGĐ : Chăm sóc sức khoẻ sinh sản kế hoạch hoá gia đình
CSTS : Chăm sóc thai sản
2.1.1. Tiêu chí lựa chọn 31
2.1.2. Tiêu chí loại trừ 31
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 31
2.2.2. Phương pháp chọn mẫu và cở mẫu 31
2.2.3. Phương pháp thu thập thông tin 33
2.2.4. Các chỉ số nghiên cứu 39
2.2.5. Kiểm soát sai lệch 40
2.2.6. Công cụ thu thập thông tin 41
5
2.2.7. Y đức 41
2.3. XỬ LÝ SỐ LIỆU 41
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
3.1. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI 43
3.1.1. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 43
3.1.2. Tình hình thực hiện kế hoạch hóa gia đình 45
3.1.3. Hiện trạng sử dụng các biện pháp tránh thai 47
3.2. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KHHGĐ 52
3.2.1.Các yếu tố liên quan đến biện pháp tránh thai 52
3.2.2. Các yếu tố liên quan đến sinh con thứ 3 trở lên 54
Chương 4: BÀN LUẬN 62
4.1. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI 62
4.1.1. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 62
4.1.2. Tình hình thực hiện kế hoạch hóa gia đình 63
4.1.3. Hiện trạng sử dụng các biện pháp tránh thai 68
4.2. YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KHHGĐ 77
4.2.1.Các yếu tố liên quan đến biện pháp tránh thai 77
4.2.2. Các yếu tố liên quan đến sinh con thứ 3 trở lên 79
KẾT LUẬN 89
1. Thực trạng sử dụng các biện pháp tránh thai 89
Bảng 3.20. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên theo dân tộc 57
Bảng 3.21. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên theo tôn giáo 58
Bảng 3. 22. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên theo nơi sinh sống 58
Bảng 3.23. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên theo nghề nghiệp 59
Bảng 3.24. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên theo kinh tế hộ gia đình 59
Bảng 3.25. Lý do sinh con thư 3 trở lên 60
Bảng 3.26. Người quyết định sinh con thứ 3 trở lên trong hộ gia đình 60
Bảng 3.27. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên do vỡ kế hoạch 61
Bảng 3.28. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên
theo khoảng cách từ nhà đến trạm y tế xã 61
7
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ Tên biểu đồ Trang
Biểu đồ 3.1. Phân phối đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi 43
Biểu đồ 3.2. Tình trạng kinh tế hộ gia đình 44
Biểu đồ 3.3 . Hiểu biết biện pháp tránh thai 46
Biểu đồ 3.4. Khách hàng chọn dịch vụ KHHGĐ 47
Biểu đồ 3.5. Tỷ lệ cơ sở cung cấp dịch vụ KHHGĐ 48
Biểu đồ 3.6. Tỷ lệ số con đã có khi bắt đầu sử dụng BPTT 49
Biểu đồ 3. 7. Tỷ lệ nữ Tỷ lệ các BPTT đã được áp dụng 50
Biểu đồ 3.8. Tỷ lệ sử dụng các BPTT theo trình độ học vấn 54
Biểu đồ 3.9. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên theo nhóm tuổi kết hôn 55
Biểu đồ 3.10. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên chia theo số con 56
Biểu đồ 3.11. Tỷ lệ sinh con thứ 3 theo trình độ học vấn 57
45.23
25.85
19.26
5.97
1.821.65
0.23
và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, làm chậm quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và đặt cho tỉnh Hậu Giang trước nguy cơ phải tiếp tục đối mặt với
những thử thách, có thể có những điều quy định của các giải pháp về dân số, kế
hoạch hoá gia đình chưa được thực hiện tốt [10], [11], [40].
Để phát huy thành quả đạt được và khắc phục những mặt tồn tại, thiếu sót.
