ĐỀ ÁN “THÍ ĐIỂM XÂY DỰNG VÙNG, CƠ SỞ AN TOÀN DỊCH BỆNH ĐỐI VỚI GIA SÚC VÀ GIA CẦM, GIAI ĐOẠN 2014-2018 - Pdf 26


BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
ĐỀ ÁN
“THÍ ĐIỂM XÂY DỰNG VÙNG, CƠ SỞ AN TOÀN DỊCH BỆNH
ĐỐI VỚI GIA SÚC VÀ GIA CẦM, GIAI ĐOẠN 2014-2018”

HÀ NỘI 8/2014

2.1. Mục tiêu chung 25
2.2. Mục tiêu cụ thể 25
3

III. GIẢI PHÁP 26
3.1. Giải pháp chung 26
3.2. Giải pháp cụ thể 28
PHẦN III. KINH PHÍ THỰC HIỆN 32
I. CƠ CHẾ TÀI CHÍNH 32
II. DỰ TOÁN KINH PHÍ 33
2.1. Ngân sách địa phương (tính cho 1 năm): 70 tỷ đồng 33
2.2. Ngân sách Trung ương (tính cho 1 năm): 3,5 tỷ đồng 34
PHẦN IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 35
I. Trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 35
II. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các tỉnh 35
III. Trách nhiệm của chủ các cơ sở chăn nuôi tập trung tham gia xây dựng cơ
sở ATDB 35
IV. Trách nhiệm của người chăn nuôi nhỏ lẻ 36
V. Trách nhiệm của người hành nghề thú y 36
VI. Trách nhiệm của người buôn bán, vận chuyển, giết mổ gia súc, gia cầm 36
PHỤ LỤC 37
I. Yêu cầu của OIE về xây dựng vùng, cơ sở ATDB 37
II. Bản đồ khu vực xây dựng vùng, cơ sở ATDB 55

4

PHẦN MỞ ĐẦU
I. BỐI CẢNH VÀ SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Chiến lược phát triển ngành chăn nuôi Việt Nam đến 2020 xác định chăn
nuôi sẽ chiếm khoảng 42% trong toàn ngành nông nghiệp, an toàn dịch bệnh và

pháp an ninh sinh học để đảm bảo an toàn dịch bệnh là chìa khóa giúp cho cơ sở
phát triển chăn nuôi bền vững, tạo ra những sản phẩm chăn nuôi có giá trị cao
trên thị trường, đồng thời mang lại cơ hội xuất khẩu động vật và sản phẩm động
vật sang các nước, tăng thu nhập cho doanh nghiệp. Đối với nhiều hộ gia đình
nông thôn, chăn nuôi là một trong những nguồn thu nhập chính của gia đình.
Ngoài nguồn lợi chính là những sản phẩm thịt, trứng thì chăn nuôi còn đem lại
những nguồn phụ phẩm nông nghiệp khác như phân bón, sức kéo và là phương
tiện vận chuyển, Có thể nói chăn nuôi là nguồn sinh kế của người nông dân.
5

Nguồn sinh kế ấy có thể mất đi do gia súc, gia cầm bị bệnh, chết và phải tiêu
hủy trong trường hợp dịch bệnh xảy ra với tốc độ lây lan nhanh, tỉ lệ chết cao.
Do đó việc xây dựng được các vùng, cơ sở ATDB sẽ mang lại lợi ích kinh tế cho
người nông dân, là động lực để phát triển ngành chăn nuôi và các ngành kinh tế
khác có liên quan. Đồng thời việc xây dựng vùng, cơ sở ATDB sẽ góp phần vào
công cuộc xóa đói giảm nghèo và an sinh xã hội, đảm bảo nguồn dinh dưỡng, an
toàn thực phẩm và môi trường sinh thái.
Đề án "Thí điểm xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh đối với gia súc
và gia cầm, giai đoạn 2014-2018” được xây dựng nhằm phát triển bền vững
ngành chăn nuôi có tính chất hàng hóa, đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất, đời
sống xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế. Đề án này sẽ là căn cứ để ngành thú y
triển khai các chương trình, dự án, các hoạt động hàng năm, cũng như thu hút
các nguồn lực trong và ngoài nước cho sự phát triển hiệu quả, bền vững của toàn
ngành nông nghiệp trong giai đoạn tới; đồng thời cũng là cơ sở để xây dựng, sửa
đổi các văn bản quy phạm pháp luật cho phù hợp với thực tiễn và chỉ đạo, điều
hành có hiệu quả hơn trong công tác thú y.
II. CƠ SỞ PHÁP LÝ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
2.1 Chủ trương của Đảng
- Nghị quyết 08-NQ/TW của Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung
ương Đảng Khóa X.

