1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mối quan hệ giữa dân số và phát triển là một vấn đề rất khăng khít
được mọi quốc gia và quốc tế quan tâm nghiên cứu. Thực tế chứng minh
rằng, sự biến đổi dân số sẽ dẫn đến hàng loạt những biến đổi khác, trong đó
có tình trạng nghèo đói, chất lượng dân số và sự phát triển chung của cả đất
nước. Bắt nguồn từ điều này, chính sách dân số đã trở thành một bộ phận hết
sức quan trọng trong việc hoạch định chiến lược kinh tế-xã hội của bất kỳ một
quốc gia nào. Xu hướng phát triển chung hiện nay là phát triển kinh tế với
phát triển con người, vì vậy chính sách dân số luôn được Đảng và Nhà nước
ta coi là một trong những giải pháp quan trọng trong chiến lược phát triển
kinh tế- xã hội của đất nước.
Nghị quyết 47- NQ/ TW Ngày 23 tháng 03 năm 2005 của Bộ Chính trị
về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình đã
khẳng định “Nâng cao chất lượng dân số Việt Nam về thể chất, trí tuệ, tinh
thần, cơ cấu nhằm đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước” [4]. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc Lần thứ X khẳng
định: “Nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ, tinh thần. Phấn đấu
đạt chỉ số phát triển con người Việt Nam (HDI) ở mức trung bình tiên tiến
trên Thế giới vào năm 2010” [17], [18], [19], [32], [41], [44], [51], phân bổ
dân cư hợp lý giữa các vùng. Chiến lược dân số Việt Nam cũng xác định:
“Nâng cao chất lượng dân số trong quá trình đổi mới, lấy sự nghiệp phát
triển con người làm nền tảng của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, coi
công tác dân số là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất
nước”. Thực hiện đồng bộ, từng bước và có trọng điểm việc điều hòa quan hệ
giữa số lượng với chất lượng dân số; Giữa dân số và phát triển có một mối
quan hệ khắng khít vừa ràng buộc, vừa thúc đẩy hổ trợ lẫn nhau. Muốn tăng
cường và phát triển kinh tế xã hội thì phải dựa vào yếu tố cơ bản là nguồn
2
nhân lực [4], [11], [17], [51]. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Thực hiện nghiêm chính sách và pháp luật
1.1.1. Tình hình chung về dân số
Vấn đề dân số đã trở thành một trong những vấn đề toàn cầu từ khi
người công dân thứ 5 tỷ ra đời vào năm 1987 tại Nam Tư. Nhiều Quốc gia
trên thế giới ngày càng có sự thống nhất về mặt nhận thức, chương trình, giải
pháp để giải quyết vấn đề dân số và phát triển. Ngày 12/10/1999, dân số thế
giới đã vượt qua ngưỡng 6 tỷ người và đến nay đã gần 7 tỷ người. Ngày 26
tháng 12 trở thành một mốc lịch sử quan trọng của Chương trình dân số Việt
Nam, ngày được coi là Việt Nam chính thức tuyên bố tham gia chương trình
dân số toàn cầu, ngày đánh dấu sự khởi đầu về nhận thức được ý nghĩa của
mối quan hệ giữa dân số và phát triển trong tiếng chuông báo động về tình
hình gia tăng dân số quá nhanh trên thế giới [48], [52].
Sự gia tăng dân số ở Việt Nam là vấn đề đáng báo động, nếu chỉ tính từ
1975 đến năm 1990, dân số nước ta tăng khoảng 18,6 triệu người, trong khi
đó cả Châu Âu chỉ tăng thêm 20 triệu người. Kết quả tổng điều tra dân số và
nhà ở vào ngày 01 tháng 4 năm 1999 dân số Việt Nam là 76,3 triệu người đến
nay đã trên 89 triệu người, xếp hàng thứ 2 ở Đông Nam Á và hàng thứ 13
trong tổng số hơn 224 Quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Có thể nói
rằng, sự gia tăng dân số nhanh trong những năm trước đây với tốc độ trên 2%
năm đã có những ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế- xã hội.
Theo các nhà nghiên cứu dự báo dân số Việt Nam sẽ tăng lên 94 triệu người
vào năm 2015 cùng với số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sẽ tăng từ 24 lên 26
triệu người và có khoảng 1,2 lên 1,8 triệu phụ nữ mang thai và sinh con mỗi
năm, [41], [46], [47], [48].
