1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC HUẾ
PHAN VĂN THẮNG NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH THỰC HIỆN
KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH TẠI THỊ TRẤN
HÀ LAM- THĂNG BÌNH-QUẢNG NAM
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP I Chuyên ngành: Y TẾ CÔNG CỘNG
3
KÝ HIỆU VIẾT TẮT
BCS : Bao cao su
BP : Biện pháp
BPTT : Biện pháp tránh thai
BPTTHĐ : Biện pháp tránh thai hiện đại
CTV : Cộng tác viên
CTC : Cổ tử cung
CTVDS : Cộng tác viên dân số
CBCNV : Cán Bộ công nhân viên
CBCC : Cán bộ công chức
CĐ : Cao đẳng
DCTC : Dụng cụ tử cung
DS-KHHGĐ : Dân số-Kế hoạch hoá gia đình
ĐH : Đại học
FDA : Food and Drung Adminỉtation: Cơ quan quản lý
thuốc và dƣợc phẩm.
KHHGĐ : Kế hoạch hoá gia đình
KT-XH : Kinh tế -Xã hội
PN : Phụ nữ
SKSS : Sức khoẻ sinh sản
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TFR : Total Fertility Rate : Tổng tỷ suất sinh
TYT : Trạm Y Tế
TTCSSKSS : Trung tâm chăm sóc sức khoẻ sinh sản
KIẾN NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO
5
ĐẬT VẤN ĐỀ
Con ngƣời vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã
hội. Vì vậy việc đảm bảo dân số ổn định, phát triển kinh tế - xã hội bền vững,
chất lƣợng cuộc sống của cộng đồng và của mỗi thành viên trong xã hội
không ngừng đƣợc cải thiện là mục tiêu, là yêu cầu đặt ra đối với mỗi dân tộc,
mỗi quốc gia nhất là giai đoạn hiện nay. Giữa dân số và phát triển có một mối
quan hệ khắng khít, ràng buộc và hổ trợ thúc đẩy lẫn nhau. Muốn tăng trƣởng
và phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) thì phải dựa vào yếu tố cơ bản là
nguồn nhân lực đòi hỏi phải gắn liền với sự biến đổi dân số về số lƣợng và
chất lƣợng. Mục đích cuối cùng của chiến lƣợc các chƣơng trình, kế hoạch
phát triển kinh tế -xã hội không ngoài việc nâng cao chất lƣơng dân số và
chất lƣợng cuộc sống con ngƣời. Những thập kỷ gần đây cùng với sự phát
triển của khoa học công nghệ, nhân loại lại đứng trƣớc những thách thức lớn
đó là vấn đề gia tăng dân số. Việt Nam cũng nhƣ nhiều quốc gia phát triển
khác trên thế giới, tỷ lệ phát triển dân số còn cao,thu thập bình quân đầu
ngƣời thấp ở mức nghèo khó theo tiêu chuẩn quốc tế
Nghị quyết lần thứ tƣ của Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá VII
xác định rõ quan điểm “Công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình là một bộ
phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một yếu tố cơ bản
nâng cao chất lượng cuộc sống từng người, từng gia đình và toàn xã hội, góp
phần quyết định để thực hiện công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước,tập
trung các vùng khó khăn có mức sinh cao,vùng nghèo,vùng sâu,vùng xa”.