Cần có các giải pháp để can thiệp hữu hiệu, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu
Chiến lược quốc gia về Dân số vào năm 2010. Do vậy, tiếp tục đẩy mạnh chính
sách dân số, kế hoạch hoá gia đình gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội là một
trong những nhiệm vụ trọng tâm và cấp bách của tỉnh Hậu Giang trong thời gian
tới.
Do vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu tình hình thực
hiện kế hoạch hoá gia đình tại tỉnh Hậu Giang năm 2008” nhằm hướng đến các
mục tiêu như sau:
1. Nghiên cứu tình hình sử dụng biện pháp tránh thai của các cặp vợ chồng
trong độ tuổi sinh đẻ (15 - 49 tuổi);
2. Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch hóa gia đình và các yếu tố liên quan
tại tỉnh Hậu Giang năm 2008.
10
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CÁC KHÁI NIỆM
1.1.1. Khái niệm kế hoạch hoá gia đình
Theo định nghĩa của Tố chức Y tế thế giới (TCYTTG) thì kế hoạch hoá gia đình
(KHHGĐ) bao gồm những vấn đề để thực hiện giúp cho các cá nhân hay cặp vợ chồng để
đạt được những mục tiêu: tránh những trường hợp sinh không mong muốn; điều hoà
khoảng cách giữa các lần sinh; chủ động thời điểm sinh con cho phù hợp tuổi của bố mẹ.
Theo Pháp lệnh Dân số Việt Nam năm 2003: “KHHGĐ là sự nỗ lực của Nhà
nước, xã hội để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng tự nguyện quyết định số con, thời gian
sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh nhằm đảm bảo sức khoẻ, nuôi dạy con có
trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình”
giới không có khả năng chống đỡ nổi với việc gia tăng số lượng con người. Trong
hầu hết quá trình lịch sử của con người, dân số thế giới luôn ở mức tương đối thấp
do tỷ lệ trẻ sơ sinh chết cao, tuổi thọ của con người thấp do bệnh tật, dịch bệnh, vệ
sinh kém, thiếu ăn, thiếu các phương tiện chăm sóc sức khỏe Nhưng khi các tiến
bộ về y học phát triển rộng khắp trên thế giới, dân số trên trái đất “bùng nổ”. Trên
thực tế, cứ 35 năm thì số lượng con người trên trái đất tăng lên gấp hai, dân số tăng
lên này chủ yếu tập trung ở những nước đang phát triển. Do sự khủng hoảng về dân
số này, chính phủ nhiều nước như Trung Quốc đã quyết định quy định số trẻ em
được sinh ra cho mỗi gia đình.
KHHGĐ cũng đóng vai trò quan trọng đối với việc bảo vệ sức khỏe thể
chất của cả mẹ lẫn con. Đối với hầu hết phụ nữ, trong những năm sinh sản đầu
(khoảng từ 20 đến 39 tuổi) mang thai và sinh con là việc khá an toàn. Nhưng đối
với những phụ nữ lớn hơn hay nhỏ hơn tuổi đó, hay những phụ nữ sinh con dày
(có nghĩa ít hơn 2 năm lại sinh một lần), thì nguy cơ gặp tai biến sản khoa là khá
cao: tử vong ở trẻ sơ sinh, gây tử vong ở mẹ. Ví dụ, trẻ em do phụ nữ trên 40
tuổi hay dưới 19 tuổi sinh ra có nguy cơ nhẹ cân cao, và do đó chúng dễ bị các
12
khiếm khuyết khác nhau khi sinh, thậm chí có thể bị tử vong. Ở trường hợp sau
(phụ nữ sinh con khi chưa được 19 tuổi), ước tính ở Mỹ có khoảng gần 1 triệu nữ
thanh thiếu niên mang thai mỗi năm, và tỷ lệ em bé sinh ra bởi những người mẹ
này có cân nặng dưới 2,5 kg là rất nhiều. Tuy nhiên, không phải tất cả các phụ
nữ trên 40 tuổi và dưới 19 tuổi mang thai đều dẫn đến những vấn đề này mà
chúng tôi chỉ muốn nói nguy cơ gặp vấn đề này cao.
