sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy – học môn Ngữ Văn ở THPT - Pdf 26

MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Thực trạng của vấn đề
Nội dung chương trình môn Ngữ văn THPT từ khi được chỉnh lý kéo
theo đó là dạy học theo hướng tích hợp giúp học sinh và giáo viên thấy được
sự liên quan giữa lí thuyết và thực hành, thấy được mối quan hệ mật thiết giữa
ba phần: Văn bản –Tiếng việt –Tập làm văn. Qua đó, củng cố, khắc sâu kiến
thức dễ dàng hơn so với chương trình cũ. Sự đổi mới chương trình kéo theo
sự đổi mới về phương pháp giảng dạy và lĩnh hội tri thức. Dù đã có nhiều
nỗ lực nhưng thầy và trò trường THPT Bình Dương vẫn còn nhiều hạn chế
trong dạy – học bộ môn Ngữ văn, đặc biệt là khi phân tích, cảm nhận một
tác phẩm thơ, văn trong sách giáo khoa, sách bài tập,…
Để nắm tình hình chất lượng bộ môn Ngữ văn đầu năm và số liệu học
sinh không thích bộ môn Ngữ văn, tôi đã tiến hành phát phiếu điều tra và
thống kê như sau:
Năm học Lớp
Tổng
số HS
Số lượng HS thích
học Ngữ Văn
Số lượng HS
không thích học
Ngữ Văn
Số lượng Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ %
2010-2011 Lớp
11A3
45 20 44.4 25 55.6
Lớp
11A4
44 23 52.3 21 47.7
2011-2012 Lớp

rung cảm thẩm mó thật sự cho học sinh.
3. Phạm vi nghiên cứu
- Trong đề tài này, tơi chỉ áp dụng cho phần tìm hiểu văn bản
- Năm học 2010 - 2011 tôi chọn lớp 11A3 để thực nghiệm, lấy lớp
11A4 làm đối chứng; năm 2011-2012 chọn lớp 12A3 để thực nghiệm, lấy
lớp 12A4 làm đối chứng.
2
- Đối tượng: học sinh Trường THPT Bình Dương.
II. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
1. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
1.1 Cô sôû lí luaän
Văn học là một trong những bộ môn được đặt lên vị trí hàng đầu trong
chương trình giáo dục. Bởi lẽ văn học bồi dưỡng cho đời sống tâm hồn chúng
ta thêm phong phú và cao đẹp, làm cho chúng ta biết yêu quí và trân trọng cái
cái đẹp, cái thiện, biết căm ghét cái xấu, cái ác để cho chúng ta trở thành
những con người sống có đạo lý và có nhân cách hơn. Đặt biệt là học tốt
môn Ngữ văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác và ngược lại. Từ đó
đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, giảm lí thuyết, gắn học với hành,
gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của cuộc sống.
1.2 Cơ sở thực tiễn
Luật giáo dục có qui định: “Phương pháp dạy học phải phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng
lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”. Tuy
nhiên, trong quá trình giảng dạy và dự giờ trao đổi đồng nghiệp tôi nhận thấy
một số học sinh chưa nắm được phương pháp, kĩ năng cảm nhận, phân tích
thơ, văn. Thực tế hiện nay nhiều học sinh không thích học môn Ngữ văn
(phần văn bản) nên chất lượng bài kiểm tra, bài thi chưa cao. Một số em hỏng
kiến thức ở các lớp dưới nên khả năng tư duy còn nhiều hạn chế, một phần
giáo viên đầu tư cho tiết giảng văn chưa đúng mức, Xuất phát từ những lí
do trên mà tôi chọn đề tài “Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy –

- Tiến hành thu phiếu, phân tích và tính ra tỉ lệ học sinh thích hay
không thích học Văn, học Văn khó hay dễ …
- Tổng hợp tất cả các thơng tin, xử lý thơng tin (đưa ra những
phương pháp học tập đúng đắn để nâng cao chất lượng khi cảm thụ, phân tích
thơ, văn).
3. Thời gian tạo ra giải pháp
- Từ đầu năm học 2010 – 2011 tìm hiểu thực trạng, đưa ra giải pháp.
- Tiến hành thực nghiệm trong năm học 2010 – 2011 và năm học 2011
– 2012.
- Hồn thành đề tài vào 10/12/2012.
NỘI DUNG
I. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Định hướng cho học sinh phát hiện những hạn chế của mình khi học
phần văn bản. Đưa ra các giải pháp để áp dụng trong dạy học.
- Mở rộng, nâng cao kiến thức, rèn luyện kĩ năng phân tích, cảm thụ thơ
văn cho học sinh.
- Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; kích thích học
sinh ý thức ham thích học tập bộ mơn này.
II. GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI
1. Tính mới của đề tài
1.1. Đối với học sinh
- Phải ý thức được tầm quan trọng của bộ mơn Ngữ Văn đặc biệt là phần văn
bản.
- Phải tự bồi dưỡng năng lực tự học cho bản thân.
5
- Phải đọc kĩ sách giáo khoa (văn bản thơ, văn), đọc sách tham khảo, báo,
tìm tòi tài liệu về văn chương, những tác phẩm văn học hay để tự bồi
dưỡng kiến thức, trau dồi vốn từ ngữ …
1.2. Đối với giáo viên
1.2.1. Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh

sinh. Vậy để chuẩn bị bài mới được tốt, giáo viên cần hướng dẫn học sinh
chuẩn bị những nội dung sau:
- Tìm hiểu đặc trưng thể loại – kiểu văn bản : học sinh phải đọc văn bản,
đọc chú thích để tìm hiểu đặc trưng thể loại, kiểu văn bản, sau đó khai thác
nội dung và nghệ thuật để hình thành khái niệm thể loại.
- Tìm hiểu các yếu tố trong văn bản : Phần này giúp học sinh tự tìm hiểu
tác phẩm từ các chi tiết trong văn bản. Với việc tìm hiểu này học sinh sẽ được
rèn luyện kỹ năng phân tích tác phẩm đúng hướng, đúng nguyên tắc. Muốn
vậy khi chuẩn bị bài mới học sinh cần tập trung rèn luyện các kĩ năng sau:
+ Rèn luyện năng lực phát hiện các điểm sáng thẩm mỹ : Điểm sáng
thẩm mỹ có khả năng thu nạp giá trị nội dung tư tưởng vào một hình thức
biểu hiện rất nhỏ, nó giúp chúng ta hiểu đúng, hiểu sâu vấn đề.
VD: Khi hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài văn bản “Tây Tiến” ( Ngữ văn
12) của Quang Dũng giáo viên hướng dẫn học sinh phát hiện điểm sáng thẩm
mỹ của từng câu thơ, bài thơ. Như câu “ Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa”.
Chữ “ bừng” có thể nói là một nét vẽ có thần. Bừng là sáng bừng lên, cháy
rực lên từ những ngọn đuốc trong đêm hội đuốc hoa. Cũng có nghĩa là tưng
bừng rộn ràng qua tiếng khèn “ man điệu”, qua giọng hát tình tứ , mê say của
bài dân ca Thái, dân ca Lào.
7
+ Rèn luyện năng lực tái hiện hình tượng trung tâm của tác phẩm. Đây là
năng lực cơ bản, góp phần giúp học sinh tự tìm hiểu sự vận động của thế giới
ngôn ngữ hoặc quan sát liên tưởng, tưởng tượng rồi tái hiện trong tư duy
những hình ảnh hoặc những vấn đề cần giải quyết .
+ Rèn luyện năng lực phân tích, cắt nghĩa tác phẩm văn học. Phân tích là
cách thức nghiên cứu, tìm hiểu chi tiết các mặt riêng biệt của tác phẩm nhằm
phát hiện, khám phá những tương quan giữa chúng để đạt tới nhận thức
chung, sâu sắc hơn. Cắt nghĩa là dùng trình độ năng lực và kiến thức văn học
để giải thích, nâng cao sự hiểu biết tác phẩm văn học. Phân tích và cắt nghĩa
là hai thao tác đi sâu vào tác phẩm văn học.