Những năm gần đây mặc dầu mức sinh giảm nhanh nhƣng chƣa đƣợc
đồng đều ở các tỉnh,tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên còn cao, mỗi năm tăng
khoảng 1 triệu đến 1,1 triệu ngƣời .tiềm năng gia tăng dân số còn lớn.Do dó
1.1. TÌNH HÌNH DÂN SỐ- KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH (DS-KHHGĐ)
1.1.1. Một số khái niệm về kế hoạch hoá gia đình(KHHGĐ)
Có thể coi những năm đầu của thập kỷ 60 là một mốc lịch sử quan
trọng đánh dấu một giai đoạn mới về chăm sóc sức khoẻ, đó là sử dụng và
phát triển các biện pháp KHHGD,chăm sóc và bảo vệ bà mẹ trẻ em trên toàn
cầu (Việt Nam bắt đầu từ tháng 12 năm 1963) để góp phần làm giảm tỷ lệ tử
vong bà mẹ trẻ em.Việc bảo vệ sức khoẻ con ngƣời không chỉ bó hẹp trong
bệnh viện, các tổ chức y tế mà yêu cầu có sự tham gia của cộng đồng. Hội
nghị thƣợng đỉnh về Dân số và phát triển họp tại Cairo đã đƣa ra khái niệm
mới về .Khái niệm về “Sức khoẻ sinh sản” (SKSS) đã dần thay thế cho khái
niệm về “Bảo vệ bà mẹ trẻ em và kế hoạch hoá gia đình”.
Sức khoẻ sinh sản: Là một tình trạng thoả mái về thể chất, tinh thần và
xã hội của mọi vấn đề liên quan tới hoạt động và chức năng bộ máy sinh sản
chứ không phải là không có bệnh hay khuyết tật của bộ máy đó.
Khái niệm KHHGĐ: KHHGĐ là sự cố gắng có ý thức của các cặp vợ
chồng nhằm điều chỉnh số con. KHHGĐ không chỉ bao hàm việc lựa chọn sử
dụng các BPTT để tránh thai mà còn là những cố gắng của các cặp vợ chồng
để có thai và sinh con.
1.1.1. Tình hình dân số-kế hoạch hoá gia đình thế giới:
Đầu công nguyên dân số thế giới khoảng 1/3 tỷ ngƣời, đến giữa thế kỷ
thứ XVII dân số thế giớí 600 triệu và đạt đƣợc 1tỷ ngƣời vào năm 1820. Từ
đó trở đi thời gian để dân số thế giới tăng lên mỗi tỷ giảm dần: 2tỷ (1930) 3tỷ
(1960) 4tỷ(1975) 5tỷ (1987) 6tỷ(2000) và dự báo dân số sẽ lên đến 7 tỷ vào
năm 2012 và 9tỷ vào năm 2050.[38],[47].
8
Trƣớc tình hình gia tăng dân số nhƣ hiện nay,thực hiện KHHGD là vấn
đề ƣu tiên ở các nƣớc đang phát triển,giảm mức sinh là yếu tố hàng đầu của
việc thực hiện công tác dân số. Mặc dầu tỷ suất sinh giảm dần nhƣng sự tăng
Việc sử dụng dịch vụ KHHGĐ cũng đang gặp khó khăn,hằng năm có
khoảng 700.000 PN trên thế giới chết do phá thai không an toàn (WHO-
1997).Theo báo cáo của UNFPA năm 2004 ,10 năm sau hội nghị Crio-Ai
cập,trên thế giới vẫn còn 350 triệu vợ chồng chƣa tiếp cận đầy đủ dịch vụ
KHHGĐ.[34].
1.1.2. Tình hình dân số- kế hoạch hoá gia đình trong nƣớc.
Bảng 1.1. Dân số Việt Nam qua các mốc thời gian (cập nhật 12/2008)[29] Dân số trung bình của Việt Nam năm 2008 đã tăng 70.576 nghìn
ngƣời so với năm 1921 cao gấp trên 5,5 lần, bình quân 1 năm tăng 811,2
nghìn ngƣời, tƣơng đƣơng mức tăng 1,98%/năm.
(2006), nhƣng 2 năm 2007(17,15%o) và 2008(17,05%o) lại giảm chậm so với
mức giao của quốc hội là 0,3%[2] [44] [51].