KHHGĐ cũng có thể giúp đảm bảo sức khỏe tâm lý cho bà mẹ và các thành
viên khác trong gia đình. Cả việc sinh con lẫn trở thành cha mẹ đều là những vấn đề
quan trọng và căng thẳng trong cuộc sống. Hơn nữa, làm cha mẹ là một sự cam kết
lâu dài về mặt tình cảm, xã hội và tài chính. Chọn thời điểm thích hợp để có con là
việc làm quan trọng nhất mà hai vợ chồng có thể làm để giảm bớt những căng thẳng
về tình cảm liên quan đến việc mang thai và làm cha mẹ.
Theo tuyên bố UNFPA nhân Ngày Dân số Thế giới năm 2008 đã khẳng
tế để họ có thể làm tốt nhất [67].
1.1.5. Các biện pháp tránh thai
1.1.5.1. Về biện pháp tránh thai
- Các biện pháp tránh thai hiện đại (BPTTHĐ): triệt sản, đặt dụng cụ tử cung,
thuốc tránh thai, bao cao su.
- Các biện pháp tránh thai truyền thống (BPTTTT): phương pháp giao hợp định kỳ
(phương pháp vòng kinh), phương pháp giao hợp ngắt quãng (xuất tinh ngoài âm đạo).
* Biện pháp hàng rào: tạo một hàng rào ngăn cản sự hoạt động của tinh trùng:
- Bao cao su: dành cho nam giới sử dụng, bên cạnh việc ngăn tinh trùng xâm
nhập vào đường sinh dục nữ trong hành động giao hợp, còn góp phần ngăn chặn sự
lây truyền các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Bao cao su thế hệ mới còn được
tẩm thêm hóa chất diệt tinh trùng, góp phần nâng cao khả năng ngừa thai.
- Hóa chất diệt tinh trùng: cho tới hiện nay, phổ biến nhất vẫn là Nonoxynol-
9, với nhiều loại dạng sản phẩm như kem bôi, viên đặt âm đạo, miếng xốp (sponge)
hay tấm phim. Hóa chất này khi vào âm đạo sẽ tạo một môi trường dịch sệt, có tác
dụng làm đông tinh dịch, bất hoạt khả năng của tinh trùng. Rải rác, vẫn có trường
14
hợp có thụ thai sau khi sử dụng hóa chất diệt tinh trùng (do cách dùng sai hay do
chất lượng sản phẩm không đảm bảo). Tuy nhiên, các quan sát đều cho thấy chưa có
tình trạng bất thường nào của thai nhi được phát hiện. Biện pháp này khá hiệu quả
và tiện lợi, kèm theo khả năng diệt một số tác nhân bệnh lây truyền qua đường tình
dục. Tuy nhiên, có số ít người có khả năng dị ứng với các hoá chất sử dụng. Một số
hóa chất khác cũng đang trong vòng nghiên cứu như Carraguard, PRO2000,
Buffergel, Dextrin 2 sulfate… nhưng có vẻ tác dụng diệt khuẩn trội hơn so với tác
dụng ngừa thai.
Một số biện pháp khác không phổ biến như bao cao su dành cho nữ giới, mũ
che (màng chắn) âm đạo…
Hiệu quả tránh thai của biện pháp hàng rào từ 75 – 85%.
* Biện pháp nội tiết:
Hai nội tiết tố nữ chính là Estrogen (E) và Progesterone với đặc điểm:
* Biện pháp dụng cụ: Dụng cụ tử cung (DCTC)
Là dụng cụ đặt trong lòng tử cung, có vai trò như một dị vật, với tác dụng
kêu gọi các bạch cầu đến lòng tử cung và góp phần tiêu diệt tinh trùng, ngăn tinh
trùng xâm nhập lòng tử cung; đồng thời cũng làm biến đổi nội mạc tử cung không
còn thuận lợi cho việc thụ thai. Có các loại vòng: vòng trơ, vòng có kim loại (việc
thêm kim loại, thường là đồng, sẽ làm gia tăng hoạt tính của vòng), vòng có nội tiết
(là các progestin, góp phần làm biến đổi nội mạc tử cung).
