Tầng 9, Toà Nhà Minexport, 28 Bà Triệu, Hà Nội, Việt Nam
Tel: 04 62702158 Fax: 04 62702138
Email: ; Website: www.mutrap.org.vn
BÁO CÁO
BẢO HỘ THUẾ QUAN, TRỢ CẤP THỰC PHẨM NÔNG NGHIỆP VÀ
ĐÀM PHÁN HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO (FTA) GIỮA
VIỆT NAM VÀ LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)
Báo cáo cung cấp thông tin về các cơ chế mà Liên minh châu Âu đã thông qua
để hỗ trợ cho một số sản phẩm cụ thể, và sự phù hợp của trợ cấp hàng hóa đầu
vào qua mức bảo hộ hữu dụng. Một số sản phẩm đó là thịt, rau và bột mì. Việc
nghiên cứu sẽ minh họa sự liên quan hiệu quả của các cơ chế hỗ trợ đối với
những sản phẩm này trong EU
MÃ HOẠT ĐỘNG: FTA- 7C
Nhóm chuyên gia:
Antonio Cordella
Võ Trí Thành
Trịnh Quang Long
III. KẾT LUẬN 44
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ACP
(Các nước) châu Phi-Ca ri bê-Thái Bình Dương
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CAP
Chính sách nông nghiệp chung
EBA
Sáng kiến “mọi thứ trừ vũ khí”
EC
Cộng đồng châu Âu
EPA
Hiệp định đối tác kinh tế
ERP
Suất bảo hộ hữu dụng
EU
Liên minh châu Âu
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA
Hiệp định thương mại tự do
GIs
ròng các sản phẩm thực phẩm nông nghiệp với mức thặng dư là 3,8 tỷ USD hay 0,4% tổng
mậu dịch. Trao đổi thương mại các sản phẩm thực phẩm nông nghiệp với Việt Nam chỉ
chiếm một phần nhỏ trong ngoại thương của EU cả về mặt nhập khẩu (0,35%) lẫn xuất
khẩu (0,15%).
Về chiến lược chính sách thực phẩm nông nghiệp, EU đang ngày càng gia tăng nhập khẩu
các loại nguyên liệu nông nghiệp thô cơ bản, giá rẻ, rồi sau đó đưa vào phục vụ cho ngành
công nghiệp thực phẩm và đồ uống của EU với định hướng toàn cầu, lấy chất lượng làm
trọng tâm và giá trị cao. Chính vì thế, EU đang tăng cường nhập khẩu các nguyên liệu nông
nghiệp thô trong khi xuất khẩu các sản phẩm thực phẩm giá trị gia tăng nhiều hơn. Thật vậy,
thị phần hàng nông nghiệp xuất khẩu số lượng lớn của EU đang giảm, song xuất khẩu các
sản phẩm thực phẩm có giá trị gia tăng của EU lại tăng cao.
Như một phần trong tiến trình cải cách về Chính sách nông nghiệp chung, EU đã và đang
tìm cách thúc đẩy một sự dịch chuyển căn bản trong mô hình sản xuất nông nghiệp, lương
thực của châu Âu từ "số lượng" sang “chất lượng", từ phục vụ các thị trường “mua sắm -
thiết yếu” sang các thị trường “mua sắm - xa xỉ”. Chính sách chất lượng hàng nông sản
bao trùm 3 lĩnh vực chính:
Các yêu cầu sản xuất chính và các tiêu chuẩn thị trường;
Các chương trình chất lượng EU cụ thể, như là các chỉ dẫn địa lý (GIs), các loại
đặc sản truyền thống và canh tác hữu cơ;
Các chương trình chứng nhận chất lượng thực phẩm.
Thương mại song phương các sản phẩm thực phẩm nông nghiệp giữa Việt Nam-EU
(không bao gồm các sản phẩm thủy sản) phần lớn vẫn có lợi cho Việt Nam, tuy nhiên,
mức thâm hụt thương mại của EU đã giảm đi gần một phần tư trong những năm gần đây,
xuống còn khoảng 880 triệu USD trong năm 2010 (năm 2007 là 1,2 tỉ USD). Trong khi
hàng xuất khẩu của Việt Nam ít nhiều vẫn ổn định trong giai đoạn 2007-2010 (năm 2010
là 1,5 tỉ USD), và hàng nhập khẩu của Việt Nam đã tăng hơn gấp đôi, lên 646 triệu USD.
phục vụ kiểm soát việc xuất khẩu các hạng mục và công nghệ sử dụng kép.