Việt Nam có tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở mức 1,2%,cao thứ 8 ở Đông
Nam Á,cao thứ 32 ở Châu Á và đứng hàng thứ 114 trên thế giới. Đó là kết
quả tích cực của công tác DS-KHHGĐ từ khá sớm .[21]
Việt Nam đã đạt đƣợc mức sinh thay thế là 2,1 con trung bình cho mỗi
PN trong độ tuổi sinh đẻ 15-49 vào năm 2005. Mức sinh này tiếp tục giảm
dƣới mức sinh thay thế t trong 3 năm 2006,2007 và 2008, tƣơng ứng là
2,08,2,07,và 2,08( theo các báo cáo điều tra biến động dân số hàng năm vủa
tổng cục thống kê.Đây là năm thứ 4 liên tiếp Việt Nam đạt đƣợc mức sinh
thay thế,TFR giảm nhiều so với những năm trƣớc,năm 1977(5,6con),năm
1989(3,8 con),năm 1999 (2,3 con).Mô hình sinh vẫn tiếp tục chuyển từ sinh
“sớm” sang sinh “muộn”,thể hiện ở khuynh hƣớng phụ nữ sinh con đầu lòng ở
lứa tuổi muộn hơn.Đây là một thông tin quang trọng đƣợc đề cập trong cuốn
cách nhỏ về thực trạng Dân số Việt Nam năm 2008,do Quỹ Dân số Liên Hiệp
Quốc mới xuất bản [20].
Mặc dù Việt Nam đã dạt đƣợc dƣới mức sinh thay thế nhƣng vẫn còn sự
khác biệt về mức sinh giữa các vùng.Ở thành thị tổng tỷ suất sinh là 1,84 con
trên một phụ nữ và ở nông thôn là 2,22.[20].
Một đóng góp lớn để đạt đƣợc mức sinh thấp là việc sử dụng các BPTT,
đặc biệt là các BPTT hiện đại.Trong khi nhiều nƣớc ở Châu Á nhƣ
Indonsia,Philipin,Pakistan,Bangladesh đã thực hiện KHHGĐ từ nhiều năm
nay nhƣng vẫn chƣa đạt đƣợc mức sinh thay thế.Mức sinh của Việt Nam thấp
hơn so với các nƣớc Đông Nam Á.TFR của khu vực này là 2,7 con, Việt Nam
chỉ cao hơn Singapor(1,3con)và Thái Lan(1,7con).Mức sinh ở khu vực thành
thị là 1,72con,thấp hơn so với khu vực nông thôn (2,25con). Với mục tiêu đến
2015 đạt đƣợc mức sinh thay thế.Nhƣ vậy Việt Nam đã về đích sớm hơn 10
12
năm.Với những thành quả về công tác DS-KHHGĐ nhƣ trên năm 1999 Việt
chiến lƣợc dân số giai đoạn 2006-2010 là:
- Giảm tỷ lệ sinh trung bình 25%o hằng năm,duy trì vững chắc tổng tỷ
suất sinh đã đạt đƣợc để tỉ lệ tăng dân số là 1,14% và quy mô dân số dƣới 89
triệu ngƣời vào năm 2010.[55].
- Kiểm soát có kết quả việc mất cân bằng về cơ cấu giới tính khi sinh
trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ hiện nay, đề xuất và thực hiện các biện pháp
tránh thai thích hợp.
- Nâng cao một bƣớc chất lƣợng dân số về thể chất,trí tuệ và tinh thần
đƣa chỉ số HDI đạt mức trung bình tiến vào năm 2010.Thực hiện đăng kí dân
số,xử lý và cung cấp thông tin,tƣ liệu về dân số đáp ứng yêu cầu quản lý kinh
tế-xã hội.[55].
Những thành tựu quan trọng trong công tác DS của Việt Nam thời gian
qua đã đƣợc Liên hợp quốc đánh giá rất cao và Việt Nam đƣợc xem là một
khuôn mẫu trong công tác này. Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, những
thành tựu đó mới chỉ là bƣớc đầu và chƣa bền vững.Thực trạng dân số cùng
những biến đổi của nó trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đang
đặt ra cho chúng ta những thách thức mới [ 21].