Hiệu quả tránh thai bằng dụng cụ khảng 99%.
* Biện pháp ngừa thai vĩnh viễn:
- Triệt sản nam: Thắt ống dẫn tinh, đây là thủ thuật đơn giản, hầu như không
gây ảnh hưởng đến sức khỏe người dùng. Ống dẫn tinh chỉ có vai trò dẫn tinh trùng
từ nhà máy sản xuất là tinh hoàn đến túi tinh dự trữ và phóng thích ra ngoài trong
lần giao hợp. Khi thắt ống dẫn tinh, tinh trùng sản xuất ra sẽ không có đường thoát
và sẽ tự tiêu biến đi, các chất nội tiết do tinh hoàn tiết ra vẫn giữ nhịp độ sản xuất
như trước, vẫn sẽ được thấm vào máu và phát huy tác dụng giúp người nam vẫn có
đầy đủ các đặc điểm giới tính nam.
16
- Triệt sản nữ: Thắt ống dẫn trứng, là đường thông từ lòng tử cung ra buồng
trứng, khi bị thắt, tinh trùng không còn đường gặp trứng. Buồng trứng vẫn hoạt
động bình thường, nội tiết tố nữ vẫn được tiết ra đều đặn, vẫn có trứng rụng hàng
tháng, người phụ nữ vẫn còn kinh nguyệt và những đặc điểm giới tính nữ như trước
khi áp dụng triệt sản.
Phẫu thuật nhằm nối các ống dẫn tinh hay ống dẫn trứng là những phẫu thuật
khó (thuộc loại vi phẫu), hơn nữa, các tổ chức mô sau thời gian dài triệt sản thường đã
bị xơ hóa, khả năng sinh sản sau phẫu thuật khôi phục lại thường không đạt trọn vẹn.
Hiệu quả tránh thai của phương pháp ngừa thai vĩnh viễn 99%.
* Biện pháp tự nhiên (truyền thống):
Là cách theo dõi chu kỳ rụng trứng của người phụ nữ, nhằm duy trì hoạt
động tình dục trong giai đoạn không rụng trứng, để không có khả năng thụ thai.
Thông thường, với người có vòng kinh đều đặn 28 - 32 ngày, rụng trứng thường
- Hiệu quả của biện pháp ngừa thai
- Giá thành của biện pháp
- Sự sẵn có của phương pháp
- Các tác dụng phụ có lợi hay không có lợi của phương pháp [66], [28], [98].
1.1.5.3. Những phép đo cơ bản về KHHGĐ
- Tỷ lệ căp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai (SDBPTT): Là tỷ lệ
phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15 – 49) có chồng đang sử dụng (hoặc chồng của họ
đang sử dụng) một hoặc nhiều BPTT nào đó (dụng cụ tử cung, bao cao su, các loại
thuốc tránh thai, triệt sản, hoặc các loại tránh thai khác) trên tổng số phụ nữ từ 15 –
49 tuổi hiện đang có chồng thuộc khu vực nào đó trong một thời gian xác định. Tỷ
lệ này cũng có thể tính riêng cho từng biện pháp.
Số PN có chồng từ 15 – 49 tuổi dùng BPTT
Tỷ lệ SDBPTT = x 100
Tổng số PN có chồng từ 15 – 49 tuổi
Phụ nữ có chồng là những người được luật pháp hoặc phong tục thừa nhận,
bao gồm cả những phụ nữ sống chung với người khác như vợ chồng.