thuỷ sản đến năm 2020.
- Quyết định 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng tăng cao giá trị gia tăng
và phát triển bền vững.
- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 về việc Phê
duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010 – 2020.
- Chỉ thị số 22/CT-TTg ngày 05/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ về xây
dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020.
- Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 05/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ về lập
kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016 - 2020.
- Quyết định số 1384/QĐ-BNN-KH ngày 18/6/2013 ban hành chương
trình hành động thực hiện đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng tăng
cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững theo quyết định số 899/QĐ-TTg ngày
10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ.
2.4. Quy định quốc tế và cam kết của Việt Nam
- Cam kết của Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO):
Việt Nam cam kết thực hiện các nghĩa vụ của Hiệp định về Áp dụng các biện
pháp vệ sinh kiểm dịch động thực vật (SPS) ngay khi gia nhập WTO.
- Quy định của Tổ chức Thú y Thế giới (OIE) về thú y động vật trên cạn
phục vụ giao thương quốc tế.
III. PHẠM VI ĐỀ ÁN
3.1. Đề án “Thí điểm xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh đối với gia súc và
gia cầm, giai đoạn 2014-2018”, trước mắt tập trung xây dựng:
- Cơ sở chăn nuôi lợn tập trung ATDB đối với 03 bệnh truyền nhiễm nguy
hiểm ở lợn (LMLM, Tai xanh, Dịch tả lợn); cơ sở chăn nuôi gà, vịt tập trung
ATDB đối với 03 bệnh truyền nhiễm nguy hiểm (Cúm gia cầm, Niu-cát-xơn,
7

Gumboro) tại 07 tỉnh chăn nuôi trọng điểm thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng

, có 10 đơn vị huyện, thành phố với 229 xã, phường, thị trấn,
dân số gần 2 triệu người. Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Hà Nam, Thái Bình,
phía Tây giáp tỉnh Ninh Bình, phía Đông Nam giáp biển Đông với bờ biển dài 72
km. Tình hình chăn nuôi của tỉnh như sau:
a) Gia cầm: Tổng đàn gia cầm là 6,4 triệu con, trong đó có 4,9 triệu con
gà và 1,2 triệu con vịt và 0,3 triệu con gia cầm khác (chim cút, ngan, ngỗng,
chim bồ câu).
b) Lợn: Tổng đàn lợn là 761.180 con (trong đó có 140.000 lợn nái) và có
hơn 2 triệu lợn sữa.
c) Trâu bò: Tổng đàn trâu bò là 38.217 con.
1.2.2. Thái Bình
Thái Bình là tỉnh nằm ở phía Đông nam Đồng bằng sông Hồng, diện tích
tự nhiên 1.546 km², có 8 đơn vị huyện, thành phố với 286 đơn vị xã, phường, thị
trấn. Thái Bình tiếp giáp với tỉnh Hải Dương ở phía bắc, Hưng Yên ở phía Tây
bắc, Hải Phòng ở phía Đông bắc, Hà Nam ở phía Tây, Nam Định ở phía Tây và
Tây nam, phía đông là biển Đông (vịnh Bắc Bộ). Tình hình chăn nuôi của tỉnh
như sau:
a) Gia cầm: Tổng đàn gia cầm là 10.832.000 con, trong đó có: 8.025.000
con gà, 206.000 con vịt, ngan và 2.601.000 con gia cầm khác (chim cút, bồ câu).
b) Lợn: Tổng đàn lợn là 1.014.645 con; trong đó: Lợn nái: 196.258 con,
lợn đực giống: 1.330 con, lợn thịt: 817.057 con.
c) Trâu bò: Tổng đàn trâu bò là 49.947con, trong đó: trâu: 5.572 con, bò:
44.375 con.
9

1.2.3. Đồng Nai
Đồng Nai nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, ở phía bắc vùng
Đông Nam bộ, với diện tích tự nhiên là 5.907,2 km². Phía Đông giáp tỉnh Bình
Thuận, phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh, phía
Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng và Bình Dương. Đồng Nai có 01 thành phố và 10

tích 6.871,5 km2. Phía Đông giáp tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai, phía Tây giáp
tỉnh Tây Ninh và Căm-pu-chia, phía Nam giáp tỉnh Bình Dương, phía Bắc giáp
tỉnh Đắk Nông và Campuchia. Bình Phước có 03 thị xã và 07 huyện với 111 xã,
phường, thị trấn. Tình hình chăn nuôi của tỉnh như sau:
10