EU vẫn áp dụng trợ cấp xuất khẩu một số hàng nông sản. Kể từ năm 1992, Chính sách nông
nghiệp chung của EU đã có sự thay đổi đáng kể do việc trợ cấp phần lớn đã được tách riêng
ra khỏi sản xuất. Trợ cấp lớn nhất hiện nay là chương trình Trợ cấp theo diện tích đất canh
tác (Single Farm Payment) thuộc loại trợ cấp trong “Hộp xanh lá cây" được WTO cho phép
cung cấp.
Việc cải cách hệ thống hiện đang được tiến hành (theo từng giai đoạn từ 2004 đến 2012)
để giảm bớt kiểm soát đối với hàng nhập khẩu và chuyển trợ cấp cho việc quản lý đất đai
hơn là cho việc sản xuất cây trồng cụ thể. Cải cách Chính sách nông nghiệp chung (CAP)
vào tháng 6 năm 2003 đã thực sự chuyển khoảng 90% chi trả trực tiếp từ các hộp hổ phách
và xanh lam sang hộp xanh lá cây - chủ yếu được thể hiện qua việc "trợ cấp nông nghiệp
dựa trên diện tích canh tác". Năm 2010, EU đã chi khoảng 57 tỷ Euro cho phát triển nông
nghiệp, trong đó 39 tỷ Euro đã được dành cho các khoản trợ cấp trực tiếp. Trợ cấp nông
nghiệp và thủy sản chiếm hơn 40% ngân sách của EU.
Chương trình Trợ cấp theo diện tích đất canh tác (Single Payment Scheme): Mục đích chính
của chương trình này là giúp người nông dân có thu nhập ổn định hơn. Nông dân có thể tự
quyết định sản xuất cái gì và hiểu rằng mình sẽ nhận được cùng một số tiền trợ cấp, cho
phép họ có thể điều chỉnh sản xuất phù hợp với nhu cầu. Để được hưởng chương trình trợ
cấp này, người nông dân phải có đơn đề nghị. Những khoản tiền này được tính toán trên cơ
sở những khoản thanh toán mà người nông dân đã nhận được trong một giai đoạn tham
chiếu (dựa trên dữ liệu trong quá khứ) hoặc số héc ta có đủ điều kiện đã được đưa vào sản
xuất trong năm đầu tiên triển khai chương trình (mô hình vùng).
Bên cạnh các chính sách hỗ trợ này, EU còn có kế hoạch hoàn thuế xuất khẩu. Theo Chính
sách nông nghiệp chung (CAP), EU đặt ra các mức giá tối thiểu cho một số hàng nông sản
nhất định để khuyến khích người nông dân tiếp tục sản xuất lương thực. Trong một số
trường hợp, các mức giá tối thiểu này cao hơn mức giá thế giới áp dụng cho cùng loại sản
Các chế độ ưu đãi tự chủ theo Hiệp định Cotonou cho các nước ACP, trong đó bao
gồm:
o Sáng kiến EBA hỗ trợ cho tất cả các nước kém phát triển;
o Các Hiệp định đối tác kinh tế tạm thời (EPAs) và một EPA toàn diện được
ký tắt hoặc ký kết với các chính phủ của một số nước ACP nhất định;
o Quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) quy định khuôn khổ thương mại
cho riêng 10 nước ACP không thuộc danh sách kém phát triển mà chính
phủ các nước này chưa ký tắt các EPA tạm thời.
Các thỏa thuận ưu đãi song phương hoặc khu vực – Hiệp định thương mại tự do,
chẳng hạn như Chi-lê, Mê-hi-cô và Nam Phi và hầu hết các nước Địa Trung Hải.
Việt Nam vẫn đang cân nhắc những lợi ích (lợi thế và bất lợi) khi ký kết Hiệp định thương
mại tự do với EU. Việt Nam hiện đang được hưởng lợi từ GSP với EU, nhưng không
giống với một Hiệp định thương mại tự do ký kết song phương, các ưu đãi thuộc quy chế
GSP được tái xem xét trên cơ sở định kỳ. Ví dụ, Quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập với
Việt Nam đã được điều chỉnh vào năm 2008 và một số sản phẩm khác nhau như là giày
dép của Việt Nam - những mặt hàng đã được hưởng lợi từ cơ chế này – đã không còn đáp
ứng được các điều kiện cần thiết.
Hiệp định thương mại tự do EU-Việt Nam có thể mang lại cho Việt nam cơ hội tiếp cận
thị trường EU một cách tự do và với những ưu đãi hơn cơ chế GSP hiện đang mang lại,
tuy nhiên, FTA sẽ áp dụng sự trao đổi những đặc quyền mậu dịch có đi có lại giữa hai bên
và buộc Việt Nam phải mở cửa thị trường của mình cho hàng hóa nhập khẩu EU.