Để đạt đƣợc mức sinh thay thế đã khó nhƣng duy trì mức sinh thay thế
thì đòi hỏi phải có nổ lực nhiều hơn nữa của toàn xã hội .
1.1.3. Tình hình DS-KHHGĐ Tỉnh Quảng Nam
Tỉnh Quảng Nam là một Tỉnh ở miên trung Trung bộ,có tổng diện tích
1.040.630ha, gồm 18 đơn vị hành chánh (2thành phố và 16 huyện),với tổng số
dân là 1.494.717 ngƣời,trong đó nữ 761.090 ngƣời, PN 15-49 tuổi là 393.158
ngƣời, PN 15-49 tuổi có chồng 224.298 ngƣời,thực hiện các BPTT 168.702
ngƣời đạt tỷ lệ 75,56%,trong đó BPTTHĐ 74%, tỷ suất sinh thô năm 2008 là
14
12,83%o, cao hơn năm 2007(12,52%o),nhƣng giảm hơn những năm trƣớc, tỷ
lệ tăng DS tự nhiên năm 2008 là 9,12%o, tăng hơn 2007(8,48%o), nhƣng thấp
hơn những năm trƣớc,tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 19,54%, tăng hơn những
bàn trên 15 tổ nên công tác DS-KHHGĐ đã có hoạt đông tốt trong nhiều năm
nên tỷ suất sinh giảm,năm 2008 là 10,07%o,TFR là 1,47 con, tỷ lệ phát triển
dân số tự nhiên giảm năm 2008 là 5,47%, nhƣng ngƣợc lại tỷ lệ sinh con thứ
3 trở lên năm 2008(14,92%) lại tăng hơn 3 năm trƣớc.[5].
1.2.TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI
1.2.1.Tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai trên thế giới.
Năm 2007, tỷ lệ biện pháp tránh thai (BPTT) trên thế giới là 61%, trong
đó tỷ lệ sử dụng các BPTTHĐ chiếm 54%.Ở các nƣớc phát triển tỷ lệ sử dụng
BPTT là 69%,có 56% sử dụng BPTT hiện đại .Tại Đông nam Á,tỷ lệ sử dụng
các BPTT là 60%. BPTTHĐ chiếm 51%[66]. Tỷ lệ này khác nhau ở các nƣớc
Kampuchia 24% (19% sử dụng BPTT hiện đại)
Indonesia 60% (57% sƣ dụng BPTT hiện đại)
Lào 32% (29% sử dụng BPTT hiện đại)
Malaysia 55% (30% sử dụng BPTT hiện đại)
Mianma 37% (33% sử dụng BPTT hiện đại)
Philippin 49% (33% sƣ dụng BPTT hiện đại)
Singapor 62% (53% sử dụng BPTT hiện dại)
Thái Lan 72% (70% sử dụng BPTT hiện đại)
Đông Timo 10% (09% sử dụng BPTT hiện đại)
Việt Nam 79% (57% sƣ dụng BPTT hiện dại)
Tại Trung Quốc, năm 2005 có 83% số cặp vợ chồng sử dụng các BPTT
trong đó 34% là đình san nữ,7% đình sản nam,51% sử dụng dụng cụ tử cung
(DCTC),6%sử dụng bao cao su (BCS).[48].
16
Tại Ấn Độ,việc sử dụng BPTT từ 13% năm 1970 lên 53% giai đoạn
2002-2004,trong đó BPTTHĐ chiếm 45,75% gồm: thuốc uống 3,5%, DCTC
1,9%, BCS 4,8%,đình sản nữ 34,3%,đình sản nam 0,9%.BPTT truyền thống
chiếm 7,3% gồm:tính vòng kinh 4,1%,xuất tinh ngoài 2,7%. Biện pháp khác
0,5%.Kiến thức phụ nữ về BPTT cũng nhiều,riêng về các BPTT truyền thống
thai chiếm 55,3%, chiếm tỷ lệ 64,7% trong các BPTT hiện đại, kế đến là
truyền thống là tính vòng kinh và xuất tinh ngoài 13,6%,hai BP này cũng có
xu hƣớng giảm dần để chuyển sang sử dụng các BP có hiệu quả cao hơn nhƣ:
uống thuốc, bao cao su hoặc thuốc tiêm [42].