a) Gia cầm: Tổng đàn gia cầm là 3.514.000 con (đàn gà: 3.352.200 con,
chiếm 95,39%; đàn vịt, ngan, ngỗng: 161.800 con, chiếm 4,60% so với tổng đàn
gia cầm), trong đó tổng đàn gà chăn nuôi theo quy mô trang trại là 2.723.700
con (với 61 trang trại), chiếm 81,25 % so với tổng đàn gà. Chủ yếu nuôi gia
công cho các công ty nước ngoài.
b) Lợn: Tổng đàn lợn là 249.221 con, trong đó tổng đàn lợn chăn nuôi
theo quy mô trang trại là 216.983 con (với 155 trang trại), chiếm 87,06% so với
tổng đàn. Chủ yếu nuôi gia công cho các công ty nước ngoài.
c) Trâu, bò: Tổng đàn trâu, bò là 43.766 con, trong đó tổng đàn trâu, bò
chăn nuôi theo quy mô trang trại là 1.252 con (với 9 trang trại), chiếm 2,86%
tổng đàn
1.2.6. Bình Dương
Bình Dương là tỉnh thuộc vùng Đông Nam bộ nằm trong vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam, với diện tích 2.694,4 km2. Phía Bắc giáp tỉnh Bình
Phước, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai,
phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh. Bình Dương có 02
thành phố và 07 huyện, thị xã với 91 xã, phường, thị trấn. Tình hình chăn nuôi
của tỉnh như sau:
a) Gia cầm: Tổng đàn gia cầm là 5.486.913 con, trong đó quy mô trang
trại là 4.335.040 con (chiếm tỷ lệ gần 80%).
b) Lợn: Tổng đàn lợn là 489.487 con, trong đó quy mô trang trại là
400.407 con (chiếm tỷ lệ gần 82%).
c) Trâu bò: Tổng đàn trâu bò là 27.338 con.
1.2.7. Tây Ninh

2012, số tỉnh có dịch LMLM giảm 3 tỉnh, tuy nhiên số huyện và số xã tăng,
nguyên nhân do dịch xảy ra trên diện rộng tại tỉnh Hà Tĩnh (9 huyện, 64 xã có
dịch) và một số tỉnh Bắc Trung bộ và Nam Trung bộ khác trong thời gian vừa
qua. Năm 2012 dịch chủ yếu trên lợn, năm 2013 dịch xảy ra nhiều trên trâu bò
và dịch xẩy ra chủ yếu ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ.
Trong 7 tháng đầu năm 2014, cả nước đã xuất hiện 54 ổ dịch tại 54 xã
thuộc 22 huyện, thị xã của 10 tỉnh gồm Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Sơn La,
Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Phú Yên, Kon Tum và Yên Bái làm 2.421 con
gia súc mắc bệnh (gồm 1.393 con trâu, 952 con bò, 102 con lợn và 24 con dê);
số gia súc chết và tiêu hủy là 71 con (gồm 14 con trâu, 10 con bò, 47 con lợn). Ô
dịch LMLM gần đây nhất xảy ra vào ngày 23/7/2014 tại 25 bản thuộc 6 xã Lục
Dạ, Yên Khê, Cam Lâm, Đôn Phục, Mậu Đức và Thạch Ngàn thuộc huyện Con
Cuông, tỉnh Nghệ An. Tổng số gia súc mắc bệnh là 121 con trâu bò (gồm 7 con
trâu và 114 con bò). Hiện nay, không có gia súc mắc bệnh phát sinh.
Tình hình dịch LMLM trong 2 năm 2012-2013
Năm
Số tỉnh có
dịch
Số huyện
có dịch
Số xã có
dịch
Số g/s mắc
bệnh
Số chết, xử

2012 12 30 57 3317 1234
2013 9 44 145 5648 1193
Tỉnh Nam Định: ổ dịch LMLM cuối cùng vào tháng 4/2014 tại các hộ
chăn nuôi nhỏ lẻ.

con. Bệnh Phó thương hàn lợn xảy ra tại 27 tỉnh, thành phố làm hơn 25 ngàn con
mắc bệnh, số chết xử lý là hơn 5 ngàn con. Ngoài ra một số bệnh thông thường
khác như: Đóng dấu lợn, Xoắn khuẩn, Suyễn, E. Coli cũng vẫn rải rác xảy ra
làm chết, tiêu hủy hơn 6 ngàn con.
2.2. Tình hình dịch bệnh gia cầm
- Đối với bệnh Cúm gia cầm: Năm 2013, dịch cúm gia cầm H5N1 đã xảy
ra tại 50 xã, phường của 23 huyện, quận thuộc 7 tỉnh gồm Điện Biên, Hòa Bình,
Kiên Giang, Khánh Hòa, Tây Ninh, Tiền Giang và Vĩnh Long làm 59.829 con
gia cầm mắc bệnh (gà chiếm 16,25%, vịt là 83,43%, ngan 0,32%); tổng số gia
cầm chết và tiêu hủy là 79.522 con (trong đó gà chiếm 18,12%, vịt 81,64%,
ngan là 0,26%). Ngoài ra, một số địa phương khác có xuất hiện ổ dịch trên đàn
gia cầm dưới dạng nhỏ lẻ (một vài hộ chăn nuôi) nhưng đã được chính quyền
địa phương và cơ quan chuyên môn tổ chức tiêu hủy ngay và xử lý kịp thời
không để dịch lây lan.
Trong 3 tháng đầu năm 2014, dịch cúm gia cầm đã xảy ra tại 155 xã,
phường của 90 huyện, thị xã thuộc 33 tỉnh, thành phố (Lào Cai, Nam Định, Phú
Thọ, Hà Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà
Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà,
Đắk Lắk, Kon Tum, Gia Lai, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa- Vũng Tàu, Tây
13