4
Trong trường hợp các cuộc đàm phán về Hiệp định thương mại tự do EU-Việt Nam không
đi đến thống nhất thì giải pháp thay thế duy nhất đối với Hiệp định thương mại tự do mà
WTO cho phép đó là duy trì cơ chế GSP được áp dụng cho tất cả các nước đang phát triển.
Nhìn vào những hiệp định ưu đãi này, việc phân tích của chúng tôi cho thấy trong năm
2010, không có hiện tượng đánh thuế lũy tiến của EU đối với các nước đang phát triển
theo EPA, và tương đối nhỏ cho các nước đang phát triển khác, với các nước được hưởng
lợi từ GSP chịu mức thuế cao hơn những nước được hưởng lợi từ các hiệp định FTA
không thuộc EPA.
Biểu thuế quan leo thang được EU áp dụng đối với hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam
có tồn tại, mặc dù có vẻ không lớn, và ít khắt khe hơn mức thuế nhập khẩu leo thang mà
Việt Nam áp dụng trên các sản phẩm tương tự nhập từ EU. Hơn nữa, mức thuế leo thang
của EU áp dụng đối với các sản phẩm sơ chế dường như cao hơn các sản phẩm thực phẩm
thành phẩm, trong khi Việt Nam áp mức thuế leo thang cao hơn vào các sản phẩm thực
phẩm cho tiêu dùng cuối cùng.
Trong chuỗi bột ngũ cốc, mức thuế mà EU áp dụng đối với bột mì cao hơn so với bánh
quy (tương ứng là 23% và 18%), và cà chua sơ chế cao hơn nước sốt cà chua (tương ứng
là 14% và 7%), tuy nhiên, mức thuế suất leo thang áp dụng đối với các sản phẩm thành
phẩm lại cao hơn so với các sản phẩm sơ chế trong chuỗi chế biến dưa chuột và thịt (lần
lượt là 9% và 14% đối với dưa chuột, 13% và 20% đối với thịt). 5
Khi so sánh các mức thuế nhập khẩu mà EU áp dụng đối với các đối tác thương mại với
mức độ tiếp cận ưu đãi khác nhau, bên cạnh những lợi thế rõ ràng của EPA và EBA (trong
đó các mức thuế suất mà các thành viên thiết lập là “bằng không”) thì có vẻ như hàng hóa
xuất khẩu từ các nước đã ký kết Hiệp định thương mại tự do với EU được hưởng ưu đãi hơn
khi vào thị trường EU so với hàng hóa xuất khẩu từ các nước được hưởng lợi từ chương
trình GSP đơn phương. Cụ thể khoảng cách ưu đãi đối với một số (nhưng không phải là tất
cả) các sản phẩm sơ chế (như cà chua sơ chế, một số loại thịt), thực phẩm chế biến (mì,
nước trái cây, nước sốt) và nhìn chung cho các loại rau quả tươi hoặc ướp lạnh là tương đối
lớn. Tuy nhiên, không có việc tiếp cận ưu đãi giữa một FTA phi EPA và GSP đối với các
thuế nhập khẩu đánh vào sản phẩm cuối cùng.
Mặt hàng thịt và các sản phẩm thịt xuất khẩu của Việt Nam đối diện với một số mức thuế
nhập khẩu leo thang đối với thịt lợn trung bình 12,5%, trong khi mức thuế nhập khẩu leo
thang đối với một số sản phẩm cuối cùng nhất định nhìn chung cao hơn, trung bình 16%
cho xúc xích, và 20% cho các sản phẩm thịt khác – tuy nhiên cũng có thể thấp hơn như
trong trường hợp của dăm bông chỉ là 10%. Suất bảo hộ hữu dụng đối với các sản phẩm
cuối cùng trong chuỗi mặt hàng thịt lợn đã được tính toán ở mức 21% cho xúc xích, và 8%
cho dăm bông.
Một phân tích sâu hơn đã được tiến hành nhằm so sánh các mức thuế nhập khẩu các đối
tác thương mại chính áp dụng với các sản phẩm thực phẩm nông nghiệp của Việt Nam để 6
kiểm chứng xem liệu mức thuế có phải là một yếu tố tác động chính quyết định dòng chảy
xuất khẩu đối với các đối tác thương mại khác nhau hay không.
Hàng xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN chủ yếu là gạo (79% giá trị thực phẩm nông
nghiệp xuất khẩu trong năm 2010) và cà phê (đứng thứ hai với tỷ lệ 5%). Tuy nhiên,
ASEAN áp dụng mức thuế nhập khẩu tương đối cao trên cả gạo (11%) và cà phê (7%), và
cao hơn các mức thuế mà các đối tác thương mại khác như EU, Mỹ và Hàn Quốc đang áp
dụng. Dòng chảy thương mại dường như thực sự chịu tác động của khoảng cách địa lý
(các thị trường ASEAN là gần hơn so với EU và Mỹ) và tình hình thị trường, bao gồm
cung - cầu và thói quen tiêu dùng (ASEAN là các nước truyền thống tiêu thụ gạo lớn) hơn
là các mức thuế.
