Báo cáo sáng kiến Phương pháp dạy học văn bản nghị luận ở trường Trung học cơ sở theo đặc trưng thể loại - Pdf 26

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012- 2013
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở khoa học
Nhà văn Macxim Gorki khẳng định: “ Văn học là nhân học”. Thật vậy, môn
Ngữ văn ở cấp THCS thuộc môn khoa học xã hội ,mục tiêu trọng tâm của môn ngữ
văn là giáo dục tư tưởng, tình cảm, lối sống, bồi dưỡng về tâm hồn, nhân cách cho học
sinh. Hơn nữa, môn Ngữ văn còn giúp hình thành ở học sinh tình yêu thương gia đình,
cộng đồng, quê hương, đất nước. Do vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học nói
chung và việc đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng luôn được sự
quan tâm của ngành GD&ĐT cũng như của đội ngũ giáo viên tâm huyết với bộ môn
này.
Một trong những mục tiêu của đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ
thông được nêu trong chỉ thị số 14/2001/CT- TTg ngày 11- 6- 2011 của Thủ tướng
chính phủ về việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông thực hiện nghị quyết số
40/2000/QH10 ngày 9- 12- 2000 của Quốc hội là: “ Đổi mới phương pháp dạy học,
phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự học của học sinh”. Đồng thời trong Chiến
lược phát triển của giáo dục 2001- 2010 của Đảng đặt vấn đề: “ Đổi mới và hiện đại
hóa phương pháp giáo dục , chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động thầy giảng, trò
ghi sang hướng dẫn người đọc chủ động tư duy trong quá trình tiếp thu tri thức; dạy
cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư
duy phân tích, tổng hợp; phát triển được năng lực của mỗi cá nhân: tăng cường tính
chủ động, tính tự chủ của học sinh”. Như thế, việc đổi mới phương pháp dạy học đã
và đang là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, trong đó có đổi mới phương
pháp dạy học bộ môn Ngữ văn. Bởi vì khoa học về phương pháp dạy học văn là
những chỉ dẫn sư phạm có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng đến kết quả giáo dục thẩm
mĩ, góp phần hình thành nhân cách cho học sinh.
Nguyễn Thị Hòa -Trường THCS Tuyết Nghĩa- Quốc Oai- Hà Nội
1
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012- 2013
Từ trước đến nay, hệ thống các phương pháp dạy học môn Ngữ văn đã khá

Với nhận thức trên, tôi chọn và nghiên cứu đề tài “ Phương pháp dạy học văn
bản nghị luận ở trường Trung học cơ sở theo đặc trưng thể loại”, tôi hi vọng sẽ đóng
góp một phần nhỏ vào việc hoàn thiện lí luận dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường
THCS, đặc biệt là dạy các văn bản nghị luận.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Việc nghiên cứu đề tài “Phương pháp dạy học văn bản nghị luận ở trường Trung
học cơ sở theo đặc trưng thể loại” nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học thể
loại văn nghị luận nói riêng và đổi mới phương pháp dạy học nói chung.
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Tìm hiểu những vấn đề lí luận về thể loại văn nghị luận
2. Tìm hiểu thực trạng của việc dạy học văn nghị luận ở trường Trung học cơ sở
3. Đề xuất những định hướng, phương pháp dạy học văn bản nghị luận theo đặc
trưng thể loại.
IV. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu: Dạy học văn bản nghị luận ở trường Trung học cơ sở
theo đặc trưng thể loại.
2. Phạm vi nghiên cứu: Các văn bản nghị luận trong chương trình sách giáo khoa
Ngữ văn ở trường Trung học cơ sở
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
2. Phương pháp phân tích- tổng hợp
3. Phương pháp khảo sát thống kê
4. Phương pháp thực nghiệm
Nguyễn Thị Hòa -Trường THCS Tuyết Nghĩa- Quốc Oai- Hà Nội
3
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012- 2013
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
Viện sĩ Serbrina cho rằng: “ Tất cả cái rắc rối và phức tạp của việc dạy văn
trong nhà trường bắt nguồn từ chính đặc trưng của môn Văn”. Từ trước đến nay, khi

Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương
Chu, cứ đóng yên đô thành nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận
ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi. Trẫm rất đau xót về
việc đó, không thể không dời đổi” ( Trích Chiếu dời đô- Ngữ văn 8- Tập hai)
Có thể khẳng định, đây là một đoạn văn nghị luận đặc sắc. Trong đoạn văn, Lí
Công Uẩn tập trung nêu lên quan điểm của mình về việc dời đô- một vấn đề hệ trọng
lớn lao, có ảnh hưởng đến vận mệnh của một quốc gia, một dân tộc. Để thuyết phục
mọi người đồng tình theo quan điểm ấy, Lí Công Uẩn đã nêu tiền đề của việc dời đô
bằng cách đưa dẫn chứng về những lần dời đô của các triều đại Trung Hoa. Kết quả
của những lần dời đô đó là “ vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh”. Tiếp đó, tác giả
đã củng cố tiền đề bằng cách đưa ra những dẫn chứng về việc không dời đô của hai
nhà Đinh, Lê : “khiến cho triều đại không được lâu bền , số vận ngắn ngủi, trăm họ
phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi”. Những lí lẽ ấy đã tác động mạnh mẽ
đến đến lí trí của người nghe, bên cạnh đó nhà vua còn bộc lộ tình cảm chân thành của
mình “ Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi”. Vì thế, cả lí và tình, ai
cũng hiểu được rằng dời đô là một việc làm cần thiết.
Ví dụ 2: “ Mặt trời nhú lên dần dần, rồi lên cho kì hết. Tròn trĩnh phúc hậu như lòng
đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn. Quả trứng hồng hào thăm thẳm và đường bệ đặt
lên một mâm bạc đường kính mâm rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọc trai nước
biển hửng hồng. Y như một mâm lễ phẩm tiến ra từ trong bình minh để mừng cho sự
trường thọ của tất cả những người chài lưới trên muôn thuở biển Đông. Vài chiếc
Nguyễn Thị Hòa -Trường THCS Tuyết Nghĩa- Quốc Oai- Hà Nội
5
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012- 2013
nhạn mùa thu chao đi chao lại trên mâm bể sáng dần lên cái chất nén bạc. Một con hải
âu bay ngang là là nhịp cánh…” ( Cô Tô- Ngữ văn 6 -Tập 2)
Trên đây là đoạn văn dùng hư cấu, tưởng tượng để miểu tả lại khung cảnh buổi
sáng trên đảo Cô Tô. Bức tranh thiên nhiên ấy được khắc họa bằng những hình ảnh so
sánh với trí tưởng tượng phong phú, sinh động. Tất cả đều là những hình ảnh chân
thực, tiêu biểu cho vẻ đẹp thiên nhiên trên biển vào lúc bình minh kết hợp với tài quan