Ninh, Đồng Nai, Bình Dương, Bến Tre, Long An, Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà
Vinh, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau). Số gia cầm mắc bệnh và tiêu hủy là
211.573 con (gà chiếm 36% và vịt chiếm 64%). Ngoài ra, một số địa phương
xuất hiện các điểm dịch trên đàn gia cầm dưới dạng nhỏ lẻ (một vài hộ chăn nuôi)
nhưng đã được phát hiện, xử lý kịp thời, không để dịch lây lan. Từ cuối tháng
3/2014 đến nay, không phát sinh các ổ dịch cúm gia cầm H5N1 trong cả nước.
Tình hình dịch cúm gia cầm trong 2 năm 2012-2013
Năm
Số tỉnh có

3.1.1. Nam Định
Hiện tại, tỉnh Nam Định có 138 trang trại và khoảng 10.000 gia trại chăn
nuôi gia súc, gia cầm, trong đó có 02 cơ sở đạt tiêu chuẩn chăn nuôi VietGAHP
(01 cơ sở chăn nuôi lợn, 01 cơ sở chăn nuôi gia cầm) và 02 cơ sở chăn nuôi lợn
được công nhận cơ sở ATDB đối với bệnh LMLM.
3.1.2. Thái Bình
14

Toàn tỉnh Thái Bình có 67 trang trại quy mô lớn và nhiều gia trại:
- Chăn nuôi lợn: Quy mô từ 50 – 200 con có 2.583 hộ; quy mô từ 200 –
500 con có 94 hộ; quy mô từ 500 – 1.000 con có 11 hộ; quy mô trên 1.000 con có
18 hộ.
- Chăn nuôi gia cầm: Quy mô 500 – 1.000 con có 815 hộ; quy mô trên
1.000 con có 287 hộ.
- Chăn nuôi trâu, bò: Quy mô từ 10 – 20 con/hộ có 138 hộ; quy mô trên 20
con có 19 hộ.
Thái Bình mới chỉ có 02 cơ sở chăn nuôi lợn đã được công nhận ATDB
đối với bệnh LMLM.
3.1.3. Đồng Nai
Tính đến cuối tháng 6/2014, toàn tỉnh Đồng Nai đã có 200 cơ sở ATDB,
gồm có: 102 cơ sở chăn nuôi gà (trong đó có 83 cơ sở ATDB đối với bệnh cúm
gia cầm) và 98 cơ sở chăn nuôi lợn.
Trong 06 tháng đầu năm 2014 đã công nhận mới 18 cơ sở ATDB (gồm 13
cơ sở chăn nuôi lợn và 05 cơ sở chăn nuôi gà); tái thẩm định và công nhận 55 cơ
sở ATDB (gồm có: 03 cơ sở chăn nuôi lợn, 52 cơ sở chăn nuôi gà).
3.1.4. Bà Rịa – Vũng Tàu
Đến nay, đã có 50 cơ sở chăn nuôi lợn ATDB đối với bệnh LMLM và
Dịch tả lợn, 11 cơ sở chăn nuôi gà ATDB đối với cúm gia cầm.
Ngày 06/9/2010 của UBND tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu ban hành Quyết định
số 2193/QĐ-UBND phê duyệt Dự án "Xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh

Quyền lợi cho cơ sở ATDB chưa nhiều, chưa tạo sự khác biệt giữa cơ sở
ATDB với cơ sở không ATDB nên nhiều cơ sở không tham gia xây dựng ATDB
hoặc được công nhận rồi nhưng không làm thủ tục tái công nhận, cụ thể:
- Khi có công bố dịch bệnh trên địa bàn, cơ sở ATDB không được phép
vận chuyển động vật đi tiêu thụ.
- Chưa được ưu đãi lựa chọn con giống cho các chương trình xóa đói
giảm nghèo, phát triển chăn nuôi.
- Chưa được hỗ trợ xúc tiến thương mại và tìm thị trường tiêu thụ sản
phẩm chăn nuôi.
IV. CÔNG TÁC THÚ Y
4.1. Hệ thống thú y
4.1.1. Cấp Trung ương
- Cục Thú y: Trụ sở Văn phòng Cục đóng tại Hà Nội, có các phòng
chuyên môn liên quan như Kiểm dịch động vật, Dịch tễ thú y, Thú y Cộng đồng,
Kế hoạch, Quản lý thuốc thú y, Thanh tra - Pháp chế. Nhân lực thuộc Cục Thú y
có 582 người, trong đó 419 trong biên chế, 163 người là hợp đồng; trong đó có
19 người có trình độ tiến sỹ, 93 thạc sỹ, 320 trình độ đại học, còn lại là cao
đẳng, trung cấp. Các đơn vị trực thuộc Cục Thú y gồm có:
+ 07 Cơ quan Thú y vùng, có 03 phòng chức năng (gồm có: Kiểm dịch
động vật và kiểm soát giết mổ, vệ sinh thú y; Dịch tễ và Trạm chẩn đoán xét
nghiệm bệnh động vật) đảm bảo được việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn
trong lĩnh vực phòng chống dịch bệnh, kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ và
16

