Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức
thương mại thế giới WTO. Các doanh nghiệp của Việt Nam đã và đang chủ
động nắm bắt cơ hội và đối mặt với những thách thức mới.Công ty cổ phần
nhựa HyPhen là doanh nghiệp chuyên sản xuất và kinh doanh các sản phẩm
văn phòng phẩm và áo mưa. Các sản phẩm của Công ty gồm áo mưa, túi đựng
tài liệu, cặp phai kẹp tài liệu và các sảm phẩm khác làm từ giấy và nhựa để
phục vụ cho các văn phòng. Tốc độ phát triển của kinh tế Việt Nam năm 2007
là 7,8% kim ngạch xuất khẩu đạt 48,2 tỷ USD. Trong đó có đóng góp quan
trọng của ngành sản xuất văn phòng phẩm trong nước, kim ngạch xuất khẩu
2008 đạt 2,33 tỷ USD. Ngành sản xuất các mặt hàng văn phòng phẩm đã trở
thành ngành kinh tế quan trọng phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Các doanh nghiệp trong ngành đã không ngừng mở rộng quy mô, áp dụng các
tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất nhằm tăng sản lượng, chất lượng
mẫu mã và chủng loại các sản phẩm văn phòng phẩm. Nhưng có một thực
trạng đang tồn tại trong ngành sản xuất văn phòng phẩm của nước ta. Đó là
ngoài các Công ty lớn như Công ty văn phòng phẩn Hồng Hà,văn phòng
phẩm Giai Phát,văn phòng phẩn Trà My.... thì hầu hết các doanh nghiệp hoạt
động trong ngành là những Công ty vừa và nhỏ. Quy mô hoạt động chưa đủ
lớn, vốn ít, nguồn nhân lực còn yếu và thiếu về kiến thức chuyên môn. Do đó
các Công ty này thường chỉ chú trọng vào việc sản xuất hàng hoá mà ít quan
tâm tới các hoạt động quản trị khác trong đó có hoạt động Marketing cho sản
phẩm, Công ty mình. Ngày nay khi nền kinh tế phát triển, mức sống của
người dân cao lên kéo theo nhu cầu của họ về các sản phẩm tiêu dùng ngày
càng cao. Việc các doanh nghiệp phải có các chính sách về giá cả hàng hoá,
hình thành thương hiệu, bao gói sản phẩm và xúc tiến thương mại để đáp ứng
Sinh viên: Cấn Xuân Hào Lớp: K38A QTKDTM công thương TW
1
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
tốt nhất nhu cầu của khách hàng ngày càng trở lên quan trọng. Vậy các doanh
không chỉ có những thay đổi, những diễn biến từ từ và dễ dàng phát hiện và dự
báo mà nó còn luôn tiềm ẩn những biến động khôn lờng; thậm chí những cú
sốc. Nh vậy, môi trờng Marketing tạo ra cả những cơ hội thuận lợi và cả những
sức ép, sự đe doạ cho tất cả các nhà kinh doanh. Điều căn bản là họ phải sử
dụng các công cụ nghiên cứu Marketing, các hệ thống Marketing để theo dõi,
nắm bắt và sử lý nhạy bắn các quyết định Marketing nhằm thích ứng với những
thay đổi từ phía môi trờng.
Môi trờng Marketing là tập hợp của môi trờng Marketing vi mô và môi tr-
ờng vĩ mô. Môi trờng Marketing vi mô bao gồm các yếu tố liên quan chặt chẽ
đến doanh nghiệp và nó ảnh hởng đến khả năng của doanh nghiệp khi phục vụ
khách hàng. Môi trờng Marketing vĩ mô bao gồm các yếu tố, các lực lợng mang
tính chất xã hội rộng lớn, chúng có tác động ảnh hởng tới toàn bộ môi trờng
Marketing vi mô và tới các quyết định Marketing của doanh nghiệp.
Sinh viờn: Cn Xuõn Ho Lp: K38A QTKDTM cụng thng TW
3
Chuyờn tt nghip Trng i hc Kinh t Quc dõn
* Môi trờng Marketing vi mô.
2- Các yếu tố và lực lợng bên trong doanh nghiệp.