Hàng thực phẩm nông nghiệp xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ chủ yếu là cà phê (39%
giá trị thực phẩm nông nghiệp xuất khẩu trong năm 2010) và hạt điều (36%), và mặt hàng
hạt tiêu đứng thứ ba (với tỷ lệ 6%). Xuất khẩu bánh bích quy chiếm thêm 2%, và với mỗi
Các biện pháp phi thuế quan là những trở ngại cho việc trao đổi mậu dịch hàng loạt các
sản phẩm thực phẩm, nước giải khát chế biến. Chúng liên quan đến những vấn đề như
quản lý xuất khẩu, an toàn thực phẩm, công nghệ sinh học, truy xuất nguồn gốc, thủ tục
hải quan, ngoài ra còn phải kể đến những hạn chế về vệ sinh dịch tễ, trợ cấp xuất khẩu, và 7
các doanh nghiệp thương mại quốc doanh. Các biện pháp phi thuế quan này có lẽ là trở
ngại đáng quan tâm hơn là thuế quan.
Đăng ký sản phẩm và giấy phép xuất khẩu có thể là một rào cản lớn đối với hàng thực
phẩm, đồ uống chế biến xuất khẩu của Việt Nam sang EU và các thị trường chính khác. Để
xuất khẩu được các sản phẩm vào hầu hết các thị trường này thì trước tiên các sản phẩm
phải được đăng ký tại các nước nhập khẩu. Một số thị trường còn đòi hỏi việc kiểm tra
thường xuyên các sản phẩm thực phẩm nhập khẩu. Trong khi việc lấy mẫu ngẫu nhiên phục
vụ cho các mục đích an toàn thực phẩm là phổ biến ở hầu hết các nước, thì trong một số
trường hợp khác, nó được áp dụng khác biệt đối với hàng hoá nhập khẩu và các sản phẩm
trong nước, và có thể được sử dụng như một lý do để cấm nhập khẩu hoàn toàn.
Việc ghi nhãn có thể là một vấn đề quan trọng cho các nhà xuất khẩu thực phẩm chế biến
của Việt Nam, đặc biệt là đối với hàng xuất khẩu vào thị trường EU mà trong đó có đến 27
quốc gia phần lớn sử dụng ngôn ngữ khác nhau. Các yêu cầu về ghi nhãn có thể có nhiều
hình thức, một vài trong số đó không nhất thiết tạo ra các hàng rào phi thuế quan. Ví dụ,
yêu cầu ghi nhãn sản phẩm bằng ngôn ngữ chính thức của một quốc gia, các hình thức
khác nhau về thời hạn sử dụng ghi trên bao bì, và những thay đổi về dinh dưỡng hay các
nhãn sản phẩm của một quốc gia. Để đáp ứng được các yêu cầu như vậy có thể tốn kém
bởi vì sự cần thiết phải thiết kế các nhãn hiệu (labels) hoặc nhãn dính phụ (stickers) cụ thể
của quốc gia (đặc biệt ở các thị trường có khối lượng giao dịch nhỏ), các yêu cầu này
thường được áp dụng bình đẳng đối với cả các nhà sản xuất trong nước lẫn các nhà nhập
8
FDI: mối quan hệ giữa thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một vấn đề
quan trọng khi cố gắng tìm hiểu tác động của rào cản thương mại đối với các sản phẩm
thực phẩm chế biến. Không giống như hàng hóa nông nghiệp mà ở đó việc thâm nhập thị
trường nước ngoài hầu như chỉ xảy ra thông qua thương mại, các nhà sản xuất thực phẩm
chế biến có thể lựa chọn hoặc là kinh doanh thực phẩm, đồ uống chế biến trên thị trường
quốc tế, hoặc là sản xuất trực tiếp tại ngay trong một thị trường nước ngoài.