vay mượn của người khác. Từ đó học sinh sẽ cảm thấy hứng thú mỗi khi học
Văn, kích thích các em yêu thích môn học này hơn. Muốn làm được điều này
thì phải phát huy tốt phương pháp gợi mở, giảng bình trong từng tiết dạy.
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên đừng để cho học sinh suy nghĩ
mình không có năng khiếu văn chương. Quan niệm này có những điểm sai
lầm:
- Học sinh không đánh giá đúng về mình nên không tự tin, chưa cầm đến
sách, chưa quen bài giảng mà đã nghĩ rằng mình không có khiếu môn này thì
sẽ không bao giờ học được cả. Cụ thể là học sinh không dám tự viết mà cứ
tìm cách vay mượn bài làm của người khác.
- Học sinh tự mình đánh mất khả năng phấn đấu. Muốn xoá bỏ được
suy nghĩ này, giáo viên cần phải biết đánh giá đúng về các em, trân trọng khả
năng của các em dù là nhỏ, biết phát huy đúng lúc từng tiến bộ nhỏ của các
em. Làm được như vậy sẽ tạo được niềm tin, kích thích khả năng sáng tạo của
các em. Từ đó các em mới mạnh dạn viết ra những điều mình nghĩ, bài làm
của các em mới có hồn, có dấu ấn cá nhân được.
Ví dụ : Khi dạy văn bản “ Khóc Dương Khuê” của Nguyễn Khuyến
(Ngữ văn 11), giáo viên yêu cầu học sinh viết đoạn văn nêu “Cảm nghĩ về
tình bạn” thì giáo viên cần gợi ý, định hướng phạm vi kiến thức cho các em
9
để các em có được kiến thức và hứng thú để viết được đoạn văn hay, hấp
dẫn,
“ …Bạn hãy tưởng tượng xem, nếu sống trong cõi đời này mà không có
bạn thì chẳng khác nào bạn đang sống một mình giữa một sa mạc hoang vu,
cuộc sống đó khác nào cỏ cây thiếu ánh nắng, cuộc sống đó sẽ vô vị, nhàm
chán và buồn tẻ biết bao. Vậy ai không có bạn thì quả là một bất hạnh lớn
khi sống ở trên đời. Bởi vậy người bạn có một vai trò đặc biệt quan trọng
trong cuộc sống của mỗi chúng ta. Đó là người cảm thông, chia sẻ cùng ta bao
buồn vui trên cõi đời này. Ôi ! Tình bạn quả là một thứ tình cảm thiêng
liêng cao quí mà mỗi chúng ta cần phải nâng niu, trân trọng nó…”

sinh tiếp thu chậm. Mỗi thành viên của nhóm đều chịu trách nhiệm về kết
quả hoạt động của nhóm mình.
* Cách tổ chức :
Giáo viên bố trí mỗi nhóm 2 bàn kề nhau trong một dãy. Mỗi nhóm cử
một em làm nhóm trưởng. Nhóm trưởng có khả năng diễn đạt ngôn ngữ nói
cũng như ngôn ngữ viết? Có kĩ năng thực hành và khả năng điều khiển hoạt
động của nhóm, được nhóm tin cậy.
* Các hình thức tổ chức hoạt động nhóm :
- Hoạt động để phát hiện kiến thức mới :
Hình thức hoạt động này giúp học sinh có hứng thú học tác phẩm văn
học đòi hỏi tư duy trừu tượng làm thay đối không khí học tập, học sinh tích
cực hoạt động để khám phá nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.
Ví dụ:
Mở đầu bài thơ Quê hương Việt Nam, nha thơ Nguyễn Đình Thi viết:
“ Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Cánh cò bay lả dập dờn
11
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều”
Trong bài thơ “ Tổ quốc bao giờ đẹp hơn thế này chăng?” Nhà thơ Chế
Lan Viên đã bắt đầu bằng những câu thơ:
“ Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng ”
So với hai nhà thơ trên, những cảm nhận mở đầu về đất nước của
Nguyễn Khoa Điềm có gì khác?

+ Rừng xà nu là bài học về cách sống lí tưởng, trung thành với lí tưởng và
theo đuổi thực hiện lí tưởng, hoài bão đến cùng.
+ Rừng xà nu là bài học về cách ứng xử: chí công vô tư, dĩ công vô thượng
trong công việc, tình thâm nghĩa nặng trong các quan hệ thân thuộc gia đình.
+ Rừng xà nu là bài học về ý thức trân trọng và bảo vệ vẻ đẹp của thiên
nhiên quê hương xứ sở, chống lại hành động hủy diệt môi trường sống.
1.2.7 Kết hợp tổ chức cho học sinh kể chuyện và đọc phân vai trong
bài dạy
* Hoạt động thi kể chuyện:
Đây là hoạt động khá sôi động, gây hứng thú học tập cho học sinh. Hoạt
động này giúp học sinh rèn luyện kĩ năng nói trước tập thể, kĩ năng diễn đạt
lưu loát, biết kể diễn cảm có ngữ điệu, phát âm đúng, tư thế đàng hoàng, tự
tin, mắt nhìn thẳng vào đối tượng nghe, biết mở đầu và kết thúc câu chuyện.
Hoạt động này không chỉ giúp học sinh có được những kĩ năng trên mà
còn giúp học sinh thuộc được truyện, hiểu truyện một cách sâu sắc.
- Cách tổ chức :
+ Kể chuyện theo cá nhân, độc lập.
13
+ Kể chuyện theo nhóm.
- Các hình thức hoạt động :
+Kể chuyện theo cá nhân độc lập:
Hình thức hoạt động giúp học sinh mạnh dạn trước tập thể, rèn luyện kĩ
năng nói, diễn đạt lưu loát, đồng thời học sinh củng cố khắc sâu truyện đã
học.
VD : Khi dạy văn bản “ Chữ người tử tù” ( Ngữ Văn 11), giáo viên cho
học sinh xung phong kể lại câu chuyện về Huấn Cao.
Qua ngữ điệu, lời văn diễn cảm, cử chỉ hành động của học sinh, khiến
cho các em cảm thấy thích thú, đồng thời cũng làm thay đổi không khí học
tập, tạo cho các em sự vui vẻ, thoải mái sau một tiết học.
+ Kể chuyện theo nhóm