kiểm tra vệ sinh thú y. Trong đó có Cơ quan Thú y vùng VI được trang bị nhiều
thiết bị hiện đại để tổ chức chẩn đoán, xét nghiệm bệnh động vật cho các tỉnh
phía Nam.
+ 03 Chi cục Kiểm dịch động vật vùng đóng tại các tỉnh Lào Cai, Lạng
Sơn và Quảng Ninh: Chịu trách nhiệm kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật
xuất nhập khẩu

(127), Trung cấp thú y (1.459), Trung cấp khác (205), (các trình độ khác bao
gồm chăn nuôi thú y, chuyên ngành chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản).
- Hiện tại, các tỉnh, thành phố đều đã có mạng lưới thú y cấp xã được triển
khai theo văn bản số 1569/TTg-NN của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định số
17

92/2009/NĐ-CP, nhiều nơi xây dựng được mạng lưới thú y đến tận thôn, bản.
Đến nay cả nước có 6.878/10.087 xã, phường có nhân viên thú y với tổng số
24.796 người (tính trung bình, mỗi xã nông nghiệp có 3 nhân viên thú y). Thực
tiễn hoạt động cho thấy, lực lượng này có vai trò quan trọng trong công tác
phòng, chống dịch bệnh động vật trên địa bàn xã.
4.1.3. Hệ thống thú y của 07 tỉnh
a) Nam Định: Chi cục Thú y có 10 Trạm Thú y với 70 người (62 biên chế,
8 hợp đồng ngắn hạn). Văn phòng Chi cục: 22 người, Trạm Thú y: 48 người,
229 Trưởng Thú y xã và mỗi xã có từ 3-5 nhân viên thú y.
b) Thái Bình: Chi cục Thú y có 8 Trạm Thú y và Trạm Kiểm dịch Cầu
Nghìn với 73 người (Văn phòng Chi cục: 27 người, Trạm Thú y: 46 người). Các
xã có 286 trưởng ban thú y và 276 xã có thêm 3 thú y viên thôn, bản.
c) Đồng Nai: Chi cục Thú y có 11 Trạm Thú y và 01 Trạm Kiểm dịch
đầu mối giao thông (Ông Đồn). Tổng số cán bộ của Chi cục Thú y năm 2013 là
320 người (Văn phòng Chi cục: 60 người, Trạm Thú y: 111 người và ban thú y
xã: 149 người).
d) Bà Rịa - Vũng Tàu: Chi cục Thú y có 07 Trạm Thú y và 03 Trạm Kiểm
dịch đầu mối giao thông (Tân Thành, Xuyên Mộc và Châu Đức). Tổng số cán bộ
của Chi cục Thú y năm 2013 là 251 người (Văn phòng Chi cục: 98 người, Trạm
Thú y: 35 người và ban thú y xã: 118 người).
đ) Bình Phước: Chi cục Chăn nuôi - Thú y có 10 Trạm Thú y và 01 Trạm
Kiểm dịch cửa khẩu Hoa Lư giáp với biên giới Căm-pu-chia, 02 Trạm Kiểm
dịch đầu mối giao thông (Tân Lập và Chơn Thành). Tổng số cán bộ của Chi cục
Thú y năm 2013 là 176 người (Văn phòng Chi cục: 20 người, Trạm Thú y: 45