Những rào cản thương mại, mặc dù là một yếu tố quan trọng, nhưng không hẳn là động
lực chính cho vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các thị trường được bảo hộ. Trong hầu
hết trường hợp, FDI là một cấu phần của một chiến lược kinh doanh tổng thể, trong đó quy
mô của thị trường và tiềm năng tiết kiệm chi phí qua việc sản xuất tại địa phương là quan
trọng hơn cả so với các hàng rào thuế quan. Chỉ trong trường hợp mức thuế quan áp dụng
rất cao thì các rào cản thương mại mới là một động lực trực tiếp cho đầu tư. Các rào cản
thương mại có thể đẩy nhanh thời gian gia nhập vào một thị trường nước ngoài thông qua
FDI. Trong trường hợp thuế nhập khẩu khuyến khích việc sản xuất có giấy phép một sản
phẩm nước ngoài và có nhu cầu mạnh mẽ về sản phẩm như vậy, điều này có lẽ dẫn đến
việc sản xuất thực tế trong thị trường nước ngoài đó. Tự do thương mại còn có thể giúp
thúc đẩy việc thâm nhập thị trường nước ngoài mang tính chất khu vực nhiều hơn, do đó
việc gia tăng tự do hóa thương mại (chẳng hạn như thông qua một Hiệp định thương mại
tự do) sẽ dẫn đến sự gia tăng trong cả xuất khẩu và sản xuất nước ngoài.
Do đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp thực phẩm của Việt Nam nhỏ
(chiếm <1% tổng vốn FDI) nên rất khó có thể nói rằng liệu việc tự do hóa thương mại hơn
nữa thông qua ký kết và triển khai một hiệp định thương mại tự do với EU có làm tăng
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp thực phẩm của Việt Nam hay
không. Một yếu tố quan trọng đó là sự tiến triển của tự do hóa thương mại giữa EU và các
nước ASEAN khác. Nếu một Hiệp định thương mại tự do giữa khu vực ASEAN và EU
được triển khai, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của EU rốt cuộc sẽ được rót vào quốc gia
động cũng đứng về phía Việt Nam.
Tuy nhiên, không nên đánh giá quá cao sự cạnh tranh gia tăng về các sản phẩm do EU sản
xuất và việc tiếp cận ưu đãi hơn nữa của hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, chủ yếu do yếu
tố không gian sẽ làm giảm tính cạnh tranh do các chi phí vận chuyển phải gánh chịu là cao
hơn so với các đối thủ cạnh tranh khác. Cũng cần phải tính đến những thói quen và thị hiếu
tiêu dùng khác nhau mà nó có thể làm giảm đi lợi ích của việc tiếp cận ưu đãi.
Sự cạnh tranh gia tăng đối với các nhà sản xuất của Việt Nam và sự tăng trưởng tiềm tàng
của việc nhập khẩu các sản phẩm thực phẩm nông nghiệp từ EU nên được xét trên những lợi
ích của giá cả thực phẩm thấp hơn đem lại cho người tiêu dùng trong nước, đặc biệt là xu thế
gần đây đã chứng kiến Việt Nam trở thành một nước nhập siêu sản phẩm thực phẩm nông
nghiệp kể từ năm 2010.
Một hiệu ứng tích cực khả dĩ cho việc Việt Nam ký kết hiệp định thương mại tự do với EU
là sự kỳ vọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nhà máy chế biến thực phẩm, hoặc
dưới góc độ cung ứng cho một thị trường thực phẩm trong nước đang mở rộng thông qua
các sản phẩm được sản xuất gần hơn với các điểm tiêu thụ, hoặc dưới góc độ cung ứng các
thị trường nước ngoài mà có sự tiếp cận ưu đãi hơn cho các sản phẩm có nguồn gốc tại
Việt Nam hơn là từ EU. Đây là trường hợp, ví dụ, của cả thị trường Trung Quốc và các thị
trường ASEAN. Trong trường hợp FTA giữa ASEAN và EU không diễn ra hoặc bị trì
hoãn thì FTA giữa Việt Nam và EU sẽ là động lực cho dòng vốn FDI cho chế biến thực
phẩm nhắm mục tiêu vào cả thị trường Việt Nam và các thị trường ASEAN. Tuy nhiên,
cần phải tính đến yếu tố luật pháp, bảo hộ hợp lý sẽ là một lý do quan trọng hơn nhiều để
cung cấp vốn FDI so với những lợi ích từ việc tiếp cận ưu đãi.
Tiếp theo, sự cân nhắc có lợi cho đàm phán FTA giữa Việt Nam và EU là vấn đề chính
sách ưu đãi đơn phương hiện tại vào thị trường EU qua Quy chế thuế quan ưu đãi phổ cập
(GSP) phụ thuộc vào sự hạn chế có thể có trong tương lai. Trên thực tế, có thể sự điều
chỉnh các bên hưởng lợi của chương trình GSP đã được lên kế hoạch vào cuối năm nay.