đến vẻ đẹp về hình thức nghệ thuật, dạy văn nghị luận chưa đúng với đặc trưng của
thể loại. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình giáo dục trí tuệ, đạo đức, thẩm
mĩ…cho học sinh. Bên cạnh đó, đa số học sinh chưa hứng thú đối với những giờ học
văn bản nghị luận. Nhiều em cho rằng việc học văn bản nghị luận vừa khó hiểu, vừa
khô khan, trừu tượng nên chưa tự giác soạn bài, chưa tự giác tìm hiểu bài. Đặc biệt
với học sinh khối 6 và khối 7 các em đang quen cảm thụ các tác phẩm mang tính hư
cấu tưởng tượng như truyện dân gian, truyện ngắn. Hơn nữa, tư duy lập luận của học
sinh còn non yếu, chưa thật logic nên cảm thấy ngại học các văn bản nghị luận.
Thiết nghĩ, những hạn chế trên do một số nguyên nhân chủ yếu sau:
Nguyên nhân thứ nhất là do một số giáo viên còn có những quan điểm phiến
diện về văn học trong nhà trường, chưa thấy hết được vị trí, vai trò của văn nghị luận
trong chương trình cho nên quá trình đầu tư để thiết kế giáo án còn hạn chế. Mặt khác
một số giáo viên còn chưa thực sự nắm vững đặc trưng thể loại nghị luận nên chưa
xác định được phương pháp dạy học, ngại đổi mới phương pháp dạy học…Những
nguyên nhân này trực tiếp tác động đến việc khó hiểu bài của học sinh, từ đó dẫn đến
biểu hiện chán học các văn bản nghị luận.
Nguyên nhân thứ hai là do khoảng cách ngày càng rộng giữa văn hóa ngoài xã
hội với một số văn bản nghị luận cổ được học trong nhà trường, giữa nội dung giảng
dạy và tâm lí học sinh. Xã hội càng biến động và biến đổi càng làm lộ ra khoảng cách
đó.
Nguyễn Thị Hòa -Trường THCS Tuyết Nghĩa- Quốc Oai- Hà Nội
7
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012- 2013
Nguyên nhân thứ ba là do học sinh đang quen được rèn luyện về kĩ năng quan
sát, tưởng tượng nên gặp khó khăn hơn khi học văn nghị luận. Vì văn nghị luận có đòi
hỏi cao hơn về khả năng lập luận, tính khoa học và tính logic. Nếu học sinh không
được sự hướng dẫn tận tình, đúng phương pháp của giáo viên thì sự tiếp nhận kiến
thức của các em sẽ rất hạn chế.
Nguyên nhân thứ tư là do tình trạng học sinh chưa chăm học nên không đọc kĩ
văn bản nghị luận. Một số học sinh còn soạn bài một cách qua loa, chưa đọc văn bản

Sự giàu đẹp của Tiếng Việt Đặng Thai Mai
Đức tính giản dị của Bác Hồ Phạm Văn Đồng
Ý nghĩa văn chương Hoài Thanh
Chiếu dời đô Lí Công Uẩn
Hịch tướng sĩ Trần Quốc Tuấn
Nước Đại Việt ta( trích Bình Ngô đại cáo) Nguyễn Trãi
Bàn luận về phép học Nguyễn Thiếp
Thuế máu( trích Bản án chế độ thực dân Pháp) Nguyễn Ái Quốc
Đi bộ ngao du ( tích Ê-min hay Về giáo dục) Ru-xô
Bàn về đọc sách Chu Quang Tiềm
Tiếng nói của văn nghệ Nguyễn Đình Thi
Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới Vũ Khoan
Chó Sói và Cừu trong thơ ngụ ngôn của La H. Lit-ten
Nguyễn Thị Hòa -Trường THCS Tuyết Nghĩa- Quốc Oai- Hà Nội
9
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012- 2013
9
Phông-ten
Việc nắm được đặc trưng của thể loại nghị luận là điều cần thiết để từ đó hình
thành, thiết kế xây dựng các phương pháp dạy học đạt hiệu quả, phù hợp với đặc trưng
thể loại.
3.1.2.Xác định hệ thống luận điểm của văn bản nghị luận
Luận điểm là quan điểm tư tưởng của tác giả được nêu trong văn bản. Luận
điểm là điểm tựa lớn nhất của một văn bản nghị luận. Nó thường được thể hiện dưới
hình thức tiêu đề bài văn hoặc những câu văn có tính chất khẳng định hay phủ định.
Thông thường trong một văn bản nghị luận, luận điểm là một hệ thống bao gồm luận
điểm chính và luận điểm phụ. Luận điểm chính là luận điểm tổng quát bao trùm toàn
bài, mang tầm vóc tư tưởng (chủ đề). Luận điểm chính được triển khai bằng các luận
điểm phụ. Luận điểm chính được dùng làm kết luận của bài, là cái đích của bài viết.
Luận điểm phụ là luận điểm bộ phận của luận điểm chính . Luận điểm phụ được dùng

của “ nước Đại Việt ta” trên cơ sở các yếu tố văn hiến, phong tục tập quán, cương vực
lãnh thổ, lịch sử, chủ quyền, cuối cùng khái quát bằng một nhận định: “ Việc xưa xem
xét- Chứng cứ còn ghi”.
Trong văn bản Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, Hồ Chí Minh đã ví lòng
yêu nước của nhân dân như “các thứ của quý” “ có khi được trưng bày trong tủ kính,
trong bình pha lê, có khi được cất dấu kín đáo trong rương trong hòm”. Người còn ví
sức mạnh của lòng yêu nước như những làn sóng mãnh liệt “ nhấn chìm tất cả lũ bán
nước và lũ cướp nước”. Chứng tỏ sự so sánh giàu hình ảnh như trên đã làm cho cách
diễn đạt trở nên sinh động, gợi cảm, gây ấn tượng mạnh đối với người đọc, người
nghe.
Hơn nữa, khi dạy văn bản nghị luận cần chú ý đến ngôn ngữ. Văn nghị luận chủ
yếu là văn lí lẽ nên lời văn phải chính xác, trong sáng, giàu thông tin. Văn nghị luận
Nguyễn Thị Hòa -Trường THCS Tuyết Nghĩa- Quốc Oai- Hà Nội
11
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012- 2013
có đan xen yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm. Ngôn từ trong văn nghị luận được sử dụng
sao cho nội dung khái niệm hiện lên trên bề mặt. Ví dụ: “ Văn học là nhân học”, “ Nhà
văn là kĩ sư tâm hồn”
3.2.Các phương pháp dạy học văn bản nghị luận
Ngoài việc tuân thủ các phương pháp dạy học nói chung, giáo viên cần biết linh
hoạt sử dụng các phương pháp dạy học riêng phù hợp với đặc trưng thể loại.
3.2.1. Phương pháp đọc diễn cảm
Việc xác định đặc trưng thể loại và kiểu văn bản gắn liền với việc xác định
giọng đọc, gắn liền với những định hướng có tính quy ước của nguyên tắc khi khai
thác giá trị văn bản. Hiệu quả của việc đọc văn bản không chỉ nhằm tới mục đích cảm
thụ, hiểu tác phẩm nghệ thuật nói chung mà còn góp phần định hình kiến thức cơ sở
cho các phân môn Tiếng Việt, Tập làm văn và phát triển các kĩ năng khác của hoạt
động học tập. Như vậy phương pháp đọc diến cảm chỉ phát huy tác dụng khi nó phù
hợp với đặc trưng của thể loại. Muốn học sinh hiểu đúng tác phẩm thì phải đọc đúng
giọng điệu của từng văn bản.

Việc đọc văn nghị luận trung đại đúng với giọng điệu của từng thể văn nói trên
không phải là điều đơn giản, dễ làm. Nó phụ thuộc vào năng khiếu, chất giọng của
người đọc. Tùy từng văn bản, từng điều kiện mà giáo viên có thể tổ chức đọc theo các
hình thức như giáo viên đọc, học sinh đọc, cho học sinh nghe nghệ sĩ đọc qua các
phương tiện kĩ thuật như đài hoặc phần trình chiếu có chèn âm thanh do giáo viên
chuẩn bị.
Mặc dù cũng mang những nét đặc trưng chung của thể văn nghị luận song văn
bản nghị luận hiện đại có những điểm khác biệt hẳn so với văn bản nghị luận trung
đại. Do đó, cách đọc văn bản nghị luận hiện đại cũng sẽ khác cách đọc văn bản nghị
luận trung đại.
Tác giả của những tác phẩm nghị luận hiện đại thường là những chính khách,
những người giữ trọng trách trong xã hội, nhà văn, nhà mĩ học. Nội dung của văn bản
Nguyễn Thị Hòa -Trường THCS Tuyết Nghĩa- Quốc Oai- Hà Nội
13
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012- 2013
nghị luận hiện đại đề cập đến nhiều vấn đề vừa mang tính thời sự vừa mang tính khoa
học lâu dài trong xã hội hiện đại. Dù bàn luận đến những vấn đề xã hội chính trị hay
mĩ học thì mục đích của các tác giả là hướng sự quan tâm của đông đảo người đọc đến
những vấn đề có ý nghĩa quan trọng và thiết thực đối với đời sống cá nhân và cộng
đồng, từ đó có những nhận thức đúng đắn và hành động tích cực trong hoạt động thực
tiễn của mình. Vì vậy văn nghị luận hiện đại trở thành một trong những phương tiện
tuyên truyền, học tập, cổ vũ chính trị tích cực cho mọi người mang đậm dấu ấn của tác
giả. Lời văn trong văn bản nghị luận hiện đại có sự kết hợp giữa trình bày nhận thức
khách quan về đối tượng với bày tỏ nhiệt tình của tác giả, thậm chí đan xen đáng kể
lời miêu tả và tự sự. Ngôn từ trong các bài nghị luận hiện đại mang đậm tính chuyên
môn, chuyên ngành nhưng không hoàn xa lạ với bạn đọc. Tính thuyết phục không chỉ
ở sự sắc sảo của nhận định, quan điểm được trình bày mà còn ở nhiệt tình của người
viết đối với vấn đề đặt ra với công chúng độc giả. Giọng điệu chung của nhiều bài
nghị luận hiện đại là sôi nổi, chân thành và tin tưởng. Cách đọc diễn cảm văn học nghị
luận hiện đại là đọc rõ ràng, mạch lạc, chất giọng khỏe. Song lưu ý khi đọc cần thể

- Tác phẩm gần gũi hoặc khác biệt.
- Cùng thời hoặc khác thời điểm sáng tác.
Nhóm 2:
Ngoài tác phẩm: Thời đại ( sự kiện thật), cuộc sống ( người thật), tác giả ( hoàn
cảnh sáng tác, cảm hứng sáng tác ).
Nhóm 3:
Trong tác phẩm: quan hệ từ, quan hệ câu, quan hệ hình tượng, quan hệ kết cấu,
quan hệ sự kiện chi tiết.
Ví dụ: Khi dạy văn bản Nước Đại Việt ta ( trích Bình Ngô đại cáo ) của Nguyễn
Trãi, nhằm giúp học sinh làm sáng tỏ chân lí vầ sự tồn tại độc lập, chủ quyền của dân
tộc Đại Việt. Vận dụng nhóm 1 để liên hệ so sánh, giáo viên có thể đưa ra câu hỏi:
Bài thơ Sông núi nước Nam ( Lí Thường Kiệt ?) được coi là bản tuyên ngôn độc lập
Nguyễn Thị Hòa -Trường THCS Tuyết Nghĩa- Quốc Oai- Hà Nội
15
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012- 2013
đầu tiên của nước ta để khẳng định độc lập chủ quyền dân tộc. Hãy so sánh với Bài
thơ Sông núi nước Nam để thấy rõ Nước Đại Việt ta ( Nguyễn Trãi) có những điểm
mới nào? Sau khi đối chiếu so sánh học sinh nhận thấy được điểm khác biệt cơ bản là:
Ý thức về nền độc lập dân tộc ở bài thơ Sông núi nước Nam ( Lí Thường Kiệt ?)
được xác định trên hai phương diện lãnh thổ ( sông núi nước Nam) và chủ quyền ( vua
Nam ở). Còn ở Nước Đại Việt ta- trích Bình Ngô đại cáo ( Nguyễn Trãi), ý thức dân
tộc được phát triển cao hơn, sâu sắc và toàn diện hơn. Ngoài hai yếu tố lãnh thổ và
chủ quyền, ý thức độc lập dân tộc còn được mở rộng, bổ sung bằng 3 yếu tố mới đầy ý
nghĩa: Nước ta có nền văn hiến lâu đời, có phong tục tập quán riêng, có truyền thống
lịch sử oanh liệt bất cứ kẻ xâm lược nào vào nước ta đều bị sức mạnh nhân nghĩa của
chúng ta làm cho đại bại. Như vậy, ý thức dân tộc ở Nước Đại Việt ta- trích Bình Ngô
đại cáo ( Nguyễn Trãi) là sự tiếp nối và phát triển ý thức dân tộc ở Sông núi nước
Nam ( Lí Thường Kiệt ?), Nguyễn Trãi đã ý thức được đó là năm yếu tố cơ bản, hạt
nhân để xây dựng chủ quyền dân tộc (sau đó giáo viên phân biệt rõ chữ “đế” và chữ
“vương” để thấy được ý thức dân tộc và niềm tự hào dân tộc của tác giả).

tự do tư tưởng, tự do bộc lộ những nhận thức trực tiếp của mình. Những tín hiệu phản
hồi được báo lại cho giáo viên kịp thời trong khi lên lớp. Giờ dạy văn, học văn có
được không khí tâm tình, trao đổi thân mật về những vấn đề cuộc sống. Mối liên hệ
giữa tác giả- giáo viên- học sinh được hình thành ngay trong lớp học, điều mà các giờ
dạy theo phương pháp diễn giải khó thực hiện được. Đây không phải là phương pháp
mới lạ, từ lâu nó đã được áp dụng trong giảng dạy. Phương pháp đàm thoại gợi mở
yêu cầu giáo viên phải xây dựng được một hệ thống câu hỏi gợi mở, trong đó kết quả
của câu hỏi này là điều kiện để giải quyết các câu hỏi tiếp theo. Mỗi câu hỏi là điểm
tựa có tính chất chi tiết và bộ phận hướng vào nội dung cơ bản của văn bản. Quá trình
học sinh giải quyết các câu hỏi là quá trình học sinh tự hình thành tri thức cho mình.
Bằng hệ thống các câu hỏi đàm thoại gợi mở, hoạt động giữa thầy và trò sẽ nhịp
nhàng hơn.
Nguyễn Thị Hòa -Trường THCS Tuyết Nghĩa- Quốc Oai- Hà Nội
17
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012- 2013
Đối với văn bản nghị luận, tính logic lập luận rất cao cho nên sử dụng phương
pháp đàm thoại gợi mở để học sinh tìm hiểu, phát hiện ra các luận điểm và trình tự lập
luận là rất phù hợp. Hệ thống câu hỏi được xây dựng tương ứng với ba hoạt động lớn:
Đọc –hiểu cấu trúc văn bản, đọc- hiểu nội dung văn bản và đọc- hiểu ý nghĩa văn bản
và cần đảm bảo các yêu cầu như: Học sinh phát hiện ra các luận điểm của văn bản,
khai thác chi tiết các giá trị của văn bản, tổng kết những giá trị tư tưởng và nghệ thuật
của văn bản.
Ví dụ: Văn bản Bàn về phép học của Nguyễn Thiếp, giáo viên có thể yêu cầu
học sinh xác định bố cục của văn bản bằng câu hỏi: Hãy tìm luận đề của văn bản và
xác định hệ thống luận điểm? Cùng với sự chuẩn bị bài của mình và định hướng của
giáo viên, học sinh có thể phát hiện ra luận đề, luận điểm của văn bản như sau:
-Luận đề của văn bản: Bàn về phép học
- Luận điểm:
+ Mục đích chân chính của việc học.
+ Phê phán những lệch lạc, sai trái trong học tập

của học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức không phải lúc nào giáo viên cũng chủ
động hỏi, học sinh trả lời. Giáo viên cần tạo cho học sinh có cơ hội được hỏi lại các
vấn đề mà mình còn chưa hiểu hoặc thể hiện điều mình tâm đắc nhất bằng các câu hỏi
để các bạn cùng tranh luận, tìm hiểu. Từ đó vừa phát huy được năng lực cảm thụ của
học sinh, vừa phát huy được tính chủ động sáng tạo trong hoạt động lĩnh hội kiến
thức. Vấn đề quan trọng là khi sử dụng phương pháp này trong giờ dạy văn, người
giáo viên phải tính toán kĩ lưỡng, bảo đảm cho giờ dạy văn không bị biến chất, nhằm
làm sao cho học sinh được phát triển cân đối cả về trí tuệ lẫn tâm hồn.
3.2.4. Phương pháp giảng bình
Có thể nói giảng bình là phương pháp có tính đặc thù của cảm thụ và truyền thụ
văn thơ. Lời bình văn ( nói hay viết) đều có đặc trưng chung là mang màu sắc cảm xúc
Nguyễn Thị Hòa -Trường THCS Tuyết Nghĩa- Quốc Oai- Hà Nội
19
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012- 2013
và tính chủ quan của đánh giá thẩm mĩ. Người giáo viên thông qua sự hiểu biết và
rung cảm về văn bản có nhiệm vụ làm sao cho học sinh cũng rung cảm và hiểu biết về
văn bản một cách đúng đắn, sâu sắc. Song điều quan trọng nhất là phải tạo dần dần
từng bước cho học sinh một ấn tượng, một nhận thức hoàn chỉnh về tác phẩm. Nếu sa
vào những chi tiết, những điểm vụn vặt thì người giáo viên sẽ làm cho giá trị của bài
văn bị giảm sút cùng với phá vỡ chỉnh thể của nó. Độ sâu của lời bình chính là ở chỗ
nêu ra được vấn đề có ý nghĩa khái quát về tư tưởng nghệ thuật hay không. Muốn có
một lời bình sâu gọn, người giáo viên nhất định phải ngẫm nghĩ nhiều. Chính những
lời bình sâu gọn sẽ làm cho giờ giảng dạy văn trên lớp tiết kiệm thời gian và lắng
đọng, khêu gợi sức suy tưởng của học sinh, lượng thông tin trong giờ giảng được nâng
lên rõ rệt.
Như đã khẳng định, văn nghị luận được làm nên bởi sức mạnh chủ yếu là lí trí
của người viết với mục đích là tác động vào lí trí của người cần được thuyết phục.
Thực tế cho thấy, những bài văn nghị luận hay luôn luôn là những bài văn được viết ra
không chỉ bằng sự sáng suốt mạch lạc, chặt chẽ của trí tuệ mà còn bằng tất cả nhiệt
tình, sự tha thiết của tâm hồn. Nhiều bài văn nghị luận có những đoạn văn rất tinh tế,

bản có trình tự lập luận chặt chẽ, logic. Tuy nhiên để xác định hệ thống luận điểm cho
văn bản đối với học sinh lớp 7 là một việc làm không phải đơn giản. Cho nên qua
phần hướng dẫn tìm hiểu văn bản cùng với sự chuẩn bị bài ở nhà của học sinh, giáo
viên hướng cho học sinh xây dựng hệ thống luận điểm thông qua sơ đồ như sau:

Nguyễn Thị Hòa -Trường THCS Tuyết Nghĩa- Quốc Oai- Hà Nội
21
Giản dị trong lời nói, bài viếtGiản dị trong lối sống
Đức tính giản dị của Bác Hồ
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012- 2013
Văn bản Nước Đại Việt ta là phần đầu của tác phẩm Bình Ngô đại cáo của
Nguyễn Trãi, nêu lên luận đề chính nghĩa với hai nội dung chính: nguyên lí nhân
nghĩa và chân lí về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc Đại Việt. Từ đó để
khẳng định sức mạnh của chính nghĩa, sức mạnh của độc lập dân tộc. Sau khi đọc, tìm
hiểu văn bản, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh khái quát trình tự lập luận của văn
bản bằng sơ đồ thay cho phần tổng kết. Có thể tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm
để vẽ sơ đồ hoặc có thể giao bài tập về nhà yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ tư duy, yêu cầu
đại diện nhóm hoặc cá nhân trình bày về nội dung sơ đồ tư duy về bài học. Trên cơ sở
đó giáo viên sẽ đưa ra nhận xét, củng cố về hệ thống luận điểm của văn bản:
Nguyễn Thị Hòa -Trường THCS Tuyết Nghĩa- Quốc Oai- Hà Nội
22
Trong sinh
hoạt
Trong lối sống Dùng từ của quần
chúng nhân dân
Mọi người hiểu và
nhớ được
Bữa
ăn
Nhà


Văn
hiến
lâu
đời

Lãnh
thổ
riêng

Phong
tục tập
quán
riêng
Lịch sử
riêng
Chế độ
chủ
quyền
riêng
Sức mạnh của nhân nghĩa
Sức mạnh của độc lập dân tộc
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012- 2013
những tri thức nào? Bài học đã gieo vào tâm hồn học trò những kĩ năng sống, những
vẻ đẹp nào để phát triển thẩm mĩ và nhân cách sống? Những suy nghĩ đó chính là
động lực để mỗi người giáo viên không ngừng đổi mới về phương pháp tổ chức hoạt
động dạy và học, cần phải trau dồi và cố gắng nhiều hơn để mỗi giờ dạy học văn trở
nên nhẹ nhàng, hấp dẫn đối với người học. Cũng với tinh thần ấy, tôi đã lựa chọn
nghiên cứu và ứng dụng đề tài “Phương pháp dạy học văn bản nghị luận ở trường
trung học cơ sở theo đặc trưng thể loại” mong muốn góp “một hạt cát nhỏ” cùng đồng

kiến trình bày quan điểm trước lớp, trước đông người. Đặc biệt học sinh thuộc được
nhiều câu văn tiêu biểu, đoạn trích hay trong các tác phẩm nghị luận đặc sắc như
Chiếu dời đô (Lí Công Uẩn), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn), Nước Đại Việt ta
(Nguyễn Trãi) Không chỉ dừng lại ở đó, học sinh còn có nhu cầu mở rộng hiểu biết
về các điển tích điển cố trong văn học, tích hợp văn học sử để cảm thụ sâu sắc cái hay
cái đẹp của những áng văn nghị luận được học trong chương trình ngữ văn trung học
cơ sở.
Tóm lại, những thành công bước đầu ấy giống như những cơn gió thổi bùng
thêm ngọn lửa say mê tìm tòi và sáng tạo trong mỗi người làm nghề “trồng người”
như chúng tôi. Đồng thời cũng là cảm hứng để người giáo viên dạy môn Ngữ văn tìm
ra những phương pháp dạy học phù hợp với đặc trưng thể loại giúp học sinh học tập
hiệu quả nhất môn học này.
KẾT LUẬN
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói rằng văn học nghệ thuật là một “vũ
khí vô song”. Đồng thời trong nhiều văn kiện quan trọng, Đảng ta đã nói đến vai trò
cực kì quan trọng của văn học nghệ thuật trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Thật vậy, với khả năng riêng của những áng văn bản nghị luận được các tác giả sáng
Nguyễn Thị Hòa -Trường THCS Tuyết Nghĩa- Quốc Oai- Hà Nội
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status