18
- Tỷ số hút điều hoà kinh nguyệt (hoặc nạo thai, sẩy thai) so với trẻ đẻ ra
sống: là số lần hút điều hoà kinh nguyệt tính trung bình cho một trẻ đẻ sống. Chỉ số
này rất quan trọng để đánh giá hiệu quả công tác kế hoạch hoá gia đình.
Số lần HĐHKN (hoặc nạo thai, sẩy thai)
Tỷ số HĐHKN = x 100
Tổng số trẻ đẻ sống
- Tỷ lệ bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên: là tỷ lệ các bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên
trên tổng số các bà mẹ sinh.
Số bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên
Tỷ lệ sinh con thứ 3 = x 100
Tổng số phụ nữ sinh con
Bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên là số phụ nữ đã có từ 2 con trở lên tiếp tục sinh
thêm con trong khoảng thời gian nào đó (thường là một năm) [66].
sinh như dự tính cần nêu bật vấn đề là nếu mức sinh vẫn giữ nguyên ở các mức dự
tính cho giai đoạn 2000 – 2005, dân số ở các khu vực kém phát triển sẽ tăng tới 10,6
tỷ thay vì 7,9 tỷ như dự tính giảm mức sinh. Nếu mức sinh không giảm mạnh hơn
nữa, dân số thế giới có thể tăng nhiều gấp hai lần số dân đang sống năm 1950.
Về tốc độ và quy mô tiềm năng dân số thành thị cảnh báo loài người sẽ trải
qua một cuộc “cách mạng trong suy nghĩ”, để giải quyết vấn đề dân số thành thị
tăng gấp đôi ở Châu Phi và Châu Á vào năm 2030, trong báo cáo tình trạng dân số
thế giới năm 2007, UNFPA khẳng định trong vòng 30 năm nữa dân số thành thị ở
Châu Phi và Châu Á tăng thêm 1,7 tỷ người con số này lớn hơn dân số Trung Quốc
và Mỹ cộng lại. Theo báo cáo năm 2008, hơn một nửa trong 6,7 tỷ dân số thế giới
sống ở các thành phố, mặc dù các siêu đô thị (hơn 10 triệu dân) tiếp tục tăng lên
nhưng hầu hết người dân sẽ sinh sống tại thành phố 500 ngàn dân hoặc ít hơn.
Sự di cư từ nông thôn lên thành thị và kết hợp với sự gia tăng tự nhiên đang
dẫn đến một sự gia tăng không phù hợp cho sự phân bố dân cư ở thành thị, đặc biệt
ở những nước kém phát triển [19], [94].
Cần phải có sự quan tâm về chính sách trước sự gia tăng dân số với những khó
20
khăn thách thức và gây ảnh hưởng bởi đói nghèo. Phần lớn các nghiên cứu cho thấy
xu hướng nhân khẩu học là thật sự quan trọng. Tuy nhiên, tiềm năng lợi ích của dân
số phát triển chậm phụ thuộc vào thời gian và sự thay đổi về nhân khẩu học, kinh tế
xã hội, tình trạng phụ nữ và các loại hình tập trung vào các chính sách kinh tế.
KHHGĐ sẽ không nhất thiết làm giảm đói nghèo ở các nước đang phát triển. Mặt
khác, chậm tỷ lệ tăng dân số, kết hợp với công bằng phát triển kinh tế và giảm bất
bình đẳng giới tính, xuất hiện ngày càng có khả năng để đạt được mục tiêu đó [90].
1.2.2. Phát triển dân số ở Việt Nam
1.2.2.1. Quy mô dân số nước ta rất lớn và vẫn đang phát triển mạnh
Theo Tổng cục Thống kê năm 2005, Việt Nam có khoảng 83,12 triệu người,
là nước đông dân thứ 13 trên thế giới. Năm 2005, chỉ có 4 nước (Ấn Độ, Nhật Bản,
Banglades, Philippines) có dân số đông hơn và mật độ dân số cao hơn nước ta.