11
II. GIỚI THIỆU
Báo cáo sẽ đánh giá mức độ bảo hộ và hỗ trợ mậu dịch mà EU áp dụng đối với một số sản
phẩm thực phẩm nông nghiệp. Ngoài ra, báo cáo còn đưa ra so sánh về mức độ ưu đãi mà
EU áp dụng cho các nhà cung cấp khác của mình về các sản phẩm này; chế độ khác nhau
được áp dụng bởi các đối tác thương mại chủ chốt về hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam
cũng được phân tích; và các vấn đề về vốn FDI và các hàng rào phi thuế quan đối với các
sản phẩm thực phẩm cũng được bàn bạc. Việc đánh giá cuối cùng là đánh giá những lợi
thế và bất lợi khi ký kết một Hiệp định thương mại tự do đối với một số sản phẩm.
1. CÁC MÔ HÌNH THƯƠNG MẠI
1.1 Trao đổi mậu dịch hàng hóa nông sản của Việt Nam
Việt nam là một nền kinh tế định hướng xuất khẩu, với kim ngạch xuất khẩu chiếm
khoảng 2/3 GDP. Hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU đạt 14,5 tỷ USD năm 2010,
chiếm 20,4% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Các đối tác thương mại chủ yếu là:
Mỹ - thị trường xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch là 15,9 tỷ USD; ASEAN với 8,5 tỷ
USD; Nhật với 8,2 tỷ USD; Trung Quốc với 7 tỷ USD; và Hàn Quốc với 3,3 tỷ USD.
Việt Nam có truyền thống là một nước xuất khẩu ròng các sản phẩm thực phẩm nông
nghiệp (theo định nghĩa của WTO tức là không bao gồm các sản phẩm thủy sản), nhưng
đã trở thành một nước nhập khẩu ròng trong năm 2010. Kim ngạch xuất khẩu đạt 6,9 tỷ
USD năm 2010 (tuy nhiên, năm 2009 là 7,9 tỷ USD và năm 2008 là 8,2 tỷ USD) trong khi
kim gạch nhập khẩu là 7,1 tỷ USD, với mức thâm hụt thương mại là 220 triệu USD hay
2% tổng thương mại. Hàng thực phẩm nông nghiệp nhập khẩu đã tăng lên đều đặn từ năm
2006, và con số thặng dư thương mại gần 3 tỷ USD trong năm 2008 giờ đây đã không còn.
khác15%
ASEAN
33%
EU 22% 13
1.2 Trao đổi mậu dịch hàng hóa nông sản của EU
Trái ngược với những gì diễn ra với Việt Nam, năm 2010 EU đã trở thành nhà xuất khẩu
ròng các sản phẩm thực phẩm nông nghiệp, với mức thặng dư là 3,8 tỷ USD, hay 0,4%
tổng mậu dịch. Tổng kim ngạch xuất khẩu các thực phẩm nông nghiệp đạt 435 tỷ USD
năm 2010 (tăng 6% so với năm 2009), trong khi kim ngạch nhập khẩu là 432 tỷ USD (chỉ
tăng 3% so với năm 2009). Việc trao đổi các sản phẩm thực phẩm nông nghiệp với Việt
Nam chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng ngoại thương của EU cho cả nhập khẩu (0,35%),
và xuất khẩu (0,15%). Nguồn: UN ComTrade
Về chiến lược chính sách thực phẩm - nông nghiệp, EU đang ngày càng nhắm đến việc gia
tăng nhập khẩu các nguyên liệu nông nghiệp thô cơ bản, giá rẻ, rồi sau đó đưa vào phục vụ
cho ngành công nghiệp thực phẩm/đồ uống “định hướng toàn cầu, lấy chất lượng làm
trọng tâm và giá trị cao” của EU. Chính vì thế, EU đang gia tăng nhập khẩu các nguyên
liệu thô nông nghiệp trong khi xuất khẩu các sản phẩm thực phẩm giá trị gia tăng nhiều
hơn. Thật vậy, thị phần hàng hóa nông nghiệp xuất khẩu số lượng lớn của EU đang giảm,
trong khi xuất khẩu các sản phẩm thực phẩm giá trị gia tăng của EU đang gia tăng.
Các sản phẩm thực phẩm giá trị gia tăng xuất khẩu hiện chiếm hai phần ba tổng kim ngạch
xuất khẩu sản phẩm thực phẩm và nông nghiệp của EU. Về nhập khẩu, EU vẫn là nhà
Thương mại song phương các sản phẩm thực phẩm nông nghiệp giữa Việt Nam-EU
(không bao gồm các sản phẩm thủy sản) phần lớn vẫn có lợi cho Việt Nam; tuy nhiên,
mức thâm hụt mậu dịch của EU đã giảm đi gần một phần tư trong những năm gần đây,
xuống còn khoảng 880 triệu USD trong năm 2010 (năm 2007 là 1,2 tỉ USD). Trong khi
xuất khẩu của Việt Nam ít nhiều vẫn ổn định trong giai đoạn 2007-2010 (năm 2010 là 1,5
tỉ USD), và hàng nhập khẩu của Việt Nam đã tăng hơn gấp đôi, lên 646 triệu USD. Nguồn: UN ComTrade
Ba loại hàng hóa thực phẩm nông nghiệp hàng đầu của Việt Nam xuất sang thị trường EU
chiếm hơn 4/5 tổng kim ngạch xuất khẩu, bao gồm cà phê (59%), hạt điều (16%) và hạt
tiêu (10%). Các loại hàng hóa xuất khẩu khác bao gồm mì sợi chiếm 2,3%, nước trái cây
(1,4%), chè (0,9%), gạo (0,8%).