…) để góp phần gây hứng thú học tập cho học sinh .
1.2.9. Trực quan trong giờ dạy
Ngoài việc đầu tư kiến thức cho bài dạy xây dựng hệ thống câu hỏi lô
gic vận dụng nhiều phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh thì
người giáo viên cần phải biết sử dụng những phương tiện dạy học để góp
phần gây hứng thú học tập cho học sinh. Nếu giáo viên có chất giọng hay có
thể hát minh họa cho học sinh nghe. Chẳng hạn khi dạy bài “ Tình cảnh lẻ loi
của người chinh phụ” giáo viên có thể ngâm cho học sinh nghe một đoạn để
học sinh có thể dễ dàng hơn trong việc cảm nhận những cung bậc, sắc thái
tâm trạng của người phụ nữ có chồng đi chinh chiến.
Ngoài ra chúng ta có thể minh họa bằng cách thu băng, đĩa và phát lại
cho học sinh nghe, quan sát, xem một số đoạn phim ngắn, minh họa cho văn
bản đang học. Ví dụ: cho học sinh xem một clíp thuyết minh về “ Vịnh Hạ
Long” khi dạy bài “ Phương pháp thuyết minh” ( Ngữ Văn 10, tập 1) hoặc
trực quan bằng tranh, ảnh. Đây là một hoạt động không thể thiếu trong hoạt
15
động dạy và học, bởi từ xưa ông cha ta đã quan niệm “Trăm nghe không bằng
một thấy”.
Hơn nữa ngày nay khoa học tiến bộ việc ứng dụng công nghệ thông tin
vào dạy học không còn là một vấn đề mới mẻ đối với mỗi giáo viên, nhờ vào
sự tiến bộ này mà người giáo viên có thể cho học sinh quan sát tranh, ảnh,
nghe hát, ngâm thơ, xem một số đoạn phim minh họa một cách dễ dàng.
Ví dụ: khi dạy “ Ai đã đặt tên cho dòng sông” ( Hoàng Phủ Ngọc
Tường ) giáo viên có thể chiếu hoặc cho học sinh xem những bức ảnh chụp về
con sông Hương thơ mộng, trữ tình.
Hoặc giáo viên có thể sưu tầm hình ảnh để tái hiện lại một tác phẩm
văn học một cách sinh động. Ví dụ khi dạy bài “ Số phận con người” của Sô-
lô-khốp ta có thể tóm tắt tác phẩm bằng những hình ảnh sau:
16
17

12A3
41 28 68.3 18 31.7
Lớp 12A4 42 20 47.6 22 52.4
( Những lớp in đậm là những lớp được chọn để làm thực nghiệm)
- Qua thực nghiệm tôi nhận thấy việc thực hiện một số kinh nghiệm nâng
cao chất lượng học phần văn bản của mơn Ngữ Văn cho học sinh đã có kết
quả tốt.
19
- Đặc biệt là khơng có học sinh "ngại" học văn, khơng còn học sinh kém mơn
Văn.
KẾT LUẬN
I. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1. Những điều kiện áp dụng kinh nghiệm
1.1 Học sinh nhiều em chưa có phương pháp học tập phù hợp với đặc
trưng bộ môn, chưa biết nên học và chuẩn bò môn Ngữ văn (phần văn bản)
như thế nào cho có hiệu quả. Từ đó các em chỉ biết học những gì có trong
vở ghi, không đi sâu tìm hiểu nội dung bài học, không phát hiện cái hay,
cái đẹp của văn chương nên tỏ ra chán nản không muốn học. Mặt khác,
học sinh không hứng thú với môn học này vì cho rằng mình không có
khiếu văn chương, không tự tin vào năng lực của mình, nên không độc lập
suy nghó, không có khát vọng tự mình chiếm lónh tri thức, thiếu niềm tin
vào chính mình .
1.2. Giáo viên " đi sâu" vào trò chuyện, trao đổi với học sinh để phân tích
thực trạng, tìm ra ngun nhân và đưa ra các giải pháp khắc phục.
2. Những bài học kinh nghiệm được rút ra trong q trình áp dụng một
số kinh nghiệm trên của bản thân
2.1 Trong q trình tìm hiểu thực trạng, tơi thấy học sinh khơng mấy hứng
thú khi học bộ mơn Ngữ Văn đặc biệt là phần văn bản. Phần lớn các em đều
cho rằng học văn bản thì thấy được cái hay, cái đẹp mà mỗi nhà thơ, nhà văn
gửi gắm vào trong tác phẩm. Nhưng cái khó là khơng biết làm thế nào để

