PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG No & PTNT QUẢNG TRỊ - Pdf 26

Chương 1:
LỜI MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Trong điều kiện hiện nay, khi hội nhập kinh tế quốc tế không còn là vấn
đề mới thì bên cạnh quá trình hợp tác theo nguyên tắc cùng có lợi, giữa các quốc
gia luôn kèm theo quá trình cạnh tranh khốc liệt. Ở môi trường kinh tế như vậy
thì một yêu cầu khách quan, cấp bách đối với nước ta là phải nâng cao năng lực
cạnh tranh của mình để hội nhập ngày càng sâu rộng và có hiệu quả. Một trong
những biện pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh là phải lành mạnh hoá hệ
thống Tài chính - Ngân hàng.
Nét nổi bật trong những năm qua là hệ thống Ngân hàng thương mại Việt
Nam đã phát triển mạnh mẽ về cả về quy mô và chất lượng hoạt động, góp phần
không nhỏ vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong bối
cảnh thị trường tài chính chưa phát triển thì Ngân hàng được kỳ vọng là kênh
cung ứng vốn quan trọng nhất của nền kinh tế. Cho vay tiêu dùng là một trong
những hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại. Không những đem lại
hiệu quả đa dạng hoá hoạt động kinh doanh cho ngân hàng, đáp ứng những nhu
cầu cần thiết hiện tại cho khách hàng mà còn góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát
triển.
Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động mang lại nhiều lợi
nhuận nhất cho ngân hàng. Đặc biệt là mảng cho vay tiêu dùng là một vấn đề
mà rất nhiều ngân hàng khác cũng rất quan tâm. Ngân hàng No & PTNT Quảng
Trị là một tổ chức kinh doanh tiền tệ tín dụng cũng đang đứng trước tình hình
đó. Hoạt động trên một địa bàn nhỏ hẹp mà phải cạnh tranh gay gắt với rất
nhiều ngân hàng khác như: Ngân hàng đầu tư và phát triển, ngân hàng Đông Á,
ACB…và sắp tới đây là một loạt các ngân hàng nước ngoài chuẩn bị đổ bộ vào
Việt Nam cũng như Quảng Trị. Sau khi thời hạn cam kết của Việt Nam với các
đối tác nước ngoài về các lĩnh vực ngân hàng đã hết.
Cho nên yêu cầu cũng như nhiệm vụ đặt ra đối với Ngân hàng No &
PTNT Quảng Trị là phải làm sao tăng cường công tác huy động vốn, mở rộng
vốn cho vay nhằm thoả mãn nhu cầu vốn của nghành, các thành phần kinh tế

Ngoài chương mở đầu, kết cấu đề tài của em gồm có 4 chương:
Chương 2: Cơ sở lý luận về ngân hàng thương mại, tín dụng và tín dụng
tiêu dùng
Chương 3: Phân tích tình hình cho vay tiêu dùng tại chi nhánh Ngân
hàng No & PTNT Quảng Trị
Chương 4: Một số giải pháp và nhằm nâng cao chất lượng cho vay tiêu
dùng tại Ngân hàng No & PTNT Quảng Trị
Chương 5: Kết luận và các kiến nghị
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc tìm tòi suy nghĩ trong suốt thời
gian thực tập, song trình độ còn hạn chế bản thân mới là sinh viên năm 4, kinh
nghiệm việc làm thực tiển chưa có mà hoạt động tín dụng về ngân hàng lại rất
phong phú và đa dạng nên đề tài còn rất nhiều thiếu sót. Rất mong sự đóng góp,
góp ý của thầy giáo Nguyễn Hoàng Bảo, cô Trương Công Thanh Nghị, các thầy
cô trong khoa KHĐT trường đại học kinh tế TP.HCM và tập thể cán bộ công
nhân viên Ngân hàng No & PTNT Quảng Trị để em có thể hoàn thiện kiến thức
của mình hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
2
Chương 2:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI,
TÍN DỤNG VÀ TÍN DỤNG TIÊU DÙNG
2.1. Khái quát về ngân hàng thương mại
2.1.1. Khái niệm và lịch sử hình thành của NHTM
So với tiền tệ, tín dụng thì hệ thống ngân hàng ra đời muộn hơn nhiều.
Lúc đầu chỉ là hoạt động đổi chác tiền đúc của các thương nhân đã hình thành
nên một nghề mới - Nghề ngân hàng.
Từ thời trung cổ, do vua chúa phong kiến làm “ biến chất” tiền đúc để
kiếm lời, do đó lưu thông tiền tệ hết sức rối ren, hỗn loạn gây trở ngại cho
thương nghiệp. Để đối phó với tình trạng này, trong các nhà thương nghiệp có
một số người đã tách ra chuyên kinh doanh và đổi tiền đúc. Marx gọi họ là các

Sang thế kỷ XX, các ngân hàng trung gian phát triển mạnh ở các nước
châu Âu, châu Mỹ cũng như các nước thuộc địa, bán thuộc địa thuộc các châu
3
lục á, Phi và Mỹ Latinh. Bên cạnh các ngân hàng kinh doanh đa năng, như
NHTM, còn xuất hiện các ngân hàng kinh doanh hoạt động trong một lĩnh vực
nhất định, như ngân hàng đầu tư, ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng địa ốc... và các
tổ chức tín dụng phi ngân hàng như công ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ đầu
tư, quỹ tín dụng... Các tổ chức này đóng vai trò quan trọng trong việc khơi
thông nguồn vốn từ những người tiết kiệm tới những người chi tiêu nhưng lại
không kinh doanh các khoản tiền gửi không kỳ hạn, do đó không cung cấp các
dịch vụ thanh toán.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II đến những năm 80 của thế kỷ XX, hệ
thống ngân hàng kinh doanh ở các nước đã hoàn chỉnh và phát triển ở trình độ
cao. Xuất hiện nhiều ngân hàng quy mô lớn, xuyên quốc gia. Nó không những
có chi nhánh ở trong nước mà còn mở ra nhiều chi nhánh ở các nước trên thế
giới. Cùng với các NHTM xuyên quốc gia, những ngân hàng quốc tế đã tạo điều
kiện thuận lợi cho việc phối hợp chính sách tài chính – tiền tệ giữa các nước,
khơi thông sự chu chuyển vốn, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế của mỗi
nước và của cộng đồng các quốc gia trên thế giới.
Như vậy, Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ mà
nhiệm vụ thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cho vay và cung
ứng dịch vụ thanh toán.
Còn theo luật tổ chức tín dụng của nước ta được quốc hội khoá X thông
qua vào tháng 12/1997 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 1998. NH là một tổ
chức tín dụng được thực hiện toàn bộ ngân hàng và hoạt động khác có liên quan.
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và nghiệp vụ ngân hàng
với nội dung là nhân tiền gửi, sử dụng tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các
dịch vụ thanh toán.
2.1.2. Chức năng của NHTM
2.1.2.1. Chức năng trung gian tài chính.

Nghiệp vụ huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề trong hoạt động kinh
doanh của các NHTM, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với bản thân của mọi
NHTM. NHTM được sử dụng các biện pháp và công cụ cần thiết mà pháp luật
cho phép để huy động các nguồn tiền từ xã hội nhằm tạo ra một lượng vốn cần
thiết cho nền kinh tế cho từng giai đoạn. Nghiệp vụ tạo vốn của NHTM bao
gồm:
2.1.3.1.1. Vốn tự có của ngân hàng:
Vốn tự có là nguồn vốn mà mọi ngân hàng đều phải có để dự trữ riêng
cho mình. Nó có vai trò rất quan trọng trong tổng nguồn vốn. Nó có khả năng
phòng ngừa rủi ro, khả năng cạnh tranh và thanh toán cho khách hàng. Đảm bảo
cho khách hàng hoạt động vững chắc hơn trong điều kiện cạnh tranh giữa các
ngân hàng hiện nay. Nguồn vốn này bao gồm:
Vốn điều lệ: Đây là số vốn ban đầu khi thành lập được ghi vào điều lệ
của ngân hàng và nó ít nhất bằng số vốn pháp định do ngân hàng nhà nước quy
định.
Các quỹ của ngân hàng: Trong quá trình hoạt động, vốn tự có của ngân
hàng được bổ sung bằng các quỹ dự trữ và các quỹ khác.
Lợi nhuận còn lại chưa phân phối: Đây là nguồn lợi nhuận mà ngân hàng
thu được từ hoạt động kinh doanh hàng năm.
2.1.3.1.2. Nghiệp vụ huy động tiền gửi
Đây là hoạt động quan trọng nhất nhằm tạo ra nguồn vốn cho ngân hàng,
nó chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nghiệp vụ tài sản nợ của ngân hàng, là đối
tượng chủ yếu, mục tiêu quản lý tài sản nợ của NHTM. Đồng thời nó thể hiện
quy mô hoạt động của mỗi ngân hàng. Các hình thức huy động của nghiệp vụ
này bao gồm: tiền gửi thanh toán ( tiền gửi không kỳ hạn); tiền gửi có kỳ hạn,
tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.. đây là nguồn chủ
yếu cho hoạt động kinh doanh của NHTM.
2.1.3.1.3. Nghiệp vụ huy động vốn dưới hình thức phát hành các chứng
chỉ
Để mở rộng nguồn vốn cho ngân hàng, bên cạnh nguồn vốn huy động

tài sản có. Nghiệp vụ này bao gồm tín dụng trung dài hạn, ngắn hạn, cho thuê tài
chính, bảo lãnh...
Nghiệp vụ này mang tính rủi ro cao do chịu nhiều yếu tố tác động như: Điều
kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị...
2.1.3.2.3. Tài sản cố định:
Tài sản cố định là nguồn vốn để tạo dựng ngân hàng. Những loại TSCĐ
của NHTM thường chiếm một tỉ trọng nhỏ trong khoản mục tài sản có. Nó được
tạo thành từ nguồn vốn điều lệ của NHTM. Cơ cấu tài sản cố định của ngân
hàng bao gồm: trụ sở làm việc, thiết bị máy móc, dụng cụ làm việc, các phương
tiện thông tin, các phương tiện vận chuyển, các loại trang thiết bị khác. Ngoài ra
còn có TSCĐ vô hình khác như uy tín của ngân hàng.
2.1.3.2.4. Nghiệp vụ đầu tư:
Đây cũng là một trong những nghiệp vụ mà các NHTM thường sử dụng
để tìm kiếm lợi nhuận. Các NHTM sử dụng nguồn vốn ổn định để mua các
chứng khoán như công trái, các loại trái phiếu, cổ phiếu nhằm mục đích tìm
kiếm lợi nhuận, nâng cao khả năng thanh khoản, đa dạng hoá các nghiệp vụ kinh
doanh để phân tán rủi ro, bảo tồn ngân quỹ và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Tất cả các loại chứng khoán đều mang lại thu nhập cho
ngân hàng, tuy nhiên tuỳ theo mục đích hoạt động mà ngân hàng mua loại này
hay loại khác.
6
2.1.3.3. Nghiệp vụ trung gian thanh toán và các nghiệp vụ khác của
của NHTM.
2.1.3.3.1. Nghiệp vụ trung gian thanh toán
Bao gồm bảo lãnh, uỷ thác thanh toán, tư vấn, làm môi giới chứng khoán,
phát hành chứng khoán, nhận vốn tài trợ.
2.1.3.3.2. Các nghiệp vụ khác của NHTM:
Ngoài những nghiệp vụ đã nêu, các NHTM còn thực hiện một số các dịch
vụ cho khách hàng như: chuyển tiền, cho thuê két sắt, nhận tiền điện nước,
chuyển trả tiền học phí...

trạng quá tải đối với cán bộ ngân hàng. Mất nhiều thời gian và tốn kém trong
việc thực hiện công tác cho vay. Cũng như theo dõi việc thu nợ.
Cho vay tiêu dùng có nhiều rủi ro cao hơn so với cho vay trong lĩnh vực
thương mại và công nghiệp. Bởi lẻ chúng ta ít có thông tin hơn trong việc thẩm
định. Vì vậy công tác thẩm định gặp nhiều khó khăn dẫn đến rủi ro nhiều.
7
Chất lượng thông tin tài chính của khách hàng vay tiêu dùng thường
không cao. Vì thường những khách hàng không phải là các pháp nhân nên việc
kiểm soát rất khó khăn chủ yếu dựa vào đạo đức của khách hàng.
2.2.3.2. Phân loại
2.2.3.2.1. Tín dụng tiêu dùng trực tiếp
Là tín dụng ngân hàng thực hiện những khoản cho vay tiêu dùng trực tiếp
với khách hàng xin vay tại ngân hàng.
2.2.3.2.2. Tín dụng tiêu dùng gián tiếp
Là việc ngân hàng mua các phiếu mua bán hàng từ những người bán lẻ
hàng hoá, tức là hình thức tài trợ bán trả góp của các NHTM
2.2.4. Các quy định của tín dụng tiêu dùng.
2.2.4.1. Nguyên tắc vay vốn
Người vay vốn phải hoàn trả đầy đủ cả tiền gốc và tiền lãi cho vay tổ
chức tín dụng khi đến hạn trả nợ.
Người vay vốn phải sử dụng vốn vay đúng với mục đích và đối tượng chi
phí ghi trong đơn xin vay .
2.2.4.2. Điều kiện vay vốn
Vay vốn cho nhu cầu tiêu dùng phải có mục đích rõ ràng.
Người vay vốn:
- Đại diện hộ gia đình hoặc cá nhân vay vốn phải là công dân Việt Nam
từ 18 tuổi trở lên, không mất trí, không phải là người đang bị truy cứu trách
nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành án.
- Có hộ khẩu thường trú hoặc làm việc tại đơn vị đặt trụ sở trên cùng địa
bàng hoạt động của tổ chức tín dung cho vay.

Đối với cán bộ công nhân viên làm trong các cơ quan đơn vị có thu nhập
lương hằng tháng, trợ cấp hằng tháng cam kết trích lương, trợ cấp để trả nợ mức
cho vay không quá 24 tháng lương, trợ cấp. Nhưng phải được cơ quan, đơn vị
quản lý người vay cam kết trích tiền lương hoặc trợ cấp để trả nợ cho Ngân
hàng.
2.2.4.6. Lãi suất cho vay.
Theo mức lãi suất do tổng giám đốc Ngân hàng No Việt Nam công bố
từng thời điểm. Mức lãi suất cho vay cụ thể do giám đốc chi nhánh Ngân hàng
nơi cho vay quy định theo nguyên tắc:
- Không đựợc vượt qua giới hạn trần lãi suất cho vay cao nhất của tổng
giám đốc công bố.
- Bình quân chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động trên địa
bàn đủ bù đắp chi phí quản lý, không lổ, có tích luỹ hợp lý.
2.2.4.7. Thủ tục và quy trình cho vay tiêu dùng
2.2.4.7.1. Thủ tục
Giấy đề nghị vay vốn. Riêng khách hàng là người hưởng lương vay vốn
nhu cầu đời sống phải có xác nhận của cơ quan quản lý lao động hoặc cơ quan
quản lý chi trả thu nhập. NHNo nơi cho vay có thể thoả thuận với người vay
vốn và các cơ quan quản lý nói trên về việc người vay uỷ quyền cho cơ quan,
đơn vị trả nợ cho NHNo Việt Nam từ các khoản thu nhập của mình.
Hồ sơ đảm bảo tiền vay theo quy định (nếu phải thực hiện vay vốn có
đảm bảo bằng tài sản).
2.2.4.7.2. Quy trình
Văn thư hoặc cán bộ tín dụng nhận hồ sơ của khách hàng, nếu đủ hồ sơ
thì viết giấy hẹn khách hàng trong vòng tối đa 7 ngày làm việc, sau đó trả lời
cho vay hoặc không cho vay, còn nếu không đủ giấy tờ thì hướng dẫn khách
hàng làm lại.
Chuyển hồ sơ cho trưởng phòng tín dụng nếu hợp lệ, hợp pháp và đầy đủ
các yếu tố theo quy định thì chuyển đến bộ phận thẩm định.
Tiến hành thẩm định: căn cứ vào văn bản thẩm định, trưởng phòng xem

dân số khoảng gần 62 vạn người, có 9 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 2 thị xã
và 7 huyện.
Tình hình kinh tế của tỉnh đã đạt được những kết quả khả quan. Năm
2006, tăng trưởng kinh tế đạt 11,54% so với năm 2005, trong đó khu vực nông -
lâm nghiệp - thuỷ sản tăng 4,6%; khu vực công nghiệp xây dựng tăng 24,8%;
khu vực dịch vụ tăng 8%. Cơ cấu kinh tế chưa có chuyển dịch đáng kể so với
cùng kỳ năm trước: ngành nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 36%, công nghiệp -
xây dựng chiếm 25,26% và dịch vụ chiếm 38,38% (năm 2005 có cơ cấu là :
37,58%; 23,27%; 39,16%). Các hoạt động văn hoá - xã hội, quốc phòng - an
ninh có những chuyển biến tích cực.
Nền kinh tế của tỉnh cũng đã nổi lên một số khó khăn nhất định: tăng
trưởng kinh tế đạt cao nhưng về quy mô giá trị tuyệt đối vẫn còn thấp. Thu nhập
bình quân đầu người năm 2006 chỉ bằng 53,7% mức bình quân chung của cả
nước. Chuyển dịch cơ cấu đúng hướng nhưng còn chậm. Hoạt động xuất nhập
khẩu chưa đạt đột phá. Du lịch phát triển chưa ngang tầm với tiềm năng hiện có,
ngành công nghiệp xây dựng tuy có tốc độ tăng trưởng cao nhưng khả năng
cạnh tranh, chất lượng, năng suất lao động còn nhiều hạn chế, tiến độ triển khai
một số công trình còn chậm.
Tuy nhiên, tiềm năng phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Trị còn rất lớn.
Với nhiều ưu thế về địa lý, địa hình như: có đường Quốc lộ 1 A đi qua, có
đường 9 xuyên á nối 3 nước Việt Nam, Lào và Thái Lan nên tỉnh có điều kiện
thuận lợi để mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế, văn hoá, thương mại và du lịch.
Về tài nguyên: có khoảng 20.000 ha đất đỏ Bazan để phát triển các loại
cây công nghiệp như hồ tiêu, cao su, cà phê,... Có 102,7 ngàn ha rừng để phát
triển kinh tế nông - lâm nghiệp. Với 75 km chiều dài bờ biển và 8.400 km vùng
lãnh hải, Quảng Trị có nhiều tiềm năng để đầu tư khai thác, nuôi trồng và chế
biến hàng thuỷ hải sản phục vụ xuất khẩu. Nguồn tài nguyên khoáng sản của
tỉnh cũng khá đa dạng như: đá vôi, đất sét, đá granit, than bùn, titan,... để phát
triển công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng.
Tình hình kinh tế - xã hội nói trên đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh

PGĐ phụ trách kinh
doanh
Phòng
kế
hoạch
kinh
doanh
PGĐ phụ trách kế toán
Phòng
kế toán
kho quỹ
Phòng
Hành
chính
Phòng
Vi tính
Tổ
kiểm
tra
kiểm
soát nội
bộ
Phòng
tổ chức
cán bộ
Phòng
thẩm
định
Chi nhánh cấp II
Chi nhánh cấp III

3.2.3.4. Phòng điện toán: Xây dựng và phát triển hệ thống tin học, tổ
chức dạy tin học, thu thập và chuyển số liệu thông tin, tiến hành xử lý các
nghiệp vụ liên quan đến kế toán, thống kê phục vụ cho hoạt động của chi nhánh
3.2.3.5. Phòng kiểm tra, kiểm toán nội bộ: Thực hiện kiểm tra công
tác điều hành của chi nhánh và các đơn vị trực thuộc, tiến hành kiểm tra, giám
sát việc chấp hành quy định. Kiểm tra độ chính xác các báo cáo, đồng thời giải
quyết các đơn thư khiếu nại liên quan đến hoạt động của chi nhánh.
3.2.3.6. Phòng tổ chức cán bộ: Xây dựng quy định, lề lối làm việc
trong đơn vị và mối quan hệ với tổ chức Đảng, Công đoàn… để đề xuất mức
lao động; giao khoán quỹ tiền lương; đề cử cán bộ đi học tập, công tác; đồng
thời thực hiện quản lý hồ sơ nhân viên, cán bộ; chế độ nghĩ hưu.
3.2.3.7. Phòng thanh toán quốc tế: Thực hiện chức năng kinh doanh
ngoại tệ và thanh toán quốc tế, tài trợ cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực xuất nhập khẩu...
14
3.2.3.8. Phòng thẩm định: Xem xét đề nghị vay vốn của khách hàng
nhằm xác định xem dự án đầu tư có khả thi hay không, mặt khác đánh giá khả
năng và ý muốn trả nợ của khách hàng; tham gia góp ý, tư vấn cho khách hàng...
3.2.4. Nội dung hoạt động của NHNo & PTNT Quảng Trị
Hoạt động của chi nhánh NHNo & PTNT Quảng Trị gồm 6 nội dung cơ
bản sau:
Nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán có kỳ hạn và không kỳ hạn
bằng đồng Việt Nam và bằng ngoại tệ;
Phát hành các kỳ phiếu, trái phiếu bằng đồng Việt Nam và bằng ngoại tệ;
Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn;
Dịch vụ Thanh toán quốc tế và cho vay tài trợ xuất nhập khẩu;
Mua bán vàng, bạc, đá quý, chứng chỉ kiều hối, dịch vụ thanh toán qua
mạng vi tính, dịch vụ cầm cố và các dịch vụ khác của ngân hàng;
Nhận thực hiện thanh toán tín dụng tài trợ của các tổ chức trong nước và
quốc tế.

2005. Điều này cho thấy NHNo & PTNT Quảng Trị đang mở rộng quy mô tín
15
dụng, nhằm đáp ứng kịp thời vốn cho mọi đối tượng. Hiện nay ngân hàng đang
tập trung đẩy mạnh và ưu tiên cho thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Đặc
biệt đầu tư cho những lĩnh vực có thế mạnh về hải sản và du lịch. Bên cạnh đó
do sự nổ lực của bộ phận tín dụng cũng như tất cả các bộ phận trong ngân hàng,
đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm thu hút khách hàng mới và duy trì khách hàng
cũ. Ngoài ra cũng nhờ vào việc thực hiện những chính sách, chủ trương của
đảng và nhà nước mà đã làm cho doanh số cho vay và dư nợ bình quân của
NHNo & PTNT Quảng Trị đều tăng.
Doanh số thu nợ năm 2006 là 414484 triệu đồng tăng so với năm 2005 là
91928 triệu đồng tức là tăng 34,62 %. Điều này cho thấy việc thu nợ của ngân
hàng rất tốt. Sở dĩ việc thu nợ này tăng lên là do việc thẩm định của cán bộ tín
dụng rất hiệu quả trong việc cho khách hàng vay, cũng như công tác đôn đốc
khách hàng trong việc trả nợ cho ngân hàng.
Song song với doanh số thu nợ, thì nợ quá hạn bình quân và tỉ lệ
NQHBQ/DNBQ đều giảm được thể hiện như sau:
- Năm 2006 nợ quá hạn bình quân là 6634 triệu đồng giảm so với năm
2005 là 480 triệu đồng tức là giảm đi 6,75 %.
- Tỉ lệ NQHBQ/DNBQ năm 2006 là 1,54 % giảm so với năm 2005 là
0,54 %.
Nợ quá hạn bình quân giảm đi là do việc thu nợ của ngân hàng tăng lên.
Bên cạnh đó là do việc quản lý nợ và công tác theo dõi cũng như việc xử lý nợ
của cán bộ ngân hàng đang được cải thiện. Làm cho nợ quá hạn bình quân giảm
xuống. Đây là điều tốt cho ngân hàng. Ngân hàng cần phải phát huy hơn nữa.
Để đánh giá chất lượng tín dụng của NHNo & PTNT Quảng Trị, ta đi
phân tích đánh giá xem chỉ tiêu tỉ lệ NQHBQ/DNBQ. Hiện nay tỉ lệ
NQHBQ/DNBQ của NHNo & PTNT Quảng Trị giảm xuống là điều đáng
mừng. Mặc dù tỉ lệ này giảm xuống nhưng tỉ lệ NQHBQ/DNBQ tại ngân hàng
vẫn còn cao. Điều đó chứng tỏ NHNo & PTNT Quảng Trị đang hoàn thiện chất

Năm 2005 Năm 2006 Chênh lệch
Số tiền TT(%) số tiền TT(%) số tiền Tốc độ
tăng giảm
DSCV
-TD
378.818
26.517
100
7
462.017
41.586
100
9
84.253
15.069
22,30
56,83
DSTN
-TD
322.556
18.773
100
5,82
414.484
35.438
100
8,55
91.928
16.665
34,62

NQHBQ/DNBQ
-TD
2,08
0,23
1,54
0,12
-0,54
-0,11
( nguồn tổng hợp số liệu tại NHNo & PTNT Quảng Trị )
Cũng như doanh số cho vay chung thì doanh số cho vay tiêu dùng của
ngân hàng cũng tăng. Năm 2006 doanh số cho vay tiêu dùng là 41586 triệu
đồng tăng so với năm 2005 là 15069 triệu đồng, tức là tăng 56,83 %. Mặt dù
doanh số cho vay tiêu dùng tăng nhưng tỷ trọng của doanh số cho vay tiêu dùng
vẫn còn thấp. Năm 2005 doanh số cho vay tiêu dùng chiếm tỷ trọng 7% tổng
doanh số cho vay và đến năm 2006 doanh số này tăng lên và chiếm tỷ trọng 9%.
Điều đó chứng tỏ NHNo & PTNT Quảng Trị cũng đang chú trọng mở rộng đến
hoạt động cho vay tiêu dùng. Song con số ấy vẫn còn chiếm một tỉ lệ rất nhỏ
trong tổng cho vay chung của ngân hàng. Chúng ta biết rằng NHNo & PTNT
Quảng Trị đóng trên thị xã Đông Hà, nơi có mật độ dân số dày đặc, mức sống
cao và nhu cầu tiêu thụ hàng hóa lớn nhất tỉnh. Nằm trên một thị trường tiêu thụ
lớn như vậy tại sao trên thực tế lĩnh vực cho vay tiêu dùng của ngân hàng lại
không phát triển được. Ta thử tìm hiểu một số nguyên nhân sau:
Đối thủ cạnh tranh:
Đối với ngân hàng quốc doanh như ngân hàng đầu tư và phát triển Việt
Nam thì mảng chủ đạo được họ quan tâm nhất là cho vay đầu tư vào các dự án
công trình lớn nhằm phát triển các doanh nghiệp. Còn đối với ngân hàng ngoài
17
quốc doanh như Sacombank (thì mảng bán lẻ là mảng chủ đạo của họ và chắc
đây là đối thủ tiềm tàng nặng ký của NHNo & PTNT Quảng Trị trong tương lai)
thì mới lập chi nhánh ở Quảng Trị chưa được bao lâu, người tiêu dùng ít biết tên

Khách hàng tín dụng của ngân hàng có được chia thành 2 loại: khách
hàng tự tìm đến và khách hàng do ngân hàng marketing tìm đến ( khách hàng
mục tiêu). Cho dù bất kỳ dạng khách hàng nào, họ cũng phải tiếp xúc với 2
khâu bắt buộc của ngân hàng là khâu thủ tục và khâu nhân sự của ngân hàng.
Khâu thủ tục của ngân hàng trải qua các bước sau:

18
Khách hàng tự giới thiệu và nêu yêu cầu tín dụng
1 2
3
Qua các bước như trên ta thấy qui trình cho vay của ngân hàng đều tuân
theo các bước nhất định, các thủ tục cho vay để phục vụ cho tiêu dùng còn
nhiều rắc rối phức tạp. Đặc biệt là qui trình số 4 ( viết báo cáo điều tra thẩm
định tài sản thế chấp) vì đa số cán bộ thẩm định của ngân hàng còn yếu và thiếu
nên cán bộ tín dụng chỉ cho vay đối với tài sản là quyền sở dụng đất ( sổ đỏ, sổ
hồng) còn cho vay thế chấp bằng tài sản khác không được ngân hàng chú trọng
19
Nếu khách hàng không triển vọng,
không đáp ứng được yêu cầu của NH
thì bỏ qua
Nếu triển vọng, CBTD chuẩn bị kế
hoạch đàm phán khách hàng
Đàm phán với khách hàng và viết tờ
trình tín dụng
Viết báo cáo điều tra tín dụng và
thẩm định tài sản thế chấp
Trình trưởng phòng tín dụng xem lại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status