ứng phó khẩn cấp đối với các chủng vi rút cúm gia cầm nguy hiểm có khả năng
lây sang người.
- Phối hợp với ngành y tế tổ chức điều tra dịch tễ các ổ dịch cúm trên
người và trên gia cầm.
- Dự phòng vắc xin cúm gia cầm H5N1 và tai xanh, dự trữ quốc gia vắc
xin LMLM để hỗ trợ các địa phương tiêm phòng bao vây khẩn cấp ổ dịch.
Thường xuyên đánh giá hiệu lực vắc xin và xây dựng bản đồ dịch tễ, công khai
khu vực lưu hành các chủng vi rút cúm, hiệu lực các loại vắc xin sử dụng để
tiêm phòng để các địa phương tổ chức phòng chống dịch có hiệu quả.
- Kiểm soát buôn bán, vận chuyển, kinh doanh gia súc, gia cầm và sản
phẩm gia súc, gia cầm trái phép qua biên giới.
- Tăng cường xây dựng cơ sở an toàn dịch bệnh gia súc, gia cầm; khuyến
khích áp dụng chăn nuôi an toàn dịch bệnh.
- Hợp tác với các tổ chức quốc tế (FAO, OIE, WHO, ) triển khai các
chương trình giám sát chủ động sự lưu hành và biến đổi của vi rút cúm gia cầm
(A/H5N1, H7N9) tại chợ buôn bán gia cầm sống, gia cầm nhập lậu, trên lợn,
- Hợp tác song phương với Trung Quốc, Lào và Căm-pu-chia để chủ động
phòng ngừa dịch bệnh lây lan vào trong nước, kiểm soát động vật và sản phẩm
động vật buôn bán qua biên giới.
4.2.2. Giám sát chủ động, lập bản đồ dịch tễ, giải trình tự gien
* Thực hiện giám sát chủ động dịch bệnh động vật trong phạm vi cả nước,
đặc biệt là các bệnh nguy hiểm như cúm gia cầm, cúm lợn, LMLM.
- Đối với vi rút cúm H5N1: Triển khai chương trình giám sát vi rút cúm
H5N1 do FAO tài trợ từ tháng 4-9/2014: Tổ chức giám sát cúm H5N1 tại chợ từ
tháng 11/2013 - 02/2014 tại 41 tỉnh, thành phố; phát hiện 5,89% mẫu (trong tổng
số 13.660 mẫu thu thập) dương tính với vi rút cúm H5N1.
19

- Đối với vi rút cúm H7N9: Triển khai chương trình giám sát vi rút cúm
H7N9 do USAID/FAO và CDC của Hoa Kỳ tài trợ theo 3 đợt từ tháng 6/2013

Chẩn đoán Thú y Trung ương, 07 phòng xét nghiệm thuộc các Cơ quan Thú y
vùng, Viện Thú y Quốc gia, Phân viện Thú y miền Trung, Học viện Nông
nghiệp Việt Nam và một số Chi cục Thú y. Năng lực của các phòng chẩn đoán,
xét nghiệm đáp ứng được các yêu cầu chẩn đoán, xét nghiệm các dịch bệnh
động vật đang lưu hành tại Việt Nam và một số bệnh ngoại lai.
- Cục Thú y phối hợp chặt chẽ với các phòng thí nghiệm tham chiếu quốc
tế tại Hoa Kỳ, Úc, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, để phân tích chuyên
sâu tác nhân gây bệnh.
4.2.4. Công tác tiêm phòng vắc xin
20

- Hàng năm, các địa phương tổ chức tiêm phòng đại trà 02 đợt cho gia
súc, gia cầm theo quy định; đợt 1 vào tháng 3-4 và đợt 2 vào tháng 9-10. Ngoài
ra, có các đợt tiêm phòng bổ sung hàng tháng khi có đối tượng thuộc diện tiêm
phòng mới phát sinh.
- Hiện nay, Trung ương đang hỗ trợ các địa phương một số loại vắc xin
tiêm phòng cho gia súc, gia cầm theo Chương trình Quốc gia LMLM giai đoạn
2011 – 2015 và Chương trình 30a của Chính phủ.
- Các địa phương khi có dịch bệnh động vật nguy hiểm sẽ được hỗ trợ vắc
xin, thuốc sát trùng từ nguồn Dự trữ quốc gia và vắc xin dự phòng để chống
dịch.
4.2.5. Công tác báo cáo tình hình dịch bệnh động vật
- Ngày 12/12/2013, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành
Thông tư số 53/2013/TT-BNNPTNT quy định về báo cáo dịch bệnh động vật
trên cạn, theo đó quy trình báo cáo từ cơ sở lên đến cấp tỉnh, cấp Trung ương
được thống nhất trong cả nước.
- Hiện nay có 02 hình thức báo cáo dịch bệnh động vật đang được áp
dụng là báo cáo định kỳ theo tháng, quý, 6 tháng, tổng kết năm và báo cáo đột
xuất khi xảy ra dịch (cập nhật hàng ngày).
4.2.6. Công tác điều tra, xử lý ổ dịch: Phần lớn các ổ dịch bệnh nguy