Tỷ lệ PN 15-49 tuổi có chồng không sử dụng bất kỳ một BPTT nào
đang giảm dần. Năm 2001:26,1%; năm 2004: 24,7%,năm 2005: 23,1%, đến
năm 2006 còn 22%.Lý do chủ yếu là muốn có con [42] [43]
Hầu hết PN hiện đang sử dụng BPTT khi đã có một con chiếm 43,5%
tăng 21,1 % so với năm 2004.Phụ nữ có 3 con trở lên sử dụng các BPTT
chiếm 36,8% giảm 3,6% so với năm 2004. Những PN có một con chiếm tỷ lệ
19,2% tăng 1,4% so với năm 2004 và có 0,53% PN sử dụng BPTT khi họ
không có ngƣời con nào.Những PN không có con hoặc chỉ có một con sử
dụng BPTT chủ yếu để chậm sinh con hoặc tăng khoảng cách giữa 2 lần sinh,
nên thƣờng dùng các BP uống thuốc tránh thai chiếm 31,9% hoặc DCTC
21,1% ,hoặc tính vòng kinh + xuất tinh ngoài 20% và BCS 18,8% là những
BP dễ dàng ngừng sử dụng khi muốn sinh con.
Những phụ nữ có 2 hoặc 3 con,họ sử dụng DCTC nhiều hơn từ 55,4%
đến 57,3%,tiếp theo là uông thuốc tránh thai đối với số 3con, tính vòng kinh
và xuất tinh ngoài đối với 2con và đình sản là 12,4% đối với 3 con trở lên. BP
vòng kinh + xuất tinh ngoài đƣợc sử dụng hàng thứ 3.
18
Năm 2008,thực hiên BPTT thấp hơn năm 2007,Tổng số các BPTT lâm
sàng của cả nƣớc đã thực hiện trong 6 tháng đầu năm 2008 là 927.345 trƣờng
hợp, đạt 51,5% kế hoạch năm. Phân tích kết quả thực hiện một số BPTT chủ
yếu trong 6 tháng đầu năm 2008 cho thấy: Số ngƣời mới triệt sản trong 6
tháng là 12.077 ca, đạt 34,5% kế hoạch năm. Kết quả 6 tháng đầu năm 2008
giảm 4.080 ca so với cùng kỳ năm trƣớc. Số ca đặt DCTC mới trong 6 tháng
đầu năm 2008 là: 693.317 trƣờng hợp, đạt 46,3% kế hoạch năm; giảm 97.826
giới và nữ giới.
Các biện pháp đều nhằm mục đích:
- Ngăn ngừa thụ tinh.
- Ngăn cản sự làm tổ và phát triển của trứng trong tử cung.
- Ức chế sự phóng noãn.
1.3.4. Các biện pháp tránh thai tạm thời.
Là những biện pháp tránh thai mà khi ngừng áp dụng thì có thai lại.
1.3.4.1.Dụng cụ tránh thai trong tử cung
Dụng cụ tử cung(DCTC) thƣờng goi là “vòng tránh thai”, là một vật
nhỏ đƣợc đặt vào buồng tử cung,chỉ một lần nhƣng tác dụng tránh thai lâu dài
nhiều năm.
Có hai loại DCTC thƣờng dùng: Loại không có thuốc (Dana,và
Lipersloop), loại có đồng (TCu 380-A, Multiload). Sau này còn có DCTC
TCu-20 chứa Progesteron để tăng hiệu quả tránh thai [8], [9].