2. Về phía giáo viên
Là một mơn học thuộc nhóm khoa học xã hội nên bộ mơn Ngữ văn
chưa được tất cả học sinh quan tâm đầu tư học tập đúng mức như các mơn
21
thuộc KHTN như: mơn Tốn, Vật lý…do đó người giáo viên phải có phương
pháp giảng dạy phù hợp giúp các em thích học bộ mơn này hơn.
Bên cạnh đó, người giáo viên phải có năng lực chun mơn vững
vàng, ln trau dồi, bồi dưỡng kiến thức chun ngành, có lòng u nghề,
nhiệt tình và tâm huyết với nghề nghiệp. Giáo viên đứng lớp phải biết thiết
kế, tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện hoạt động học tập với các hình
thức đa dạng, phong phú, biết động viên, khuyến khích tạo cơ hội và điều
kiện cho học sinh được tham gia một cách tích cực, chủ động, sáng tạo vào
quá trình khám phá và lónh hội kiến thức. Chú ý khai thác vốn kiến thức,
kinh nghiệm, kó năng đã có của học sinh, bỗi dưỡng hứng thú, nhu cầu
hành động và thái độ tự tin trong học tập cho học sinh; giúp các em phát
huy tối đa tiềm năng của bản thân để nâng cao chất lượng.
Phối hợp linh hoạt các phương pháp dạy học trong một tiết dạy, phải có
phương pháp riêng và u cầu riêng đối với từng đối tượng học sinh sao cho
phù hợp với khả năng tiếp thu kiến thức của các em.
3. Về phía nhà trường
Nếu có điều kiện nhà trường nên tổ chức cho học sinh đi tham quan,
gặp gỡ, nói chuyện với văn nghệ só… Theo tôi đó là việc làm bổ ích giúp
các em thay đổi không khí học tập, mở rộng tầm nhìn và điều quan trọng
hơn là bổ sung kiến thức thực tế cho học sinh, giúp các em có thêm tư liệu
để học tốt môn Ngữ văn.
Mua thêm sách tham khảo có chất lượng phục vụ cho cơng tác dạy và
học có hiệu quả.
Đầu tư thêm phòng dạy - học ứng dụng cơng nghệ thơng tin để tạo
hứng thú, nâng cao chất lượng dạy học đối với bộ mơn này.
Trên đây là những kinh nghiệm mà tôi rút ra được từ thực tiễn giảng

I. Mục tiêu của đề tài trang 5
II. Giải pháp của đề tài trang 5
1.Tính mới của đề tài trang 5
2.Khả năng ứng dụng của đề tài trang 19
3.Lợi ích của đề tài trang 19
PHẦN KẾT LUẬN trang 20
I. Bài học kinh nghiệm trang 20
1. Những điều kiện áp dụng kinh nghiệm trang 20
2. Những bài học kinh nghiệm được rút ra trong q trình
áp dụng một số kinh nghiệm trên của bản thân trang 20
3. Những nhận định chung của bản thân
về việc áp dụng giải pháp trên trang 21
II. Một số đề xuất đối với học sinh, đối với giáo viên
và nhà trường trang 21
1. Về phía học sinh …………………………………………………………………………… trang 21
2. Về phía giáo viên ……………………………………………………………………………trang 22
3. Về phía nhà trường………………………………………………………………………… trang 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bí quyết giỏi văn – NXB Giáo dục
2. Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng mơn Ngữ văn 10, 11, 12 NXB
Đại học sư phạm
3. Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học mơn Ngữ Văn THPT.
24
4. Phân tích, bình giảng thơ văn trong nhà trường THPT
Ôn tập để học tốt Ngữ văn 10, 11, 12 (chương trình chuẩn)- NXB Hà Nội
5. Phương pháp dạy học môn Ngữ Văn ở trường phổ thông – NXB Giáo
dục
6. Sách giáo khoa, sách giáo viên lớp 10, 11, 12- NXB Giáo dục
Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn Ngữ văn 10, 11, 12 - NXB Giáo dục
7. Thiết kế dạy học Ngữ Văn 10, 11, 12 theo hướng tích hợp - NXB Giáo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status