- Đã kiểm soát trên 578,3 ngàn con gia súc, gia cầm ra vào tỉnh, gồm:
52.791 con lợn; 1.042 con trâu, bò; trên 524 ngàn con gia cầm; hơn 5 tấn sản
phẩm động vật và trên 676 ngàn quả trứng gia cầm.
- Kiểm dịch xuất tỉnh là trên 505,9 ngàn con lợn; gần 5,1 triệu con gia
cầm, gần 1.198 tấn sản phẩm thịt, phụ phẩm và trên 1,2 triệu quả trứng gia cầm.
4.3.3. Đồng Nai
- Năm 2013: Số gia súc, gia cầm nhập vào tỉnh là gần 823 ngàn con lợn,
trên 18,5 triệu con gà và trên 31 ngàn con vịt. Kiểm dịch xuất tỉnh là trên 2,7
triệu con lợn, gần 24,59 triệu con gà, trên 1,65 triệu con vịt.
- 7 tháng đầu năm 2014: Số gia súc, gia cầm nhập vào tỉnh là trên 235
ngàn con lợn, trên 39 triệu con gia cầm (chủ yếu từ Bình Dương, Bình Phước,
Bà Rịa Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Ninh Thuận, Bình Thuận và một số
tỉnh phía Bắc). Kiểm dịch xuất tỉnh là 40 con trâu bò; 1,27 triệu con lợn; 8,37
triệu con gia cầm. Bên cạnh đó, nhiều công ty nước ngoài và cơ sở giống của
Trung ương được Cơ quan Thú y vùng VI cấp giấy chứng nhận kiểm dịch vận
chuyển đi nhiều tỉnh khác.
4.3.4. Bà Rịa - Vũng Tàu
- Năm 2013: Số gia súc, gia cầm nhập vào tỉnh là 8.975 con trâu bò; trên
36,2 ngàn con lợn; trên 3,17 triệu con gia cầm. Kiểm dịch xuất tỉnh là 349 con
trâu bò; trên 713,8 ngàn con lợn và trên 6,69 triệu con gia cầm.
- 7 tháng đầu năm 2014: Số gia súc, gia cầm nhập vào tỉnh là 1.930 con
trâu bò, 1.358 con lợn và trên 572,3 ngàn con gia cầm (chủ yếu từ Đồng Nai,
Bình Dương, Long An, Tiền Giang và Trà Vinh). Kiểm dịch xuất tỉnh là 216
con trâu bò; trên 186,7 ngàn con lợn và trên 3,26 triệu con gia cầm (chủ yếu đi
Tp. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương và Long An).
4.3.5. Tỉnh Bình Phước
- Năm 2013: Số gia súc, gia cầm nhập vào tỉnh là 318 con trâu bò, hơn
142 ngàn con lợn, trên 3,6 triệu con gia cầm. Kiểm dịch xuất tỉnh là 4912 con
trâu bò, gần 432,5 ngàn con lợn, trên 4,74 triệu con gia cầm.
- 7 tháng đầu năm 2014: Số gia súc, gia cầm nhập vào tỉnh là trên 2,5 triệu

- Việc giết mổ gia súc, gia cầm không đảm bảo yêu cầu an toàn thực
phẩm đã và đang diễn ra phổ biến tại nhiều tỉnh, thành phố phía Bắc, trong khi
đó một số tỉnh phía Nam thực hiện rất tốt công tác này. So với các tỉnh miền
Đông Nam bộ thì công tác quản lý giết mổ tại các tỉnh thành phía Bắc còn nhiều
yếu kém.
- Mặc dù Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành quy định
về điều kiện vệ sinh thú y đối với giết mổ gia súc gia cầm, tuy nhiên hoạt động
giết mổ tại các điểm giết mổ gia súc, gia cầm đều không đảm bảo điều kiện vệ
sinh thú y. Hầu hết các điểm giết mổ được xây dựng ngay trong hoặc cận kề các
khu dân cư, khu công nghiệp; thiết kế mặt bằng hẹp, không chia được khu sạch
với khu bẩn, gây nguy cơ ô nhiễm chéo, mất an toàn thực phẩm trong quá trình
giết mổ; không có nơi xử lý động vật, sản phẩm động vật không đạt tiêu chuẩn;
các tiêu chí về nguồn chiếu sáng, độ lưu thông không khí, nguồn nước, kết cấu
vật liệu xây dựng không đảm bảo; nước thải được xả thẳng ra môi trường; trang
thiết bị vật dụng sử dụng trong giết mổ rất đơn sơ, thủ công.
23

4.4.2. Thực trạng công tác kiểm soát giết mổ
Mặc dù Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành ban hành
Quy trình Kiểm soát giết mổ động vật; tuy nhiên, việc thực hiện quy trình này
chủ yếu được thực hiện tại các cơ sở giết mổ tập trung, còn tại hầu hết các điểm
giết mổ nhỏ lẻ là không thực hiện (việc khám thân thịt, phủ tạng và đóng dấu
kiểm soát giết mổ được thực hiện ngay trên sàn mổ). Hơn nữa, không có đủ
nguồn lực thú y để thực hiện công tác này tại các thôn, bản.
a) Nam Định: Hiện có 2.060 điểm giết mổ (1703 điểm giết mổ lợn, 300
điểm giết mổ gia cầm, 57 điểm giết mổ trâu bò), 03 cơ sở giết mổ lợn tập trung
(chủ yếu giết mổ lợn sữa xuất khẩu), 167 chợ buôn bán động vật và sản phẩm
động vật. Bình quân mỗi ngày một điểm giết mổ từ 1-3 con gia súc; 5-15 con gia
cầm. Gia súc, gia cầm đưa vào giết mổ đều được thu mua trực tiếp từ các hộ
chăn nuôi trong tỉnh, chưa được kiểm tra trước, trong và sau khi giết mổ. Kiểm