Nhập khẩu
Xuất khẩu
CCTM
Thương mại hàng nông sản của
Việt Nam với 27 nước EU 15
Nguồn: UN ComTrade
2. CHẾ ĐỘ CHÍNH SÁCH VÀ CÁC CÔNG CỤ THƯƠNG MẠI CỦA EU
Cơ cấu biểu thuế nhập khẩu tối huệ quốc (MFN) phổ cập của EU, hầu như không thay đổi
trong một vài năm qua, vẫn còn khá phức tạp. Nó bao gồm thuế nhập khẩu tuyệt đối và
thuế nhập khẩu tương đối. Thuế nhập khẩu tương đối (10,1 % của tất cả các dòng thuế)
bao gồm thuế nhập khẩu tuyệt đối (6,5%), thuế nhập khẩu kép (2,9%) và thuế nhập khẩu
hỗn hợp hay biến đổi theo phạm vi giá (0,8%).
Đồ uống có cồn
8%
Xuất khẩu thực phẩm nông nghiệp của EU sang
Việt Nam năm 2010
Các loại khác
65%
Thực phẩm chế biến
15%
Sản phẩm sữa
7%
Thức ăn gia súc
5%
Gạo
1%
Việc cấm nhập và giám sát hàng nhập khẩu được duy trì trên cơ sở an ninh, kỹ thuật, vệ
sinh dịch tễ, môi trường, và theo các hiệp định và công ước quốc tế. Cần phải có giấy phép
nhập khẩu khi các sản phẩm thuộc diện bị hạn chế về số lượng, về hạn ngạch nhập khẩu,
và về các biện pháp bảo vệ, hoặc phục vụ cho công tác theo dõi, giám sát hàng nhập khẩu.
EU sử dụng nhiều các biện pháp khắc phục hậu quả thương mại dự phòng, mặc dù số
lượng các biện pháp dự phòng mà EC thông báo lên tổ chức WTO đã giảm kể từ năm
2005. Việc hài hòa hóa các yêu cầu kỹ thuật (bao gồm các quy định, chuẩn mực, tiêu
chuẩn kỹ thuật, và các biện pháp vệ sinh dịch tễ) giữa các nước thành viên EU vẫn đang
diễn ra. Phải có giấy phép xuất khẩu để xuất khẩu một số mặt hàng nông sản nhất định, và
để phục vụ kiểm soát việc xuất khẩu các hạng mục và công nghệ sử dụng kép.
EU vẫn còn trợ cấp xuất khẩu cho một số mặt hàng nông sản. Các chương trình hỗ trợ và
trợ cấp (cả ở cấp toàn khối và cấp các nước thành viên) được thông báo lên WTO có thể
được nhóm lại thành bốn nhóm chính: (i) Các hành động mang tính cấu trúc (Structural
Actions); (ii) Chính sách nông nghiệp chung (CAP); (iii) Các chương trình công nghiệp;
và (iv) các chương trình khác, bao gồm hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các liên
doanh, và cho nghề cá và nuôi trồng thủy sản.
2.1 Trợ cấp của EU đối với lĩnh vực thực phẩm nông nghiệp
Kể từ năm 1992 (và đặc biệt là từ 2005), Chính sách Nông nghiệp chung của EU (CAP) đã
có sự thay đổi đáng kể do việc trợ cấp đã hầu như được tách ra khỏi sản xuất. Trợ cấp lớn
nhất hiện nay đó là chương trình Trợ cấp theo diện tích đất canh tác (Single Farm
Payment) thuộc loại trợ cấp trong “Hộp xanh lá cây" được WTO cho phép cung cấp.
Nội dung của CAP bao gồm:
a) Khoản thanh toán trợ cấp trực tiếp cho các loại cây trồng và đất đai có thể được
canh tác
có đủ điều kiện đã được đưa vào sản xuất trong năm đầu tiên triển khai chương trình (mô
hình vùng).