Cơ chế tác dụng: Ngăn chặn sự làm tổ do tạo phản ứng viêm tại chỗ,
làm thay đổi chuyển động của vòi trứng,làm ảnh hƣởng tới sự di chuyển của
tinh trùng và trứng. DCTC có progesterone làm teo nội mạc tử cung và làm
dày niêm dịch cổ tử cung [27] .
20
Hiệu quả tránh thai của DCTC rất cao 97-99%, DCTC là phƣơng pháp
triệt sản có thể hồi phục đƣợc,thao tác đặt dễ dàng tại các cơ sở y tế,có tác
dụng tránh thai nhiều năm (TCU-380-A có thời hạn 10-12 năm, Multiload có
thời hạn 5 năm). Có thể giao hợp bất kỳ lúc nào, không cần tính toán thời
điểm an toàn.Kháng sinh dự phòng không làm giảm nguy cơ nhiễm trùng sinh
dục trên sau khi đặt DCTC[1]. Không ảnh hƣởng nội tiết cũng nhƣ chuyển
hoá của cơ thể,không sợ tƣơng tác thuốc. Không ảnh hƣởng đến tiết sữa có
thể tháo ra dễ dàng và dễ có thai trở lại,hiếm khi bị tai biến nặng, giá thành rẽ
hơn thuốc và các BPTT khác.Có thể đặt ngay sau khi phá thai hoặc sau khi
sinh [9], [29].
không ức chế Prolactin gắn với các thụ thể của nó,do đó không gây cản trở
việc bà mẹ sản sinh ra lƣợng sữa cho con.Sử dụng 4-6 tuần sau sanh, không
ảnh hƣởng đến phát triển và tăng trƣởng của đứa trẻ [16], [64].
+ Viên thuốc tránh thai chỉ có Progestin.
Viên thuốc tránh thai chỉ có Progestin uống hằng ngày, đƣợc gọi là
Minipill,chứa 0,35mg norethindrone (Micronor) hoặc 0,075mg dl-norgestrel
(Overette). Tỷ lệ thất bại 0,3% nếu dùng tuyệt đối trong năm đầu [61], [64].
+ Thuốc tiêm tránh thai.
Thuốc chứa Depot medroxyprogesteron acetate (DMPA) hoặc
Norethisteron enantate (NET-EN) tác dụng lâu dài,tiêm một mũi giúp tránh
thai 3 tháng.Nhƣợc điểm khi ngƣng dùng thuốc sẽ chậm có thai 2-4 tháng so
với các loại thuốc tránh thai khác và có rối loạn kinh nguyệt. Thuốc tiêm có
hiệu quả tránh thai cao 99,6 [9], [45], [64].
+ Thuốc cấy tránh thai.
Thuốc có tác dụng dài hạn 3-5 năm. Đƣợc cấy dƣới da thƣờng là mặt
trong cánh tay trái.Hiện có 2 loại thuốc cấy là Levonorgestrel 216mg trong 6
22
nang (Norplant) hoặc 150mg trong 2 nang (Jadelle) và Etonogestrel 68mg
(Implanon) trong 1 nang [73], [81]. Tất cả đều có tác dụng tránh thai cao,năm
đầu chỉ có 0,2% thất bại cho Norplant và 0% cho Implanon
- Các dạng thuốc nội tiết tránh thai khác.
+ Thuốc đặt âm đạo: sử dụng vòng âm đạo có chứa Ethinyl
Estradiol 15ųg và Etonogestrel 120ųg (NuvaRing) mỗi tháng đặt một lần,
liên tục trong 3 tuần sau sạch kinh.
+ Thuốc đặt trong buồng tử cung: Cũng dùng ống silastic nhƣ
trên gắn vào DCTC hình chữ T chứa Levonorgestrel.Tác dụng tránh thai bằng
cả 2 phƣơng pháp dụng cụ và Progesteron kéo dài trong 3 năm.