Nhiệm vụ cơ bản của hệ thống Marketing là sáng tạo ra các sản phẩm
hàng hoá và dịch vụ cụ thể để cung cấp cho thị trờng mục tiêu. Tuy nhiên, công
việc đó có thành công hay không lại chịu sự ảnh hởng của rất nhiều nhân tố và
lực lợng. Trớc hết các quyết định Marketing phải tuân thủ nhiệm vụ chiến lợc,
mục tiêu cụ thể, các chính sách và định hớng phát triển do ban lãnh đạo công ty
vạch ra. Do đó ban lãnh đạo doanh nghiệp có ảnh hởng lớn tới hoạt động và các
quyết định của bộ phận Marketing. Bên cạnh đó, bộ phận Marketing phải làm
việc đồng bộ, chặt chẽ với các bộ phận chức năng khác trong công ty nh: tài
chính - kế toán, vật t - sản xuất, kế hoạch, nghiên cứu và phát triển, bộ phận
thiết kế, bộ phận nhân lực. Mỗi bộ phận có những mục tiêu hoạt động cụ thể,
nếu mục tiêu của bộ phận Marketing không đợc sự đồng tình của bộ phận khác
thì nó không thể thành công.
Công chúng và các tổ chức công cộng
Công chúng và các tổ chức công cộng
Chuyờn tt nghip Trng i hc Kinh t Quc dõn
xuất hàng hoá và dịch vụ. Thậm chí họ còn phải quan tâm tới thái độ của các
nhà cung cấp đối với doanh nghiệp mình và các đối thủ cạnh tranh. Nguồn lực
khan hiếm, giá cả tăng có thể làm xấu đi cơ hội thị trờng cho việc kinh doanh
những hàng hoá và dịch vụ nhất định, tồi tệ hơn có thể buộc doanh nghiệp phải
ngừng sản xuất.
2.2. Các trung gian Marketing.
Đó là các tổ chức dịch vụ, các doanh nghiệp khác và các cá nhân giúp cho
công ty tổ chức tốt việc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của mình tới ngời
mua cuối cùng.
Những ngời trung gian và các hãng phân phối chuyên nghiệp đóng vai trò
rất quan trọng giúp cho doanh nghiệp tìm kiếm khách hàng hoặc là thực hiện
công việc bán hàng cho họ. Đó là những đại lý bán buôn, bán lẻ, đại lý độc
quyền, các công ty kho vận...
Lựa chọn và làm việc với ngời trung gian và các hãng phân phối là những
công việc hoàn toàn không đơn giản. Nếu nền kinh tế càng phát triển, trình độ
chuyên môn hoá càng cao thì họ không còn chỉ là các cửa hàng nhỏ lẻ, các quầy
bán hàng đơn giản, độc lập. Xu thế đã và đang hình thành các siêu thị, các tập
đoàn phân phối hàng hoá rất mạnh về tiềm lực và tiến hành nhiều loại hoạt động
đồng thời nh vận chuyển, bảo quản làm tăng giá trị và phân phối hàng hoá dịch
vụ một cách nhanh chóng an toàn, tiết kiệm... qua đó tác động đến uy tín, khả
năng tiêu thụ sản phẩm của nhà sản xuất.
2.3. Khách hàng.
Khách hàng là đối tợng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định
sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Bởi vì khách hàng tạo nên thị tr-
ờng, quy mụ khách hàng tạo nên quy mô thị trờng. Khách hàng sẽ bao hàm nhu
cầu. Bản thân nhu cầu lại không giống nhau giữa các nhóm khách hàng và th-
ờng xuyên biến đổi. Nhu cầu và sự biến đổi nhu cầu lại chịu sự chi phối của
Cạnh tranh trong cùng loại sản phẩm.
Cạnh tranh giữa các nhãn hiệu
Sinh viờn: Cn Xuõn Ho Lp: K38A QTKDTM cụng thng TW
6
Chuyờn tt nghip Trng i hc Kinh t Quc dõn
Công chúng trực tiếp.
Đó là bất kỳ một nhóm một tổ chức nào có mối quan tâm thực sự hoặc có
thể sẽ quan tâm hay ảnh hởng tới khả năng đạt đợc các mục tiêu của doanh
nghiệp. Mọi công ty đều hoạt động trong một môi trờng Marketing bị vây bọc
hay chịu tác động của hàng loạt các tổ chức công chúng. Ngời ta chia thành ba
loại:
Công chúng tích cực là nhóm quan tâm tới doanh nghiệp với thái độ thiện chí.
Công chúng tìm kiếm là nhóm mà công ty đang tìm sự quan tâm của họ.
Công chúng không mong muốn là nhóm mà doanh nghiệp cố gắng thu hút
chú ý của họ, nhng luôn phải đề phòng sự phản ừng từ nhóm này.
3- Phân tích cạnh tranh.
Vấn đề cuối cùng của phân tích bên ngoài là việc phân tích tình hình cạnh
tranh. Micheal Porter quan niệm rằng, các điều kiện về cạnh tranh trong một
ngành phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Trong số các yếu tố này, ngoài
các doanh nghiệp cạnh tranh trong nội bộ ngành, còn có các nhân tố khác mà
chúng ta đã đề cập một phần nh; khách hàng, ngời cung cấp, các sản phẩm thay
thế, các đối thủ tiềm năng. Số lợng các doanh nghiệp mà càng đông và giống
nhau thì tình hình trong tơng lai càng không ổn định. Mỗi doanh nghiệp đều cố
dành lấy phần lớn của cái bánh.
Sinh viờn: Cn Xuõn Ho Lp: K38A QTKDTM cụng thng TW
7
Đối thủ
cạnh tranh
Sản phẩm
Khác biệt hoá sản phẩm.
Nguy cơ sát nhập xuôi theo chiều dọc
Tầm quan trọng của ngành với t cách là khách hàng.
Bảng 3. Phân tích các điều kiện cạnh tranh
Tơng tự vậy, sự phát triển chậm của ngành sẽ kéo theo sự cạnh tranh
không ngừng giữa các doanh nghiệp. Ngoài ra, một số nhân tố khác cũng có vai
trò nhất định. Vì vậy, chi phí cố định và chi phí dự trữ cao khuyến khích các
Sinh viờn: Cn Xuõn Ho Lp: K38A QTKDTM cụng thng TW
8
Chuyờn tt nghip Trng i hc Kinh t Quc dõn
doanh nghiệp giảm giá để tăng lợng hàng bán ra và giảm thiểu các chi phí này.
Tơng tự nh vậy, bản chất hàng hoá và dịch vụ hoặc sẽ tăng cờng hoặc giảm nhẹ
sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, khi cạnh tranh về giá càng mạnh thì tính
mất ổn định của ngành càng cao. Tính mất ổn định của một ngành còn do nhiều
nguyên nhân khác nữa.
- Trớc hết, năng lực sản xuất tăng lên dẫn đến d thừa năng
lực sản xuất và gây áp lực về giá do việc tăng cờng máy móc thiết bị của các
doanh nghiệp. Sau đó, tầm quan trọng của các rào cản rút lui ; các rào cản này
sẽ làm ngăn cản sự rút lui khỏi thị trờng của một số doanh nghiệp từ đó làm
tăng lên mức độ cạnh tranh. Cuối cùng, do sự tồn tại của các trò chơi chiến lợc
nên một số doanh nghiệp có thể sẵn sàng hy sinh lợi nhuận ngắn hạn để bám
chắc vào 1 thị trờng đợc coi là tối quan trọng.
- Nhân tố thứ hai ảnh hởng đến mức độ cạnh tranh trong nội bộ ngành là
nguy cơ xâm nhập của các đổi thủ cạnh tranh mới. Trên thực tế, khi đối thủ
cạnh tranh mới xâm nhập vào thị trờng thì nói chung họ mang theo một khả
năng sản xuất mới và với mong muốn mạnh mẽ là bán sản phẩm và dịch vụ của
mình. Hệ quả tức thời của việc các nhà cạnh tranh mới xâm nhập thị trờng là
việc tăng cờng độ thách thức thơng mại giữa các doanh nghiệp với nhau và tăng
sức ép về mặt giá cả. Nguy cơ này đợc đánh giá tuỳ theo các rào cản nhập cuộc
của ngành và các biện pháp trả đũa từ phía các doanh nghiệp hiện tại. Các biện
bởi vì họ sẽ có ít khả năng hành động trong việc tìm ra thị trờng mới. Yếu tố thứ
hai là tỷ trọng của các hoạt động mua sắm do khách hàng thực hiện trong một
ngành nào đó, tỷ trọng này đợc đo bằng tỉ lệ giữa số tiền mua sắm và tổng chi phí
của khách hàng. Khi giá trị hàng mua càng lớn thì việc tìm kiếm giá mua hời hơn
sẽ càng xui khiến khách hàng đặt các nhà cung cấp của họ vào tình thế cạnh
Sinh viờn: Cn Xuõn Ho Lp: K38A QTKDTM cụng thng TW
10
Chuyờn tt nghip Trng i hc Kinh t Quc dõn
tranh. Nhân tố thứ ba là sự khác biệt của các sản phẩm và chi phí chuyển đổi từ
nhà cung cấp này tới một nhà cung cấp khác mà khách hàng phải bỏ ra. Các sản
phẩm càng khác biệt hoá thì chi phí chuyển đổi từ nhà cung cấp này đến nhà
cung cấp khác sẽ càng cao và cuộc chiến để dành giật khách hàng giữa các nhà
cạnh tranh sẽ kém gay gắt hơn.
- Yếu tố thứ t là nguy cơ sát nhập. Nguy cơ sát nhập ngợc theo nhiều dọc
của các khách hàng lớn sẽ có một ảnh hởng xấu đối với giá cả và lợi nhuận của
doanh nghiệp. Các doanh nghiệp này sẽ phải ngăn cản khách hàng không cho
họ tiến hành chiến lợc sát nhập này. Vì sức ép giá cả sẽ làm giảm mực độ tự do
của các doanh nghiệp trong việc lựa chọn chiến lợc của mình, kéo theo các các
hoạt động cạnh tranh trên dịch vụ và sản phẩm. Quyền lực này của khách hàng
đợc chứng tỏ thông qua việc thành lập các trung tâm mua của các siêu thị phân
phối, và áp đặt luật lệ cho các nhà sản xuất.
- Cuối cùng, nhân tố thứ 5 ảnh hởng đến sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp với nhau là quyến lực các nhà cung cấp. Các nhà cung cấp lớn, bán các
sản phẩm khác biệt hoá và khó thay thế, coi khách hàng của mình là một cái
trục hấp dẫn của sự phát triển thông qua sự sát nhập xuôi theo chiều dọc, có thể
tạo sức ép với ngành khách hàng của mình. Sức ép này có thể là sự tăng giá
hoặc việc thay đổi bản chất hoặc chất lợng của các sản phẩm cung cấp.
4- Đánh giá về cạnh tranh.
Sinh viờn: Cn Xuõn Ho Lp: K38A QTKDTM cụng thng TW
11
Chuyờn tt nghip Trng i hc Kinh t Quc dõn
thiểu hoặc loại bỏ nguy cơ này. Đây là những câu hỏi mà các doanh nghiệp phải
trả lời để có thể đối mặt với các đối thủ cạnh tranh, tác động đến các lực lợng
cạnh tranh hiện tại nhằm đa doanh nghiệp đứng ở vị trí tốt nhất.
Một đánh giá về tiềm lực của các doanh nghiệp, về mục tiêu và giả thiết
sẽ cho chúng ta biết thêm về định hớng của các đối thủ cạnh tranh khác nhau.
Trong đánh giá này, nhiều nhân tố có thể đợc đề cập (xem bảng 4). Dĩ nhiên là
việc tính đến tất cả các yếu tố là rất khó do vấn đề thông tin về đối thủ cạnh
tranh không phải lúc nào cũng có sẵn. Tất nhiên, chúng ta nên tập trung vào các
doanh nghiệp hàng đầu trong ngành hoặc vào các doanh nghiệp đóng vai trò
phát triển và định hớng của toàn ngành.
Phân tích các nhân tố này cho phép dự tính các hành động mà các đối cạnh
tranh có thể tiến hành. Chẳng hạn, nếu một trong các đối thủ cạnh tranh ớc tính
rằng thị trờng sẽ bị suy thoái, coi rằng hoạt động đó chỉ là ngoài lề, có hệ thống
đánh giá nhấn mạnh việc phát triển mới, có mục tiêu chủ yếu là tăng trởng thì
chúng ta sẽ hoàn toàn có lý khi nghĩ rằng đối thủ này sẽ thực hiện chiến lợc rút
lui. Tuy nhiên cạnh tranh thì lúc nào cũng tồn tại. Khi phân tích các doanh
nghiệp hiện tại, điều đặc biệt quan trọng là xác định các doanh nghiệp thực hiện
cùng một loại chiến lợc. Trên thực tế, chiến lợc của các hãng có thể khác nhau
về mặt chuyên môn hoá, về mặt kênh phân phối, về mặt công nghệ, về mặt mức
độ sát nhập, về mặt dịch vụ, về mặt chính sách giá cả. Chính vì thế mà các hãng
Bull, IBM, Apple Computer, Hewlett Packard, DEC đã từng và đang có nhiều
chiến lợc khác nhau trong ngành tin học. Các doanh nghiệp có cùng loại hình
chiến lợc tạo thành một "nhóm chiến lợc". Các doanh nghiệp áp dụng các chiến
lợc khác nhau sẽ cạnh tranh trong những "nhóm chiến lợc" riêng rẽ. Mỗi nhóm
chiến lợc có những thành công khác nhau trong ngành. Các lựa chọn chiến lợc ít
nhiều phải thích ứng với tình hình hiện tại. Vì lý do này, các doanh nghiệp
thuộc một nhóm nào đó mà có ít thành công thờng có xu hớng chuyển sang một
nhóm khác mà chiến lợc đợc coi là thành công hơn. Tất nhiên là việc chuyển từ
Sinh viờn: Cn Xuõn Ho Lp: K38A QTKDTM cụng thng TW
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
thu được nhiều lợi nhuận hơn thì không có cách nào khác là phải hoàn thiện
sản xuất và nâng cao hiệu quả của hệ thống kênh phân phối.
Vào đầu những năm năm mươi, sức cung hàng hoá đã vượt mức tăng
trưởng của nhu cầu nên Marketing đã được gắn với người bán đang cố gắng
tìm kiếm người mua, vì vậy quan niệm Marketing truyền thống đã chuyển
sang hướng mới, nhấn mạnh đến việc hoàn thiện hàng hoá. Quan niệm hoàn
thiện hàng hoá khẳng định rằng người tiêu dùng sẽ ưa thích những hàng hoá
có chất lượng cao nhất, có tính năng sử dụng tốt nhất, vì vậy doanh nghiệp
phải tập trung vào việc thường xuyên hoàn thiện hàng hoá .
Tuy có đem lại một số kết quả nhất định, nhưng quan niệm này dẫn đến
căn bệnh Marketing thiển cận vì người bán quá ưa thích hàng hoá của mình
đến nỗi bỏ qua những nhu cầu của khách hàng, bỏ qua việc áp dụng một số
biện pháp nhằm thu hút sự chú ý của người tiêu dùng cũng như việc phân
phối hàng hoá theo những kênh thuận tiện. Do vậy với quan niệm này hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp vẫn chưa đem lại hiệu quả cao. Song song
với quan niệm này còn có một quan niệm khác về Marketing cũng vào thời kỳ
đó. Đó là quan niệm tăng cường nỗ lực thương mại. Quan niệm này khẳng định
rằng người tiêu dùng sẽ không mua hàng hoá của doanh nghiệp với số lượng
khá lớn nếu như doanh nghiệp không có những nỗ lực đáng kể trong các lĩnh
vực tiêu thụ và khuyến mại. Do quá nhấn mạnh đến vai trò của việc hỗ trợ tiêu
thụ mà bỏ qua vai trò của các yếu tố khác nên quan niệm này cũng chỉ thích
hợp với những hàng hoá có nhu cầu thụ động, tức là những hàng mà người mua
thường không nghĩ đến việc mua sắm nó.
Thực tế đó đòi hỏi phải có sự xuất hiện một quan niệm mới hơn, hiện đại
hơn, đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ mới (thời kỳ cạnh tranh có tính chất
toàn cầu), nếu doanh nghiệp muốn thu được lợi nhuận. Vì vậy, đến những
năm 80 của thế kỷ XX, quan niệm Marketing đã ra đời. Quan niệm này khẳng
Sinh viên: Cấn Xuân Hào Lớp: K38A QTKDTM công thương TW
15
Marketing quốc tế liên quan chặt chẽ, gắn bó với chính trị, tư tưởng, phe phái,
các khối kinh tế...
*Nếu phân loại Marketing theo mục đích có lợi ích vật chất hay không
có lợi ích vật chất, người ta có thể chia Marketing các nhóm.
-Marketing truyền thống và Marketing hiện đại
Tư tưởng cơ bản của Marketing truyền thống là các doanh nghiệp dựa
vào thiết bị hiện có chế tạo ra sản phẩm và sau đó cố gắng bắn chúng trên thị
trường. Nghĩa là doanh nghiệp cố gắn bán những gì mình có. Trên cở sở đó các
nhà quản lý coi nội dung của Marketing lúc này là tập trung nghiên cứu thị
trường để bán hàng.
Tư tưởng cơ bản của Marketing hiện đại là xuất phát từ nhu cầu của khách
hàng để định hướng mọi hoạt động của doanh nghiệp. Bắt đầu từ nghiên cứu nhu
cầu thị trường, tổ chức sản xuất, tiêu thụ và thực hiện các hoạt động dịch vụ
nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng thông qua đó thu được lợi nhuận.
- Marketing nguyên lý và Marketing các ngành công nghiệp, xây dựng cơ
bản, thương mại.
Marketing nguyên lý trình bày những điểm chung, những kiến thức
chung về Marketing còn Marketing chuyên ngành là sự vận dụng các quan
điểm, các kiến thức chung trong từng lĩnh vực kinh doanh cụ thể.
Ví dụ: Marketing thương mại đi sâu nghiên cứu khách hàng và hành vi
mua sắm của họ, xác định thời cơ hấp dẫn trong hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp; các tham số kiểm soát và không kiểm soát nổi về môi trường
kinh doanh; sự vận dụng các yếu tố của Marketing hỗn hợp trong lĩnh vực
thương mại...
- Micro Marketing, macro Marketing và Marketing hỗn hợp.
Micro Marketing là quá trình thực hiện các hoạt động nhằm đạt mục tiêu
của doạnh nghiệp thông qua dự đoán nhu cầu và tổ chức đưa hàng hoá, dịch
vụ tới họ.
Sinh viên: Cấn Xuân Hào Lớp: K38A QTKDTM công thương TW
17
18
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Mục tiêu kinh doanh là kết quả mong muốn mà doanh nghiệp phấn đấu
để đạt được bao gồm cả mục tiêu dài hạn và ngắn hạn. Các mục tiêu thường gặp
là mức lợi nhuận. Sự tăng trưởng doanh số bán hàng, thị phần của doanh nghiệp,
độ an toàn trong kinh doanh và đổi mới. Mục tiêu của từng doanh nghiệp cụ thể
là khác nhau nhưng mọi mục tiêu đề ra cần cụ thể, linh hoạt, định lượng được,
có tính khả thi, nhất quán và hợp lý.
-Thứ hai là phân tích các yếu tố của môi trường kinh doanh để tìm kiếm
thời cơ hấp dẫn.
Thời cơ hấp dẫn đối với một doanh nghiệp là những thời cơ được xác
định là phù hợp với tiềm năng và mục tiêu của doanh nghiệp. Tìm kiếm thời
cơ hấp dẫn là nhiệm vụ quan trọng đặc biệt của quản trị Marketing của
doanh nghiệp. Có thể tóm tắt các dạng thời cơ hấp dẫn:
Các loại
Sản phẩm
Các dạng
thị trường
Sản phẩm hiện tại Sản phẩm mới
Thị trường hiện tại Xâm nhập thị trường Phát triển sản phẩm
Thị trường mới Mở rộng thị trường Đa dạng hoá kinh doanh
- Thứ ba là sử dụng có hiệu quả các tham số của Marketing hỗn hợp: như
giá cả là tham số duy nhất của Marketing hỗn hợp mang lại thu nhập cho
doanh nghiệp, giá cả gây ra tác động lớn đối với khách hàng, ảnh hưởng đến
mức tiêu thụ sản phẩm và lợi nhuận của doanh nghiệp, vì vậy chính sách giá
là rât quan trọng đối với hoạt động kinh doanh.
Phân phối sản phẩm: theo quan điểm của các nhà doanh nghiệp phân
phối sản phẩm vừa là thời cơ, vừa là trở ngại trong hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Phải lựa chọn kênh phân phối nào đó để rút ngắn khoảng cách
vận chuyển, phát triển mạng lưới kinh doanh, giảm chi phí nhưng lại tăng
Tên giao dịch : Công ty cổ phần nhựa hyphen
Tên giao dịch đối ngoại : HYPHEN PLASTIC JOINT STOCK COMPANY.
Viết tắt là : HYPJSCO
Trụ sở Công ty : Cụm 1 Ngõ Cát Đá - Lãm Hà - Kiến An - Hải Phòng
Điện thoại : 0313576795-3576796
Fax :0313576794
E-mail :
Khi mới thành lập với sự giúp đỡ về kĩ thuật, trang thiết bị của Trung
Quốc, nhà máy đó đi vào hoạt động sản xuất. Cũng như các doanh nghiệp
khác bắt tay vào sản xuất Công ty cổ phần nhựa HyPhen gặp không ít khó
khăn khi đưa ra thị trường sản phẩm của mình. Liên tục trong thời gian đầu
nhà máy luôn phải chịu thua lỗ, nhưng với sự nỗ lực của cán bộ công nhân
viên nhà máy và sự quan tâm hỗ trợ của các cấp chính quyền, đặc biệt là sự
hỗ trợ tận tụy từ phía bạn hàng Trung Quốc. Hiện nay Công ty đó dần dần
phục hồi và từng bước phát triển, cho tới nay Công ty đó cho xản suất và tiêu
thụ khoảng 25 các danh mục các sản phẩm hàng hóa khác nhau.
Các mặt hàng truyền thống và chủ yếu của Công ty hiện nay là:
Sản phẩm văn phòng phẩm: Cặp File, túi đựng tài liệu, hồ sơ vv…
Sinh viên: Cấn Xuân Hào Lớp: K38A QTKDTM công thương TW
21
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Sản phẩm từ nhựa: Cặp còng, thẻ nhân viên, túi linon….
Sản phẩm từ vải: Giày đi mưa, Áo mưa các loại vv …
Với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, đa dạng về mẫu mã và nhiều
về số lượng của thị trường. Công ty cổ phần nhựa HyPhen đó không ngừng
cải tiến công tác quản lý, đầu tư chất xám, công nghệ, thiết bị, mở rộng sản
xuất vv…nhằm nâng cao uy tín của thương hiệu HyPhen, đáp ứng đến mức
cao nhất yêu cầu của thị trường. Mở rộng thị trường trên khắp cả nước và
tương lai sẽ đưa các sản phẩm của mình ra trị trường quốc tế là chiến lược
phát triển của Công ty. Hiện nay Công ty đó có 15 đại lý trên cả nước và các
Các loại vốn
So sánh %
2006/2005 2007/2006 2008/2007
Vốn cố định 118,7 117 122.3
Vốn lưu động 121 119,5 112,9
Tổng 119 117 121,2
Nguồn : Từ phòng kế toán
Vốn của Công ty đã tăng dần, có thể nói doanh nghiệp đó sản xuất
kinh doanh có lãi và đó có tích lũy để tái sản xuất, đầu tư trang thiết bị, tài
sản cố định….
Nghiên cứu số liệu của Công ty qua 4 năm có thể thấy tình hình sản xuất
kinh doanh của Công ty đó có những chuyển biến đáng kể,thể hiện ở một số
chỉ tiêu chính sau.
Biểu 3: Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty qua 4 năm.
TT Chỉ tiêu đvị
Thực hiện các năm
2005 2006 2007 2008
1 Giá trị sản lượng Trđ 3.839 4.226 6.294 10.916
2 Tổng doanh thu Trđ 6.860 9.016 12.494 16.430
3 Doanh thu chính Trđ 5.371 8.652 10.190 14.430
Sinh viên: Cấn Xuân Hào Lớp: K38A QTKDTM công thương TW
23
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
TT Chỉ tiêu đvị
Thực hiện các năm
2005 2006 2007 2008
4 Nộp ngân sách Trđ 260.4 308 419 457
5 Sản phẩm chính
- Túi hồ sơ 1000c 2.200 2.088 1.744 2.370
- Dụng cụ văn phòng '' 253 315 458 -
- Phó giám đốc do tổng giám đốc Công ty bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen
thưởng, kỷ luật theo đề nghị của tổng giám đốc Công ty. Phó giám đốc là
người giúp việc giám đốc điều hành một hoặc một số lĩnh vực của Công ty
theo phân công và ủy quyền của giám đốc, chịu trách nhiệm trước giám đốc
và pháp luật về nhiệm vụ giám đốc phân công ủy quyền.
- Kế toán trưởng do tổng giám đốc Công ty bổ nhiệm, miễn nhiêm, khen
thưởng, kỷ luật theo đề nghị của Công ty. Kế toán trưởng là người giúp giám
đốc chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác kế toán, thống kê của Công ty và các
nhiệm vụ quyền hạn theo quy định của pháp luật
- Các đơn vị phòng ban chuyên môn, nghiệp vụ có chức năng tham mưu
cho Giám đốc trong việc quản lý và điều hành công việc.
(Trích điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty cổ phần nhựa HyPhen )
Sinh viên: Cấn Xuân Hào Lớp: K38A QTKDTM công thương TW
25