Theo Liên Hợp quốc, để cuộc sống thuận lợi, bình quân trên 1 km
triệu; 1994: 1,25 triệu; 1995: 1,20 triệu và 1996: 1,22 triệu . Nước ta được xếp vào
nhóm nước có mức nạo phá thai cao nhất trên thế giới. Những năm gần đây số ca
nạo phá thai tại các cơ sở y tế nhà nước đã giảm. Tuy nhiên, cần chú ý rằng tỷ lệ
sinh của nước ta cũng giảm. Vì vậy, tỷ số giữa số ca nạo phá thai và số ca sinh vẫn
cao, đặc biệt là số ca nạo phá thai ở tuổi vị thành niên và thanh niên trẻ.
Tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh sản ở nữ nông thôn, dao động từ 32,8% đến
70,56%. Một nghiên cứu mới đây tại Bệnh viện phụ sản tỉnh Thanh Hoá cho thấy:
66% phụ nữ đến khám và quản lý thai nghén ở đây bị viêm đường sinh dục dưới.
Tỷ lệ này ở Bệnh viện phụ sản Trung ương là 72%. Đặc biệt là số nhiễm HIV/AIDS
lớn và đang tăng nhanh. Trong điều kiện mại dâm, ma tuý phát triển, các bệnh lây
theo đường tình dục, trong đó có HIV/AIDS là một hiểm họa lớn cho đất nước. Hầu
hết những người nhiễm HIV/AIDS trong độ tuổi lao động. Vì vậy, đây là tổn thất
lớn về cả phương diện kinh tế và xã hội [23].
1.2.2.4. Chất lượng dân số có cải thiện nhưng vẫn chưa cao
Chỉ số phát triển con người (The Human Development Index - HDI) có thể
coi là một chỉ báo về chất lượng dân số. Chỉ số này cao nhất là 1, thấp nhất là 0.
Muốn tăng HDI lên thêm 0,010, thì thường GDP bình quân đầu người lên 18%, tuổi
thọ trung bình lên thêm 1,8 năm và tỷ lệ các cấp lên 3%. Theo xếp hạng GDP đầu
người dân thì nước ta đứng thứ 114. Chỉ số HDI nước ta năm 2005 là 0,704 xếp
hạng 108/177 nước. Như vậy, HDI của nước ta không ngừng tăng lên, tuy nhiên so
22
với thế giới, thứ hạng vẫn còn rất thấp [36].
Về thể lực: Trên phạm vi toàn quốc, theo Điều tra y tế quốc gia 2002, tỷ lệ
trẻ sơ sinh nặng dưới 2500 gram là 5,6%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi thuộc diện thấp
còi 33%; trẻ em có cân nặng theo tuổi thấp (25,7%), béo phì (1,3%). Năm 2004, tỷ
lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi vẫn còn cao ở mức 26,6%, đặc biệt là ở
khu vực Tây Nguyên, Tây Bắc. Ngược lại, ở khu vực thành thị lại có tỷ lệ trẻ em
béo phì. Theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng năm 2003, có 4,9% số trẻ từ
4 - 6 tuổi tại Hà Nội và 6% trẻ dưới 5 tuổi; 22,7% trẻ đang học cấp I ở thành phố
Hồ Chí Minh bị thừa cân, béo phì. Ngoài ra, năm 2005 cả nước còn 5,3 triệu
thư cổ tử cung và bệnh phụ khoa khác; thúc đẩy sức khoẻ tình dục [67].
* Chính sách về DS - KHHGĐ ở Việt Nam
Cách đây 47 năm, đúng vào ngày dân số thế giới đạt tới 3 tỷ người và dân số
Việt Nam vượt qua con số 30 triệu người thì Chính phủ Việt Nam ban hành Quyết
định số 216/CP ngày 26/12/1961 về việc sinh đẻ có hướng dẫn với mục đích “Vì
sức khoẻ bà mẹ, vì hạnh phúc và hoà thuận trong gia đình để nuôi dạy con cái được
chu đáo, việc sinh đẻ của nhân dân cần được hướng dẫn chu đáo”. Ngày 26/12 trở
thành một mốc lịch sử quan trọng của chương trình dân số Việt Nam, ngày được coi
là Việt Nam chính thức tuyên bố tham gia chương trình dân số toàn cầu (vì vậy mà
ngày 26/12 hàng năm được lấy là ngày Dân số Việt Nam) [29].