đ) Bình Phước: Hiện có 13 cơ sở giết mổ tập trung: gồm có 09 cơ sở giết
mổ gia súc có quy mô từ 50 - 150 con/ đêm; 02 cơ sở giết mổ gia súc có quy mô
từ 20 - 50 con/ đêm; 02 cơ sở giết mổ gia cầm quy mô 500 - 1000 con/ đêm.
Ngoài ra còn có 17 điểm giết mổ nhỏ lẻ. Tất cả các cơ sở giết mổ, điểm giết mổ
trên đều được cơ quan thú y kiểm tra, giám sát theo đúng quy định, tỷ lệ kiểm
soát đạt 100%. UBND tỉnh cũng đã quy hoạch chăn nuôi, giết mổ, chế biến, tiêu
thụ gia súc, gia cầm giai đoạn 2006-2020.
Hiện nay toàn tỉnh có 63 chợ, 01 siêu thị có kinh doanh thịt gia súc, gia
cầm với 400 quầy bán sản phẩm động vật. Phần lớn các quầy sạp đảm bảo điều
kiện vệ sinh thú y, trên bề mặt bàn lát gạch men hoặc bọc bằng thép không rỉ,
tuy nhiên các chợ ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn kinh doanh thịt trên những sạp
gỗ không đảm bảo vệ sinh thú y.
e) Bình Dương: Hiện toàn tỉnh có 35 cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập
trung và 33 điểm giết mổ nhỏ lẻ. Tất cả các cơ sở giết mổ đều có hệ thống giết
mổ treo, được Chi cục Thú y thực hiện kiểm soát giết mổ, đảm bảo vệ sinh thú
y. Gia súc, gia cầm đưa vào giết mổ đều qua kiểm dịch thú y. Kiểm soát giết mổ
đối với cơ sở giết mổ được 35/35 cơ sở, đạt 100%; đối với điểm giết mổ chỉ
kiểm soát được 23/33 điểm, đạt 69,70%.
g) Tây Ninh: Hiện toàn tỉnh có 28 cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung
và 48 điểm giết mổ nhỏ lẻ. Đa số các cơ sở giết mổ đều giết mổ theo phương
thức thủ công và được Chi cục Thú y thực hiện kiểm soát giết mổ, đảm bảo vệ
sinh thú y. Gia súc, gia cầm đưa vào giết mổ đều qua kiểm dịch thú y. Kiểm soát
giết mổ đối với cơ sở giết mổ được 76/76 cơ sở, đạt 100%.

PHẦN II: QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP

I. QUAN ĐIỂM
1.1. Thí điểm xây dựng vùng, cơ sở ATDB đối với gia súc và gia cầm tại các
tỉnh Nam Định, Thái Bình, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Bình

ứng các quy định của OIE để đẩy mạnh việc xuất khẩu sản phẩm gia súc, gia
cầm sang các nước.
2.2. Mục tiêu cụ thể
2.2.1. Mục tiêu 1
- Đến tháng 12/2015: 50% các cơ sở chăn nuôi trên địa bàn 07 tỉnh xây
dựng cơ sở ATDB đáp ứng các yêu cầu của Đề án thí điểm.
- Đến tháng 6/2016: 100% các cơ sở chăn nuôi trên địa bàn 07 tỉnh xây
dựng cơ sở ATDB đáp ứng các yêu cầu của Đề án thí điểm.
2.2.2. Mục tiêu 2
- Đến tháng 12/2016: 30% các cơ sở chăn nuôi trên địa bàn 07 tỉnh xây
dựng cơ sở ATDB đáp ứng yêu cầu của OIE.
- Đến tháng 6/2018: 100% các cơ sở chăn nuôi trên địa bàn 07 tỉnh xây
dựng cơ sở ATDB đáp ứng yêu cầu của OIE.
2.2.3. Mục tiêu 3
- Đến tháng 8/2016 xây dựng được vùng ATDB đối với bệnh LMLM và
cúm gia cầm theo các yêu cầu của Đề án thí điểm.
2.2.4. Mục tiêu 4
- Đến tháng 08/2017: Xây dựng được vùng ATDB không tiêm phòng đối
với cúm gia cầm, đáp ứng các yêu cầu của Tổ chức OIE để trình công nhận.

Trích đoạn Trách nhiệm của chủ các cơ sở chăn nuôi tập trung tham gia xây dựng cơ Yêu cầu của OIE về xây dựng vùng, cơ sở ATDB
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status