+ Thuốc dán ở da: Miếng dán tránh thai kết hợp có diện tích 20cm
gồm 3 lớp phóng thích ethinylestradiol 20ųg và norelgestromin 150ųg (Evra)
Là tránh giao hợp vào những ngày có khả năng thụ tinh nhất trong vòng kinh.
Đây là kết quả của những nghiên cứu về sinh lý buồng trứng và khả năng hoạt
động của tinh trùng.Ngƣời ta biết rằng noãn chỉ có khả năng thụ tinh trong
vòng 10-24 giờ sau khi phóng noãn. Tinh trùng có khả năng hoạt động tối đa
48-72 giờ sau khi đƣợc phóng vào âm đạo.Vì vậy muốn tránh thụ thai có kết
quả bằng phƣơng pháp sinh lý thì phải kiêng giao hợp ít nhất 3 ngày trƣớc và
1 ngày sau khi phóng noãn.
- Cách tính lịch theo Ogino- Knauss:
Năm 1929-1930 khuyên nên tránh giao hợp từ 12-19 ngày trƣớc kỳ
kinh tới. Đối với ngƣời có vòng kinh 28 ngày thì tránh giao hợp từ ngày 10-17
ngày của chu kỳ (tƣơng ứng với 10-19 ngày trƣớc kỳ kinh tới). Ngƣời có
vòng kinh không ổn định,có thể dùng công thức của Chartier(1970):
Ngày đầu có thể thụ tinh: 10+ vòng kinh ngắn nhất -28
Ngày cuối có thể thụ tinh: 17+ vòng kinh ngắn nhất -28
24
- Phƣơng pháp đo thân nhiệt hằng ngày
Trong chu kỳ kinh,từ ngày có kinh đến ngày phóng noãn thân nhiệt PN
thƣờng thấp dƣới 37
0
C. Sau khi phóng noãn nhiệt độ sẽ tăng từ 0,3-0,5
0
C
Theo dõi nhiệt độ hằng ngày và ghi lại bằng biểu đồ ta có thể tránh giao hợp 3
ngày trƣớc ngày dự kiến có phóng noãn với 2 ngày sau khi nhiệt độ đã tăng
Đây là phƣơng pháp dễ làm, không tốn kém và rất chính xác để chọn ngày
phóng noãn, chỉ cần thực hiện đúng qui tắc đo thân nhiệt. [9], [45].
- Theo dõi chất nhầy cổ tử cung.
Triệt sản Quinacrin là đặt 7 viên chứa tổng cộng 252 mg Quinacrin vào
buồng tử cung, phƣơng pháp này vẫn đang đƣợc nghiên cứu và có nhiều tranh
luận gay gắt.Phƣơng pháp này cũng đƣợc thử nghiệm tại Việt Nam
1.3.6.3 Thắt và cắt ống dẫn tinh ở nam giới
Thắt và cắt ống dẫn tinh là một phẩu thuật làm gián đoạn ống dẫn tinh
để dẫn đến không có tinh trùng trong mỗi lần xuất tinh. Là BPTT vĩnh viễn ở
nam giới, thực hiện một lần có tác dụng tránh thai suốt đời. Hiệu quả tránh
thai rất cao trên 99,5%. Điều bất tiện là phải chờ 12-15 tuần sau mổ hoặc qua
20 lần xuất tinh mới hoàn toàn hết tinh trùng còn ở giai đoạn cuối ống dẫn
tinh. Nếu có quan hệ tình dục phải sử dụng bao su [9], [45].
1.4. CÁC CHÍNH SÁCH DS-KHHGĐ CỦA VIỆT NAM.
1.4.1 Giai đoạn từ 1961-1975
Quyết định số 216/CP ngày 26/12/1961 của HĐCP về việc sinh đẻ có
hƣớng dẫn.
- Chỉ thị số 99/TTg ngày 16/10/1963 của TTCPvề công tác hƣớng dẫn
sinh đẻ.
- Quyết định số 94/CP ngày 13/5/1970 của HĐCP về cuộc vận động
sinh đẻ có kế hoạch.