4
1.1.2. Các khái niệm cơ bản
1.1.2.1. Khái niệm dân số
- Dân số (DS): Là một cộng đồng dân cư (hay cộng đồng người) sống
trong một địa phương, một quốc gia hay một lãnh thổ nhất định, được xác
định tại một thời điểm cụ thể. Sự hình thành của dân số mang tính lịch sử
trong quá trình sản xuất và tái sản xuất của con người
chuyển đến) trong hoặc ngoài phạm vi thuộc một nước, một vùng hay một địa
phương trong nước (xã, huyện, tỉnh…) của dân số.
* Công tác dân số: Là quản lý tổ chức thực hiện các hoạt động tác
động đến quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bổ dân cư và nâng cao chất
lượng dân số.
* Chính sách dân số: Là những chủ trương, biện pháp, hướng dẫn, quy
định của Đảng, Nhà nước, cơ quan tổ chức có thẩm quyền nhằm làm thay đổi
xu hướng hiện tại của dân số theo mục đích, mục tiêu đề ra [16], [41].
1.1.2.2. Kế hoạch hóa gia đình [12], [42], [50], [54]
* Khái niệm: Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì kế
hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) bao gồm những vấn đề để thực hiện giúp cho
các cá nhân hay cặp vợ chồng đạt được những mục tiêu. Tránh những trường
hợp sinh không mong muốn; Điều hòa khoảng cách giữa các lần sinh; chủ
động thời điểm sinh con cho phù hợp với tuổi của bố, mẹ.
Như vậy, KHHGĐ là sự cố gắng có ý thức của các cặp vợ chồng nhằm
điều chỉnh số con và khoảng cách sinh con. KHHGĐ không những chỉ bao
hàm việc lựa chọn các biện pháp để tránh thai mà còn là những cố gắng của
các cặp vợ chồng để có thai và sinh con.
6
* Các biện pháp tránh thai hiện đại: Triệt sản; đặt vòng tránh thai;
thuốc tránh thai; bao cao su.
* Các biện pháp tránh thai truyền thống:
Phương pháp giao hợp định kỳ (phương pháp vòng kinh);
Phương pháp giao hợp ngắt quãng (xuất tinh ngoài âm đạo).
* Những phép đo cơ bản về KHHGĐ
• Tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai (CPR) là
tỷ lệ phụ nữ trong tuổi sinh đẻ (15- 49) có chồng đang sử dụng (hoặc
chồng của họ đang sử dụng) một hoặc nhiều biện pháp tránh thai
(BPTT) nào đó (DCTC, bao cao su, các loại thuốc tránh thai, hoặc các
loại tránh thai khác) trên tổng số phụ nữ từ 15- 49 tuổi hiện đang có
dần cân bằng với số chết và nếu không có nhập cư, di cư thì qui mô dân số đi
vào ổn định. Tổng tỷ suất sinh có thể được sử dụng để chỉ mức sinh thay thế
bằng cách biểu thị số con trung bình đủ để thay thế cả cha mẹ trong dân số.
Tổng tỷ suất sinh đạt 2,1 thì được coi là đạt mức sinh thay thế.
- Mức chết: Cũng là yếu tố tác động rất lớn đến quy mô, cơ cấu và tốc
độ tăng dân số. Chết là hiện tượng không thể tránh khỏi đối với mọi cơ thể
sống. Tuy nhiên, trong mọi thời kỳ phát triển, giảm mức chết là nhiệm vụ
hàng đầu của các quốc gia. Mức chết được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu
như tỷ suất chết thô, tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi, tỷ suất chết trẻ em dưới
01 tuổi, triển vọng sống trung bình.
- Di dân: Là một quy luật của quá trình phát triển dân số, một hiện
tượng mang tính khách quan, phản ánh trình độ phát triển và sự biến động cơ
học của các quốc gia. Một trong những biểu hiện của sự phát triển không
8
đồng đều giữa các vùng và lãnh thổ là hiện tượng di dân. Sự chênh lệch về giá
cả, dịch vụ xã hội, đất đai, việc làm, thu nhập…là tác động chính cho hiện
tượng di dân phát triển. Di dân có thể được thực hiện theo kế hoạch của nhà
nước, người dân nhận được sự hổ trợ tài chính và những chính sách khác từ
phía chính quyền. Di dân tự phát là một hình thức biểu hiện khác, không nhận
được sự trợ giúp của nhà nước và là vấn đề nhạy cảm trong xã hội hiện nay.
Số liệu thống kê cho thấy số người di dân tự phát đến các đô thị lớn một phần
lớn là từ các vùng nông thôn và một phần từ các đô thị nhỏ khác [16].
- Kế hoạch hoá gia đình:
Những thập niên trước KHHGĐ được coi là hạn chế sinh đẻ và chỉ chú
trọng tuyên truyền vận động phụ nữ áp dụng các BPTT như đình sản, đặt
dụng cụ tử cung, uống hoặc tiêm thuốc tránh thai hoặc vận động nam giới
đình sản và dùng bao cao su. Thế nhưng ngày nay người ta đã có quan niệm
rộng hơn về KHHGĐ và từ đó công tác tuyên truyền vận động được thực hiện
một cách toàn diện chứ không chỉ chú trọng các BPTT.
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) KHHGĐ bao gồm những thực hành
ngày 11/7 hàng năm làm ngày dân số thế giới nhắc nhở các quốc gia và mọi
người trên trái đất về nguy cơ này.
Theo báo cáo của Liên hiệp quốc, tổng dân số thế giới sẽ tăng từ 6,7 tỷ người năm
2004 lên 9,2 tỷ người vào năm 2050. Trong khi đó, Cục điều tra dân số của Mỹ vừa dự
báo, dân số toàn cầu sẽ lên tới 7 tỷ người vào năm 2012. Hiện nay, Mỹ đứng thứ ba với
311 triệu người, sau Trung Quốc và Ấn Độ. "Người ta có thể dễ dàng nhận thấy những tác
động của việc gia tăng dân số nhanh chóng ở những nước đang phát triển”.
Hiện nay, dân số thế giới đang gia tăng với tỷ lệ trung bình là 1,2%
năm. Cục điều tra dân số Mỹ dự báo, tốc độ này sẽ giảm xuống còn 0,5% năm 2050. Khi
đó, Ấn Độ sẽ vượt Trung Quốc trở thành nước đông dân nhất thế giới. Đồng thời, dân số
10
thế giới cũng sẽ già đi nhanh chóng. Đến năm 2050, số người từ 80 tuổi trở lên sẽ chiếm
5% dân số, so với 1,5% hiện nay. Theo ông William Frey, nhà dân số học thuộc Viện
nghiên cứu Brookings (Mỹ), cho đến nay chưa có một điều tra nào về việc liệu trái đất có
thể cưu mang được bao nhiêu con người, nhưng điều đó phụ thuộc vào việc con người sử
dụng các tài nguyên thiên nhiên của trái đất như thế nào.
Nguy cơ nghèo đói gia tăng
Cùng với việc dân số tăng nhanh, nhu cầu về tài nguyên, lương thực,
nước ngọt và đô thị hoá cũng tăng theo, đặt nhân loại trước nhiều thách thức
lớn. Hãng tin Reuters dẫn một báo cáo Liên hiệp quốc cho biết, vào cuối năm
nay, phân nữa dân số thế giới sẽ sống ở các thành phố.
Đến năm 2050, có 6,4 tỷ người sống ở các đô thị. Các khu vực phát
triển nhất thế giới, châu Âu, Bắc Mỹ và châu Đại Dương, hiện có nhiều người
sống ở đô thị. Châu Phi và châu Á là những ngoại lệ khi dân số đô thị ít hơn
nông thôn, nhưng lại là nơi có dân số đông nhất thế giới. Khi quá trình đô thị
hóa mở rộng, dân số nông thôn được dự đoán sẽ bắt đầu giảm trong vòng 1
thập kỷ và sẽ giảm từ 3,4 tỷ người năm 2007 xuống 2,8 tỷ người năm 2050.
Để có đủ lương thực và nhiều nhu cầu khác cho số người ngày càng tăng, nhiều
diện tích rừng đã bị phá huỷ; diện tích đất bạc màu gia tăng do bị khai thác quá mức. Tổ
chức Lương nông Liên hiệp quốc (FAO) và một số tổ chức khác vừa cho biết: Hơn 20%
Trung du miền núi phía Bắc 95.338,8 11.095,2 116
Hà Giang 7.945,8 727,0 91
Cao Bằng 6.724,6 512,5 76
Bắc Kạn 4.859,4 295,3 61
Tuyên Quang 5.870,4 727,5 124
Lào Cai 6.383,9 614,9 96
Yên Bái 6.899,5 743,4 108
Thái Nguyên 3.526,2 1.127,4 320
Lạng Sơn 8.323,8 733,1 88
Bắc Giang 3.827,8 1.560,2 408
Phú Thọ 3.532,5 1.316,7 373
Điện Biên 9.562,9 493,0 52
Lai Châu 9.112,3 371,4 41
Sơn La 1.4174,4 1.083,8 76
Hòa Bình 4.595,2 789,0 172
Bắc trung bộ và Duyên Hải 9.5885,1 1.8870,4 197
12
miền Trung
Thanh Hóa 1.1133,4 3.405,0 306
Nghệ An 16.490,7 2.919,2 177
Hà Tĩnh 6.025,6 1.230,3 204
Quảng Bình 8.065,3 848,0 105
Quảng Trị 4.747,0 599,2 126
Thừa Thiên - Huế 5.062,6 1.088,7 215
Đà Nẵng 1.283,4 890,5 694
Quảng Nam 10.438,4 1.421,2 136
Quảng Ngãi 5.152,7 1219,2
237
Bình Định 6.039,6 1.489,0
247
502
TP Hồ Chí Minh 2.095,5 7.165,2 3.419
Đồng bằng sông Cửu Long 40518,5 17213,4 425
13
Long An 4.493,8 1.438,5 320
Tiền Giang 2.484,2 1.673,9 674
Bến Tre 2.360,2 1.255,8 532
Trà Vinh 2.295,1 1.004,4 438
Vĩnh Long 1.479,1 1.029,8 696
Đồng Tháp 3.375,4 1.667,7 494
An Giang 3.536,8 2.149,2 608
Kiên Giang 6.346,3 1.687,9 266
Cần Thơ 1.401,6 1.189,6 849
Hậu Giang 1.601,1 758,0 473
Sóc Trăng 3.311,8 1.293,2 390
Bạc Liêu 2.501,5 858,4 343
Cà Mau 5.331,6 1.207,0 226
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê 2009 [47]
1.2.1.3. Tình hình sinh lần thứ 3 trở lên và mức giảm sinh ở Việt Nam
Theo số liệu tổng điều tra dân số thời kỳ 1979- 1989, dân số nước ta
tăng thêm 11,9 triệu người, tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng năm là 1,75%,
đến giai đoạn 1989- 1999 là 1,70%, tuy có giảm nhưng dân số tăng trung bình
vẫn còn cao, mỗi năm tăng từ 01 triệu đến 1,1 triệu người, tỷ lệ sinh con thứ
ba trở lên giảm chậm và vẫn còn cao. Năm 1999 vẫn chiếm khoảng 1/3 tổng
số sinh trong năm [10], [12], [15], [18], [27], [29], [30]. Cần tiếp tục quán
triệt và cương quyết thực hiện các quan điểm cơ bản của Nghị quyết Hội nghị
lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương khóa VII, phấn đấu sớm đạt dược mục
tiêu về ổn định quy mô dân số, đồng thời nâng cao chất lượng dân số Việt
Nam. [1].
Bảng 1.2: Tỷ lệ sinh con thứ 3 các năm
học phổ thông trở lên. [46]
1.2.2. Các biện pháp tránh thai [10], [39], [40]
- Thực hiện tốt công tác KHHGĐ nhằm giảm tỷ lệ sinh hàng năm là
bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em (BMTE), sử dụng BPTT để tránh xảy ra những
trường hợp có thai ngoài ý muốn là hết sức cần thiết.
Các BPTT có thể chia thành các nhóm chính theo sơ đồ sau
Hình 1.1: Phân nhóm các biện pháp tránh thai
ĐỐI VỚI NỮ
* DCTC
*Thuốc tránh thai
- Uống
- Tiêm
- Cấy
- Diệt tinh trùng
*Màng ngăn âm đạo
*Bao cao su nữ
*Dựa vào vòng kinh
BIỆN PHÁPTRÁNH THAI
TẠM THỜI
VĨNH VIỄN
ĐỐI VỚI NAM
* Bao cao su
* Xuất tinh
ngoài âm đạo
ĐỐI VỚI NỮ
* Thắt/ cắt
vòi tử cung
+ Là biện pháp tránh thai tạm thời có chứa 2 loại hocmon Estrogen
và Progestin.
17
+ Hiệu quả: nếu sử dụng đúng và liên tục hiệu quả tránh thai > 99%.
* Viên thuốc tránh thai chỉ có Progestin
+ Giống như viên thuốc ngừa thai kết hợp, ngoài ra còn dùng được cho
phụ nữ cho con bú, những người lớn tuổi hút thuốc lá, bị tiểu đường, béo phì
và cao huyết áp.
* Thuốc tiêm tránh thai DMPA
+ Là loại thuốc tránh thai có progestin liều 150 mg, tiêm 1 mũi có tác
dụng ngừa thai trong 3 tháng.
+ Là phương thức tránh thai có hiệu quả cao.
+ Ưu điểm:
• Hiệu quả tránh thai cao (99,6%).
• Có tác dụng lâu dài (tiêm 1 mũi giúp tránh thai 3 tháng).
• Có những ưu điểm tương tự như thuốc viên tránh thai chỉ có progestin.
• Giống như viên thuốc ngừa thai kết hợp, ngoài ra còn dùng được
cho phụ nữ cho con bú, những người lớn tuổi hút thuốc lá, bị tiểu đường, béo
phì và cao huyết áp.
• Sử dụng được cho phụ nữ cho con bú.
+ Nhược điểm:
• Do thuốc có tác dụng lâu dài, sau khi ngừng dùng DMPA sẽ chậm
có thai (chậm hơn 2- 4 tháng so với các thuốc tránh thai khác).
• Có những thay đổi kinh nguyệt thường xuất hiện mất kinh sau 9- 12
tháng sử dụng.
• Đôi khi kinh nhiều hoặc kéo dài sau khi sử dụng 1- 2 tháng.
* Thuốc cấy tránh thai
+ Đây là loại thuốc tránh thai dài hạn 3- 5 năm. Những nang thuốc (1
hoặc 6 nang) được đặt ở dưới da, thường là mặt trong cánh tay trái.
18
định và phải có trang bị cơ sở vật chất để phục vụ cho phẫu thuật.
1.2.2.6. Các biện pháp tránh thai truyền thống (tự nhiên)
- Đây là những biện pháp tránh thai không cần dụng cụ, thuốc hay thủ
thuật tránh thai nào để ngăn cản thụ tinh.
* Biện pháp tính theo vòng kinh
- Là biện pháp dựa vào ngày có kinh, chọn giao hợp vào những ngày xa
giai đoạn phóng noãn để không thụ thai.
- Chỉ định:
+ Tất cả các cặp vợ chồng chưa muốn sinh con đều có thể áp dụng.
- Chống chỉ định:
+ Không có chống chỉ định, nhưng hiệu quả tránh thai không cao.
* Biện pháp xuất tinh ngoài âm đạo
Là biện pháp cổ xưa nhất mà loài người đã biết tránh thai ngoài ý muốn
và vẫn tồn tại đến ngày nay. Riêng điều này cũng cho thấy đây là BPTT
không hề gây hại gì cho cặp vợ chồng áp dụng.
Cơ chế của biện pháp xuất tinh ngoài âm đạo là tinh trùng không vào
đường sinh dục nữ nên không có thụ tinh.
* Biện pháp tránh thai cho bú vô kinh
Ở các nước đang phát triển, cho bú vô kinh đóng một vai trò quan trọng
trong việc kéo dài khoảng cách sinh và làm giảm tử vong mẹ và tử vong trẻ em.
Phương pháp này có hiệu quả tránh thai cao với các điều kiện sau:
+ Cho bú mẹ hoàn toàn.
+ Chưa có kinh trở lại.
+ Con dưới 6 tháng tuổi.
Hiệu quả:
- Có thể đạt đến 98% hoặc cao hơn nữa nếu áp dụng đúng [17],[44].
20
1.3. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI
1.3.1. Tình hình thực hiện các BPTT trên thế giới
- Người ta ước tính, vào 1994 số lượng người áp dụng các BPTT trên
trình (đặc biệt là sự sẵn có của biện pháp), mà cũng có thể do yếu tố khách
hàng, như sự ưa chuộng vì lý do văn hóa chẳng hạn.
Ví dụ: Tại nhiều khu vực tỷ lệ chấp nhận thấp trong sử dụng BCS và
biện pháp thắt ống dẫn tinh có thể phần nào là hậu quả của định kiến văn hoá
đối với các biện pháp dùng cho nam giới [48].
- Ở nhiều nước và trong nhiều chương trình, mô hình sử dụng các
BPTT đã thay đổi đáng kể theo thời gian. Một số chương trình đã đưa ra một
cơ cấu biện pháp hạn chế để khởi đầu, và sau đó khi đã có thể thực hiện được
việc cung cấp các biện pháp bổ sung, thì dần dần mở rộng khả năng lựa chọn
cho khách hàng. Chẳng hạn vào giữa những năm 60 ở Hàn Quốc, DCTC là
BPTT được sử dụng rộng rãi nhất, các loại TUTT dần dần được chấp nhận
vào những năm cuối của thập niên 60, và triệt sản là một biện pháp được giới
thiệu vào những năm 70. Những thay đổi theo thời gian đó có các yếu tố như:
Sự sẵn có các BPTT, sự hiện hữu của các phương tiện y tế và cán bộ có tay
nghề cao, sử dụng các chỉ tiêu phấn đấu hoặc các chế độ khen thưởng, mở ra
các chiến dịch để vận động những biện pháp cụ thể và sự thay đổi trong sự ưa
thích của người sử dụng.
1.3.3. Tình hình thực hiện biện pháp tránh thai ở Việt Nam [9]
Trong những năm 90, tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng các BPTT tăng lên
đáng kể từ 53% năm 1988 lên 65% năm 1994, lên 75,3% năm 1997 và 76,9%
năm 2002, năm 2007 thực hiện 1.396.119 trường hợp đạt 81.8% kế hoạch năm
(theo Báo cáo giao ban Bộ Y tế- Tổng cục dân số).
22
Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai.
Thực hiện kế hoạch hóa gia đình cho những phụ nữ 15-49 tuổi hiện
đang có chồng. Kết quả cuộc điều tra biến động dân số và kế hoạch hoá gia
đình 01/4/2010 cho thấy, tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai bất kỳ đạt
78,0%, giảm 1,5 điểm phần trăm so với kết quả điều tra 01/4/2008. Bước vào
thế kỷ 21, số liệu của các cuộc điều tra mẫu biến động dân số - kế hoạch hóa
gia đình ngày 01 tháng 4 hàng năm cho thấy, tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh
phủ về việc phê duyệt chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001- 2010. [17].
Chỉ thị số 10/2001/QĐ- TTg ngày 04/05/2001 của thủ tướng Chính phủ
về việc triển khai chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001- 2010.
Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt
Nam đã định hướng cơ bản về chính sách dân số.
Nghị định 94/ 2002/ NĐ- CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định
chức năng, nhiệm vụ, và cơ cấu tổ chức của UBDS, gia đình và Trẻ em.
Pháp lệnh dân số được chủ tịch nước công bố ngày 22/01/2003 Mục
tiêu tổng quát của chính sách dân số là: Thực hiện gia đình ít con, khỏe mạnh,
tiến tới ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý để có cuộc sống ấm no, hạnh
phúc, nâng cao chất lượng dân số. Từ khi chính thức được hình thành hệ
thống mạng lưới Chăm sóc sức khỏe- Bảo vệ Bà mẹ- Trẻ em/ KHHGĐ
(CSSK- BVBM- TE/ KHHGĐ), [10], tr.93- 109, đã trở thành một lĩnh vực
không thể thiếu của ngành y tế, đã vững vàng hòa nhập cùng thế giới và khu
vực về lĩnh vực CSSK, đã đem lại những kết quả to lớn trong cải thiện sức
khỏe PN- TE và Chính sách dân số.
24
Bảng 1.3. Tình hình sinh con thứ ba
Đơn vị
hành chính
Số PN 15-49 tuổi sinh con
trong 12 tháng
trước điều tra
Số PN 15-49 tuổi sinh con
thứ 3 trở lên trong 12 tháng
trước điều tra
Tổng số
Thành
thị
Nông
4 Tỉ lệ sử dụng các BPTT hiện đại % 74,00 75,00 75,20
Nguồn: Chi cục dân số-kế hoạch hoá gia đình tỉnh Quảng Trị 2010 [15]
Bảng 1.5. Các chỉ số dân số tỉnh Quảng Trị
25
Các chỉ số hàng năm 2008
2009 2010
Dân số trung bình (người)
596.712 598.568 600.462
Nam (người)
295.969 295.412 296.693
Nữ (người)
300.743 303.156 303.769
Dân số thành thị (người)
162.014 167.599 170.531
Dân số nông thôn (người)
434.698 430.969 429.931
Tốc độ tăng dân số (%)
100,44 100,31 100,32
Tỷ lệ sinh (‰)
19,10 19,20 19,10
Tỷ lệ chết (‰)
7,90 7,70 7,70
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên (‰)
11,20 11,50 11,40
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Quảng Trị, niên giám thống kê 2010 [22]
Theo Báo cáo Tổng kết dân số tỉnh Quảng Trị năm 2010 [15].
Bảng 1.6. Thực hiện các BPTT hiện đại trong hoạt động thường quy
năm 2010
STT Biện pháp TT Chỉ tiêu Thực hiện Tỷ lệ %
1 Triệt sản 200 179 89,50