Cùng với xu thế phát triển chung trên thế giới, chính sách dân số của Việt
Nam không ngừng được bổ sung. Phạm vi chính sách dân số của Việt Nam là
những vấn đề có liên quan đến mức sinh, mức chết, di dân và các phân bố đặc biệt
ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, chất lượng và sự phân bổ dân cư.
- Chỉ thị số 99/TTg ngày 16/10/1963 của Thủ tướng Chính phủ “về công tác
hướng dẫn sinh đẻ”.
- Quyết định số 94/CP ngày 13/5/1970 của Hội đồng Chính phủ “về cuộc
vận động sinh đẻ có kế hoạch”.
- Chỉ thị số 265/HĐBT ngày 19/10/1978 của Hội đồng Chính phủ “Đẩy
mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch trong phạm vi cả nước”.
24
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V năm 1981: Chỉ tiêu vận động là đẻ ít (từ
2-3 con), để muộn (từ 22 tuổi trở lên), đẻ thưa (cách nhau từ 3 - 5 năm).
- Nghị quyết 04-NQ/HNTW ngày 14 tháng 01 năm 1993 của Hội nghị lần
thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VII về chính sách
DS - KHHGĐ “Công tác DS - KHHGĐ là một bộ phận quan trọng trong chiến lược
phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của đất
nước, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, từng gia
đình và xã hội”…“Đầu tư cho công tác DS – KHHGĐ là đầu tư mang lại hiệu quả
kinh tế trực tiếp rất cao. Nhà nước cần tăng mức chi ngân sách cho công tác DS -
Sử dụng DVKHHGĐ cũng đang gặp vấn đề khó khăn, hàng năm có khoảng
700.000 phụ nữ chết do thiếu các dịch vụ tránh thai; 120 – 150 triệu phụ nữ không
được giải quyết nhu cầu dịch vụ tránh thai; 75 triệu trường hợp thai nghén ngoài ý
muốn và khoảng 70.000 phụ nữ chết do phá thai không an toàn (WHO -1997). Theo
báo cáo của UNFPA năm 2004 trên thế giới vẫn còn 350 triệu cặp vợ chồng chưa
được tiếp cận đầy đủ DVKHHGĐ [37].
Ở Châu Phi trung bình có 5,5 con/một phụ nữ, cao gấp 2 lần Châu Á và gấp
4 lần so với Châu Âu. Chỉ có khoảng 16% phụ nữ Châu Phi thực hiện các BPTT
trong khi ở Châu Á 60% và Châu Âu là 80%. Về nhu cầu thì có 1/5 cặp vợ chồng
từ 15 – 49 tuổi muốn có ít nhất là 2 con và có 1/3 trong số họ muốn thực hiện
KHHGĐ nhưng chưa được đáp ứng [99].
* Tình hình sử dụng DVKHHGĐ ở Việt Nam
Ngày nay người ta càng nhận thức được tầm quan trọng của việc chăm sóc
sức khỏe phụ nữ. Điều quan trọng là góp phần không nhỏ trong thành tựu của công
tác chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em - KHHGĐ, sức khỏe của phụ nữ là sự liên quan
mật thiết với các yếu tố trong xã hội như điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội.
Sử dụng DVKHHGĐ cũng có nhiều vấn đề vì công tác này chưa thật sự gắn
liền với việc chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em, một số nơi lại chạy theo thành tích và
chỉ tiêu giảm sinh mà không gắn với chất lượng dịch vụ. Tỷ lệ chấp nhận các BPTT
nói chung là cao 79% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ. Song có hơn 10% là sử