Các chương trình hỗ trợ khác: Ngoài chương trình trợ cấp theo diện tích đất canh tác,
người nông dân có thể nhận được hỗ trợ từ các đề án hỗ trợ cụ thể khác liên quan đến diện
tích cây trồng hoặc sản xuất, phụ thuộc vào quyết định của quốc gia thành viên liên quan
có triển khai các chương trình này hay không. Một số đề án cụ thể đã được triển khai và/
hoặc duy trì cho các sản phẩm sau: các vụ mùa cung cấp protein, gạo, các loại hạt, khoai
tây tinh bột, sữa và các sản phẩm từ sữa, các loại hạt giống, bông, cây ô lưu, trái cây và
rau quả, các loại trái cây mềm, thịt bò và thịt bê, và có một khoản chi trả riêng cho đường
(chỉ dành cho các thành viên mới đang áp dụng chương trình thanh toán khu duy nhất).
Các chương trình hỗ trợ khác này chiếm một phần nhỏ chi ngân sách cho nông nghiệp, và
muộn nhất sẽ chấm dứt vào cuối 2012.
18
Theo báo cáo mới nhất của EU gửi WTO về trợ cấp trong nước cho hàng nông sản (tham
chiếu theo năm thị trường 2007-2008) thì AMS
1
cụ thể tổng cộng là 13,5 tỷ Euro hay
chiếm 5,5% của giá trị sản xuất nông nghiệp; ngoài ra, đã chi trả 5,2 tỷ Euro cho các
khoản trợ cấp thuộc “Hộp màu xanh lam” và 62,6 tỷ Euro cho các khoản trợ cấp thuộc
“Hộp màu xanh lá cây”. Trợ cấp thuộc hộp màu xanh lá cây được WTO cho phép bao gồm
31,3 tỷ Euro qua Chương trình trợ cấp theo diện tích đất canh tác, và 3,2 tỷ Euro qua
chương trình Hỗ trợ diện tích duy nhất. Thực tế, trong năm 2008, các khoản thanh toán hỗ
trợ trực tiếp chiếm 76,3% của tổng chi thuộc Trụ cột 1 (hỗ trợ trực tiếp và các biện pháp
thị trường) của CAP, tuy nhiên, đến năm 2010 con số này đã tăng lên 90%.
Chương trình trợ cấp theo diện tích đất canh tác nhằm mục đích thay đổi cách mà EU đã
những người nộp đơn. Vì vậy không thể tính toán được số tiền thanh toán cho đến khi xác
minh xong được tất cả các đơn.
Để đưa ra chỉ dấu về mức độ hỗ trợ, chúng tôi đã tính toán dựa trên đề án đã được triển
khai ban đầu đối với một quốc gia
2
EU điển hình
Khu vực canh tác đến 180 Euro/ha (khoảng 4-5 Euro/tấn lúa mì)
1
AMS – Aggregated Measures of Support - là Tổng gộp các Biện pháp hỗ trợ theo định nghĩa của Hiệp định
Nông nghiệp của WTO.
2
Đáng chú ý là, các con số tạm tính này đã giảm dần qua các năm đối với hầu hết các trang trại. 19
Gia súc giống bò (bovine) đến 210 Euro/đầu con (cộng với phí bảo hiểm bê
con/giết mổ đến 80%/đầu con)
Cừu và dê đến 15 Euro/đầu con
Hỗ trợ diện tích đối với chương trình cây có hạt đến 120 Euro/ha (liên quan đến
diện tích trồng hợp lệ).
Bên cạnh các chương trình hỗ trợ này, EU còn có kế hoạch hoàn thuế xuất khẩu. Theo
Chính sách nông nghiệp chung (CAP), EU đặt ra các mức giá tối thiểu cho một số mặt
hàng nông sản nhất định để khuyến khích người nông dân tiếp tục sản xuất lương thực.
Trong một số trường hợp, các mức giá tối thiểu này cao hơn mức giá thế giới áp dụng cho
cùng loại sản phẩm. Khi các sản phẩm nuôi trồng được xuất khẩu ra ngoài EU, khoản tiền
hoàn thuế này cho phép thu hẹp khoảng cách giá giữa mức giá EU và mức giá thị trường
thế giới, và để hỗ trợ cho mức giá thu mua nguyên liệu đầu vào cao trong EU. Chương
trình này cho phép các nhà xuất khẩu EU có thể cạnh tranh tốt hơn trên thị trường thế giới.
Về cơ bản có ba chế độ thương mại ưu đãi để vào thị trường EU đối với hàng hóa nông
nghiệp có xuất xứ từ các nước đang phát triển:
Hệ thống về Quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP), áp dụng cho tất cả các nước
đang phát triển trong danh sách hợp lệ, bao gồm: