Tổng quan về tình hình nhân lực CNTT TT thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2008 2012; Dự thảo chương trình phát triển nguồn nhân lực CNTT TT thành phố giai đoạn 20122015 - Pdf 26


1
Tổng quan về tình hình nhân lực CNTT-TT thành phố Hồ Chí
Minh giai đoạn 2008-2012;
Dự thảo Chương trình phát triển nguồn nhân lực CNTT-TT
thành phố giai đoạn 2012-2015

TS. Lê Thái Hỷ
Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông Tp. HCM

Phát triển nguồn nhân lực là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối
với việc thực hiện các mục tiêu phát triển ngành thông tin và truyền thông, bao
gồm phát triển nguồn nhân lực của các lĩnh vực và nhân lực quản lý nhà nước
của ngành nhằm đảm bảo đủ về số lượng, đạt về chất lượng, hướng đến đạt chất
lượng tương đương các nước trong khu vực ở một số lĩnh vực. Trong giai đoạn
tới, ngành CNTT-TT tiếp tục được xem là ngành có triển vọng phát triển với tốc
độ cao, có vai trò đóng góp to lớn vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, thực hiện thành công đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh
về công nghệ thông tin và truyền thông”.
Tại thành phố Hồ Chí Minh, doanh thu từ công nghiệp công nghệ thông
tin năm 2012 ước đạt 86.000 tỷ đồng, tăng 63% so với năm 2011 (52.670 tỷ
đồng), trong đó doanh thu từ công nghiệp phần mềm ước đạt 8.000 tỷ đồng,
giảm 32% so với năm 2011 (11.700 tỷ đồng); doanh thu từ công nghiệp phần
cứng ước đạt 78.000 tỷ đồng, tăng 90% so với năm 2011 (40.970 tỷ đồng). Đóng
góp chủ yếu vào tăng doanh thu của công nghiệp phần cứng là doanh thu từ nhà
máy của công ty Intel Việt Nam với trên 1,4 tỷ USD (tương đương 28.112 tỷ
đồng).
Số doanh nghiệp hoạt động chuyên ngành công nghệ thông tin đến hết
năm 2012 ước tính khoảng 1.930 doanh nghiệp. Số doanh nghiệp nước ngoài
đăng ký mới trong năm 2012 là 42 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký khoảng
3,2 triệu USD, nâng tổng số doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động là 166

chí có nơi lên đến hơn 100 lao động CNTT.
Ngành CNTT đã được tổ chức giảng dạy ở hầu hết các trường đại học và
cao đẳng trên địa bàn thành phố. Năm 2008 có 24 trường đại học đào tạo CNTT,
đến năm 2012 đã phát triển lên 80 trường. Trung bình mỗi năm, thành phố có
khoảng trên 11 .
Tin học cũng đã trở thành môn bắt buộc trong giáo dục phổ thông và đại
học. Do đó, hầu hết các thanh thiếu niên thành phố đều có khả năng sử dụng các
ứng dụng tin học cơ bản như sử dụng internet, các phần mềm tin học văn phòng.
N
,
trong thời gian tới.
I.2. Đánh giá về nhân lực CNTT thành phố:
I.2.1. Điểm mạnh:
Nhân lực CNTT-TT thành phố là nhân lực trẻ, trên 70% lao động CNTT-
TT có độ tuổi dưới 30 và có trình độ học vấn tối thiểu là trung học.
Chất lượng nguồn nhân lực CNTT-TT từng bước đã đáp ứng được nhu
cầu của xã hội. Theo kết quả khảo sát được Sở TTTT thành phố và Hội Tin học
thành phố thực hiện trong năm 2011, có đến 87% doanh nghiệp hài lòng về chất
lượng chuyên môn nhân lực CNTT, 64% doanh nghiệp hài lòng về kỹ năng
mềm của lao động được cung cấp.

3
I.2.2. Điểm hạn chế:
Trình độ ngoại ngữ (bao gồm các loại ngoại ngữ phổ biến như tiếng Anh,
Nhật, Pháp) tiếp tục là điểm hạn chế của nguồn nhân lực CNTT-TT Tp.HCM.
Trong những năm qua, do yêu cầu của ngành nên trình độ ngoại ngữ của nhân
lực CNTT từng bước được cải thiện, có đến 59% doanh nghiệp CNTT và 80%
doanh nghiệp thương mại được khảo sát đã đánh giá ngoại ngữ của nhân lực
CNTT tương đối được cải thiện và được đánh giá là khá. Tuy nhiên, theo đánh
giá của các nhà chuyên môn thì ngoại ngữ vẫn là vấn đề bức xúc khi muốn đào

sỹ, trong đó ưu tiên tuyển sinh đào tạo ngành CNTT.

4
II.1.5. Đào tạo CNTT trong quản lý nhà nước:
Hàng năm, Sở Nội vụ và Sở Thông tin và Truyền thông tổ chức các lớp
đào tạo CNTT nhằm nâng cao trình độ CNTT trong quản lý nhà nước.
Sở Nội vụ thành phố thường xuyên tổ chức cho các chuyên viên, cán bộ
các quận - huyện, sở - ban - ngành trên địa bàn thành phố bổ sung kỹ năng tin
học từ trình độ A đến trình độ B.
Sở Thông tin và Truyền thông căn cứ trên thực tế trình độ nhân lực phụ
trách ứng dụng CNTT của các quận - huyện, sở - ban - ngành trên địa bàn thành
phố để xây dựng và tổ chức các chương trình đào tạo bổ sung kiến thức về quản
lý hệ thống thông tin, an toàn an ninh thông tin cho cán bộ phụ trách về CNTT.
II.2. Đánh giá khả năng đào tạo và phát triển nhân lực CNTT-TT
thành phố:
II.2.1. Thuận lợi:
Hệ thống giáo dục và đào tạo CNTT-TT phát triển mạnh về chiều rộng,
bắt đầu ở cấp phổ thông cơ sở. Phần lớn thanh thiếu niên thành phố đều có kỹ
năng cơ bản về việc sử dụng CNTT trong học tập và làm việc. Ngoài các đơn vị
đào tạo chuyên ngành, thành phố còn có các doanh nghiệp giải pháp CNTT
chuyên cung cấp các khóa đào tạo CNTT chuyên ngành cho các doanh nghiệp.
Thành phố đang chuẩn bị xây dựng Chương trình Đào tạo, nghiên cứu và
phát triển nguồn nhân lực CNTT-TT giai đoạn 2012-2015 với các mục tiêu:
- Phát triển nguồn nhân lực CNTT-TT chất lượng cao đáp ứng nhu cầu
phát triển ngành công nghiệp công nghệ thông tin, công nghiệp phần mềm, nội
dung số, dịch vụ, phát thanh, truyền hình, và báo chí, xuất bản. Thành phố Hồ
Chí Minh là trung tâm đào tạo và cung cấp nhân lực CNTT-TT cho khu vực.
- Đến năm 2015, hàng năm cung cấp khoảng 30.000 chuyên viên đáp
ứng yêu cầu về ngoại ngữ và chuyên môn hoạt động trong lĩnh vực CNTT-TT.
- Phát triển nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao phục vụ cho chính

dạy nghề, nâng cao chất lượng và tăng nhanh về số lượng. Ở các trường đại học,
cao đẳng bảo đảm đạt tỷ lệ trung bình 15 – 20 sinh viên/giảng viên trong đào tạo
CNTT; 70% số giảng viên CNTT ở đại học và trên 50% giảng viên CNTT ở cao
đẳng có trình độ thạc sĩ trở lên; tăng nhanh số giảng viên có trình độ tiến sĩ; đến
cuối năm 2015, 100% giảng viên đại học, cao đẳng, giáo viên trung học phổ
thông, giáo viên trung cấp chuyên nghiệp, sinh viên có máy tính riêng để dùng.
- Đảm bảo đủ nhân lực, đáp ứng được sự phát triển của các doanh nghiệp
trong lĩnh vực CNTT và truyền thông. Từ nay đến năm 2015, cung cấp cho các
doanh nghiệp 250.000 lao động chuyên môn về CNTT, điện tử, viễn thông có
trình độ từ trung cấp chuyên nghiệp và sơ cấp nghề (đào tạo 1 năm) trở lên,
trong đó có 50% lao động có trình độ cao đẳng, đại học và 5% có trình độ thạc sĩ
trở lên;
- Đẩy mạnh việc phổ cập kiến thức và kỹ năng ứng dụng CNTT. Đảm
bảo đa số cán bộ, công chức, viên chức; được đào tạo về ứng dụng CNTT trong
công việc của mình;
- Đào tạo cán bộ chuyên trách CNTT có trình độ cao đẳng hoặc tương
đương trở lên đáp ứng đủ cho các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã
hội, các cơ sở nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng và cán bộ chuyên trách trình
độ trung cấp chuyên nghiệp trở lên ở các cơ sở giáo dục tiểu học, giáo dục trung
học. Bồi dưỡng chuyên môn về CNTT cho các cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các
Bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đáp ứng yêu cầu trình độ
được quy định tại Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 của
Chính phủ.

6
Như vậy, Chính phủ, Thành phố luôn ủng hộ và tạo điều kiện để phát
triển nhân lực CNTT tại Việt Nam nói chung và nhân lực CNTT thành phố nói
riêng.
II.2.2. Khó khăn:
Theo kết quả khảo sát cũng như thông tin từ các đơn vị đào tạo, trong

TT thành phố thực hiện trong giai đoạn 2012-2015:
IV.1. Nghiên cứu, đề xuất chính sách hỗ trợ đào tạo, nghiên cứu và
phát triển nguồn nhân lực CNTT-TT
- Nội dung:

7
+ Tổ chức khảo sát, tổng hợp các rào cản, những điểm bất hợp lý, các
chính sách, cơ chế lạc hậu gây cản trở trong đào tạo và phát triển nguồn nhân
lực. Từ đó nghiên cứu và đề xuất các chính sách ưu đãi cho việc đào tạo, nghiên
cứu và phát triển nguồn nhân lực CNTT-TT (về thuế, đất, hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ
tầng…) để thành phố, các bộ-ngành và Chính phủ xem xét, giải quyết.
+ Hỗ trợ các đơn vị trong việc tháo gỡ các vướng mắc trong thủ tục hành
chính (thuế, thủ tục cấp phép đầu tư, hải quan, …).
+ Mở rộng và đề xuất triển khai nhiều hình thức tuyên truyền về ngành
CNTT.
+ Đề xuất cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút người Việt Nam ở
nước ngoài, chuyên gia nước ngoài tham gia đầu tư, giảng dạy, đào tạo tại thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đơn vị chủ trì: Sở Thông tin và Truyền thông.
- Đơn vị phối hợp: các sở-ngành, quận-huyện, đại học Quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh, Cục Thuế thành phố, công ty Phát triển Công viên phần mềm
Quang Trung, Khu Công nghệ cao, Hội Tin học thành phố, các doanh nghiệp.
IV.2. Chương trình Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực công nghệ
thông tin – truyền thông trong quản lý nhà nước
- Nội dung:
+ Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng về quản trị mạng, bảo mật mạng, an toàn và
an ninh thông tin cho đội ngũ chuyên viên phụ trách quản lý mạng CNTT của sở
ban ngành, quận huyện.
+ Tổ chức đào tạo các chương trình tin học căn bản, nâng cao (điện toán
đám mây, an toàn thông tin,…) cho các cán bộ, chuyên viên quản lý nhà nước.

Trung, BQL Khu Công nghệ cao, các đơn vị đào tạo, doanh nghiệp, chuyên gia
Việt Kiều.
IV.5. Chương trình hỗ trợ sinh viên
- Nội dung:
+ Tạo cầu nối để sinh viên tham gia thực tập tại doanh nghiệp, học hỏi
kinh nghiệm thực tế.
+ Hỗ trợ sinh viên vay vốn để nâng cao trình độ và kỹ năng làm việc.
+ Tổ chức cho sinh viên nghiên cứu theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp.
+ Xây dựng các phòng thí nghiệm, viện nghiên cứu để sinh viên có điều
kiện thực hành thực tế.
- Đơn vị chủ trì: Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
- Đơn vị phối hợp: Công ty Phát triển Công viên phần mềm Quang
Trung, Khu Công nghệ cao, Hội Tin học thành phố, các đơn vị đào tạo, doanh
nghiệp.
IV.6. Phát huy và mở rộng quy mô hoạt động của Quỹ hỗ trợ phát
triển nhân lực CNTT-TT
- Nội dung: tăng cường tuyên truyền, quảng bá về Quỹ trong công tác
đào tạo phát triển nguồn nhân lực; tìm kiếm, vận động nguồn tài trợ cho các
chương trình đào tạo CNTT – TT tiên tiến.
- Đơn vị chủ trì: Quỹ Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực CNTT-TT.

9
- Đơn vị phối hợp: Hội Tin học thành phố, các đơn vị đào tạo, doanh
nghiệp.
IV.7. Chương trình đào tạo lãnh đạo Công nghệ thông tin (CIO) và
lãnh đạo an toàn thông tin (CSO).
- Nội dung:
+ Thường xuyên tổ chức đạo tạo về kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước,
kỹ năng sử dụng CNTT cho đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về CNTT-TT.
+ Tổ chức gặp mặt thường xuyên các cán bộ quản lý nhà nước về CNTT-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status